Chút lưu lại

Go Back   Chút lưu lại > Đời Sống - Học Hỏi/Thắc Mắc/Giải Đáp > Tử Vi - Khoa Học Huyền Bí
Trang nhà Phòng ảnh Thơ mới Download mViet Lưu bút

Tử Vi - Khoa Học Huyền Bí
Dành cho các bạn thích nghiên cứu về các thuật bói toán, tử vi, hoặc những vấn đề thuộc về tâm linh.

Trả lời
 
Thread Tools Display Modes
Old 05-05-2010, 04:01 PM   #17
Uất Kim Hương's Avatar
Uất Kim Hương
Senior Member

 
Join Date: Nov 2009
Đã Cảm ơn: 4,189
Được cảm ơn: 3,170 lần/2,017 bài
Blog Entries: 27
Status:Uất Kim Hương is offline
 
Uất Kim Hương is on a distinguished road

Default

NHỮNG NÉT TƯỚNG TRÊN THÂN MÌNH

a) Cổ

Theo quan điểm của á đông cổ được coi là rường cột của con người nên xét 1 cách tổng quát thì cổ nảy nở,tròm đầy ,cứng mạnh là tướng tốt ,chủ về phú quí.Cổ mảnh dẻ nghiêng lệch chủ về chết yểu.Người mập cổ không nên dài ,người gầy cổ không được ngắn .đi ngược lại với tổng tắc đó,con người sẽ gặp nhiều điều không may.

Tuy nhiên ,sự dài ngắn cũng phải tới giới hạn nào đó .Nếu cổ dài như cổ cò,ngắn như cổ heo thì lại bất hợp cách.
Bàn về sự lớn nhỏ của cân xứng cũng vậy.Cổ quá lớn,trông như cái cột,lấn lướt cả thân mình, hoặc quá nhỏ như cổ bầu rượu đều là liệt cách .Một điểm cần lưu ý là dù cổ lớn hay nhỏ ,dài hay ngắn đều không nên lộ hầu vì lộ hầu chủ về gian truân trì trệ.

Về thế cổ người ta phân biệt :
-Cổ nhỏ ,dài : con người bần tiện ,nếu lại thêm lệch lạc nữa thì tính nết số mạng không ra gì
-Cổ lớn và mập: không nên có tàn nhang và tạp sắc .Nếu có khuyết điểm này thì tính neat bỉ ổi ,tầm thường vận mạng không được hanh thông
-Thế cổ như hướng về phía trước nhưng không được quá lộ liễu ,chủ về tính nết hòa ái phong nhã
-Thế của cổ hướng về sau chủ về cá tính nhu nhược ,số kiếp hay gặp sóng gió bất ngờ.
-Cổ tròn dài như cổ hạc :dễ phát nhưng chung cuộc không được an lành .Tuy nhiên nếu ,mập và cả đầu tương xứng như chim yean thì là tướng đại phú quí

b) Lưng

Tướng lưng tốt phải hội đủ các điều kiện sau nay:
-đầy đặn
-Rắn chắc
-Cân xứng
-Nở nang
Có được những biểu hiện trên thì nội tạng ổn cố ,ít tai họa ,được hưởng phúc lộc
Trái lại lưng mỏng ,thế yếu,lưng cong v.v... đều là các loại tướng xấu,nội tạng không ổn định ,tinh thần suy nhược ,chone6n Ngũ quan ,Lục phủ có tốt cũng khó mà phát huy ưu điểm của mình hầu đưa đến thành công trong thực tế.

c) Eo lưng

Đó là tiếp giáp với phần dưới bả vai chạy dài theo 2 bên cạnh sườn xuống đến tận mông .Phía trước của eo lưng là bụng liên quan mật thiết với nhau. Sách thần tướng toàn biên đã rất có lí khi nói rằng :"Eo lưng là thành quách của bụng. Mọi sự an nguy của bụng đều dựa vào eo lưng cả"
Bởi vậy trong tướng học á đông eo lưng phải ngay thẳng rộng dày .Kẻ có eo lưng như vậy là kẻ có phúc lộc. Eo lưng hẹp, lép, mảnh mai là tướng kẻ đa thành đa bại ,thân thể suy nhược Eo lưng rộng rãi bằng phẵng tương ứng với mông là eo lưng thượng cách chủ về thọ Eo lưng cong (hõm xuống ,lồi lên) hẹp lệch không tương xứng với mông là tướng hạ cách ,chủ về tính nết nhu nhược, khó thành đạt.

Đàn ông tối kị eo lưng thắt đáy lưng ong .đàn bà nếu eo lưng quá nhỏ và bó lại ở phần giữa ,đường tử tức có rất nhiều điểm bất lợi
Viên Liễu Trang đã nói :"đàn bà thân nhẹ ,thắt đáy lưng ong, nhan sắc mĩ miều, lấy làm thiếp thì được chứ chẳng nên lấy làm vợ chính thức vì lẽ kể trên.

d)Bụng

Bụng cần phải tròn đầy và hướng xuống, hình dáng thanh nhã và chắc chắn.Bởi vậy tướng học có câu:"Bụng tròn, mạnh mẽ, hướng xuống là tướng của kẻ phú quý trường thọ."
Đem quan niệm Âm dương áp dụng vào thân thể, bụng được xếp vào loại âm, ngực xếp vào loại dương.Âm phải hướng xuống mới hợp vị thế. Cho nên, thế bụng hướng lên là kẻ ngu đần, da bụng mõng lắm bệnh nội tạng.

đ) Ngực

Bụng và ngực được coi là phần chứa đựng thần khí của toàn thân,kho đựng của lục phủ ngũ tạng, ngực ngay thẳng rộng rãi chắc chắn thì thần khí an hoà, phú quý khả kỳ, trí cao tài lớn. Ngực hẹp, lệch lạc thì bụng cũng ảnh hưởng theo, nên thần khí bế tắc, nội tạng nghiên lệch: tâm tình ngu độn thất thường khó có thể trường thọ, mưu cầu công danh cũng khó thành đạt.
Trên khu của ngực có vú. Vú đối với cá tính và vận mạng con người có vai trò khá quan trọng. Dưới nhãn quan tướng học, vú không nên hướng lên, mà núm vú cần ngang hoặc chúc xuống, có màu sắc tươi hồng mới được gọi là cát tướng chủ về khoẻ mạnh, nhiều con và phú quý.Núm vú dài là tướng kẻ bần cùng, không nên mưu cầu công danh, phú quý lam chi vô ích.
Về cách xem tướng ngực, Thần tướng toàn biên có đưa ra phương thức so sánh với các ý nghĩa như sau:
  • Ngực dài hơn khuôn mặt chút đỉnh,hoặc bằng là tướng người trí cao, lộc hậu.
  • Ngực ngắn hơn khuôn mặt chủ về trí thô, tài mọn, phúc mõng.
e) Rốn

Rốn cần phải sâu và rộng mới hợp cách;lồi, hẹp là sái cách.
-Rốn sâu, rộng, tương xứng với thân hình chủ về có tài trí và phúc lộc
- Rốn hẹp và nông cạn chủ về ngu đần vất vả.
-Thế rốn hướng lên: đầu óc minh mẫn, hưởng phúc
-Thế rốn hướng xuống: đầu óc tối ám, phước lộc ít.
-Rốn thấp so với toàn thể bụng: khiến thức rộng rãi, nhình xa thấy rộng.
-Rốn cao so với bụng: kiến thức nông cạn, không biết tính trước liệu sau.

g) Hạ bộ

Nhà tướng học khét tiếng đời Minh là Viên Liễu Trang nói rằng:"Đến những nơi như cầu tiêu, nhà tắm ta sẽ phát hiện ra được những hiện tượng kinh người." Như vậy,tướng học không những chỉ chú trọng quan sát những điều dễ phát hiện ở khuôn mặt, tay chân mà còn phải lưu tâm tới cả những nơi bí ẩn của con người vẫn được che đậy kín đáo. Muốn biết hạ bộ ra sao mà không cần khổ công như Liễu Trang , Nhất Hạnh thì ta có thể theo bí quyết của Trần Đạn Gĩa, tác giả bộ "Tướng lý hoàn nhân"Đàn ông nhìn mũi , đàn bà nhìn miệng, trên sao dưới vậy.
Bàn về những nết tướng hạ bộ, cổ thư đưa ra một số nhận thức sau:
  • Đại tiện chậm hoặc vuông: quý hiển phi thường
  • Tiểu tiệnvọt ra thành như hạt châu, hoặc mưa chủ về quý; thẳng và rũ xuống chủ về tiện
  • Âm hộ (kể cả nam lẫn nữ) nhiều lông thì quý nhưng dâm, không lông thì nghèo và tính nết đê tiện.
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến Uất Kim Hương trong bài viết này:
hocap (21-10-2012)
Old 05-05-2010, 04:01 PM   #18
Uất Kim Hương's Avatar
Uất Kim Hương
Senior Member

 
Join Date: Nov 2009
Đã Cảm ơn: 4,189
Được cảm ơn: 3,170 lần/2,017 bài
Blog Entries: 27
Status:Uất Kim Hương is offline
 
Uất Kim Hương is on a distinguished road

Default

NHỮNG NÉT TƯỚNG CHÂN TAY

Đối với tướng học, tứ chi có một vai trò rất quan trọng trong việc quan sát mạng vận và cá tính con người.Người ta nghiệm thấy những người trì độn hoặc suốt đời khốn khổ dù bộ vị trên mặt không lấy gì quá tệ đều có tứ chi bất quân xứng hay không ngay thẳng.Bởi lẽ đó, tác giả Trần Đạm Gĩa đã nói: "Tứ chi đối với con người cũng như bốn mùa đối với sự phát triển của vạn vật. Bốn mùa mà không điều hoà thì vạn vật khó sinh sôi nẩy nở. Tứ chi không ngay thẳng, cân xứng thì kẻ đó suốt đời khốn khổ."

Dưới nhãn quan tướng học Á đông, diện mạo được coi như thân cây,chân tay ví như cành nhánh. Có cây tốt thân mà xấu cành, có cây lại tốt cành mà xấu thân. Cành và thân đều tốt đã đành là quý, nhưng cành tốt thân xấu hay ngược lại thì cây đó vẫn có thẻ khả dụng. Cho nên , nếu Ngũ quan , Tam Đình, Ngũ nhạc có bị khuyết điểm đôi chút về mặt hình thức mà tứ chi hợp cách (Hợp cách ở đây có nghĩa là tứ chi tương xứng với thân hình; thẳng xuôi, văn tay, văn chân rõ đẹp, hội đủ các điều kiện tất yếu của chân và tay mà tướng học đòi hỏi) vẫn được coi là loại tướng khả dĩ có phú quý.

a)Tay

1- Cánh tay hợp cách
  • Cánh tay trên(từ vai đến khuỷ tay) gọi là long cốt; cánh tay(từ khuỷ tay đến cổ tay )gọi là Hổ cốt.Hổ cốt bao giờ cũng phải ngắn hơn long cốt mới đúng điều kiện tự nhiên, xương không được lộ.
  • Cánh tay phải xuôi thẳng như măng tre, tren to dưới nhỏ dần và màu sắc tươi mịn.
  • Cánh tay (trong tướng thuật cánh tay chỉ tính từ vai đến cổ tay) phải dài hơn thân mình.
*Riêng cánh tay có nhiều ý nghĩa:
  • Tay thẳng như măng tre : đầu óc thông minh. Ngược lại, đầu óc thiếu sáng suốt, cục xúc thô lỗ.
  • Tay xuôi và dài gần tới gối: tướng vừa quý vừa hiền. Ngược lại , là kẻ bần tiện
  • Tay tươi mịn: có số được hưởng phúc thọ. Ngược lại, cực khổ mới có miếng ăn.
  • Cánh tay tự nhiên mềm mại và nhỏ nhắn : có số thanh quý thô cứng : nghèo hèn
  • Người nhỏ cánh tay kớn :hao tài
  • Người lớn cánh tay nhỏ : bần cùng .
2- Lòng bàn tay hợp cách

-Không dày không mỏng,
-Có huyết sắc .
- có chỉ tay chin tươi mịn và rõ không đứt đoạn .
- Bàn tay phải thích hợp với từng loại người ( vd: như người hình Kim thì bàn tay phải vuông , người hình Mộc thì bàn tay phải xuôi và gay )
* Lòng bàn tay vô bệnh mà thường có mồ hôi là kẻ thường hay khổ tâm nhọc trí .
- Lòng bàn tay ngắn mỏng : số hèn
- Lòng bàn tay nổi cao xung quanh , giữa hơi loom xuống :số giàu
- Lòng bàn tay đầy đặn , dàihơn ngón tay : số quí hiển .
- long bàn tay đỏ như hoa son : vinh hoa phú quý , nhưng đỏ như huyết lại là kẻ tàn nhẫn , có tính háo sát .
-Bán tay khô khang cằn cỗi như đất vường hoang : nghèo hèn .
- Đàn bà mà gan tay quá mềm :có tính dâm đãng.

3- Ngón tay hợp cách

-Ngón tay thẳng không cong không lệch .
- Phía tiếp can với bàn tay lớn rồi thon dần lên đến đầu ngón tay .
-Màu sắc , mềm cứng phải tương xứng với bàn tay .
-Ngón tay trỏ tương đương về chiều dài lẫn hình dạng với ngón tay áp út , chiều dài ngón tay cái tương đương với chiều dài ngón tay áp út.
* Ngón tay có những ý nghỉa chính sau nay :
- Ngón tay nhỏ và xuôi dài :thanh quý ( có tiếng mà không có miếng )
- Ngón tay quá ngắn và không tròn đầu : nhu đần , đê tiện .
- Ngón taymềm ,khoảng cách giữa các ngón tay khít lại : giữ được tiền , biển lận .
- Ngón tay cứng , khoảng cách giửa các ngón tay thưa há tán ,khuyết giữ được tiền ưa hoang phí .
- Ngón tay tươi tắn :tâm tính tao nhã .
- Ngón tay dùi đục : tân tính lỗ mảng thô tục.

b) Chân

1- Cẳng chân hợp cách ( tính từ chỗ tiếp giáp với thân mình đến mắt cá )
- Tương xứng với thân hình cả về chiều dài lẫn vóc dáng .
-Ngay thẳng vững chắc .
- Xương thịt thích nghi .
- Không được ngắn hơn thân mình nhưng cũng không được dài hơn tay
-Cẳng dưới phải có lông vừa phải , lông chân dài vừa tần hơi thưa và mềm
* Chân có những ý nghĩa đáng lưu ý sau đây :
- Thịt chân rắn chắc vừa phải , chân thằng :tư tưởng cao thượng , tính tình hoà nhã .
-Cẳng chân quá lớn là tướng kẻ làm việc nhọc nhằn , đầu óc trì độn nhưng sống lâu , quá nhỏ là tướng lười biếng , yểu thọ .
- Cẳng chân quá ngắn không bao giờ ở được địa vị cao cả .
-Chân cẳng thô : tính neat lỗ mãng , khó thành công mà lại dễ thât bại , cảm xúc có tính cách theo bản năng hơn là lý trí .
- Đầu gối thích ứng ( nghĩa là bình xung với độ cao của mông ): tính tình dũng cảm nhưng khiêm cung.
- Đầu gối hình tròn : người có chí khí cao , có khả năng làm được nhiều việc lớn .
-Đầu gối lỏng lẻo( khi duỗi thẳng cẳng chân ): con người lao lực hoặc về thể xác hoặc về tinh thần . Ngoài ra còn là dấu hiệu thân thể suy nhược .
-Dầu gối chặt chẽ ( khi duỗi thảng chân đầu gối không thể di động được thì gọi là chặt chẽ ): tính neat cương trực , có khí phách cao xa , thân thể khoẻ mạnh .
-Đầu gối hình tròn như quả núi: tính neat gian xào hay có hành vi hoặc tư tưởng bất chính.

2- Bàn chân hợp cách

- Có dạng vuông , rộng rãi ,rắn rỏi và dầy
-Không quá rộng bề ngang .
- Gót chân rộng và bằng .
- Gan bàn chân hơi vũm .
- Năm ngón chân phải in sát mặt đất
- Gan bán chân chỉ chân rõ và sâu .
* Bàn chân vuông ,dày ,rộng : tướng khoẻ mạnh phú quý , nhưng quá rộng lại là số cực nhọc về sing kế .
-Hẹp thô lỏng , nghèo khổ .
-lòng bàn chân có nốt ruồi hoặc có các chỉ chân rõ ràng :sốphú quý vinh hiển .
-Bàn chân phía dưới bằng phẳng như tấm ván : vừa nghèo hèn vừa ngu độn .
- long bàn chân vũm và các ngón chân cùng ở trên một mặt phẳng : thông minh giàu có.

3. Ngón chân hợp cách

- Các ngón phải khít không được dài quá
- Chiền dài các ngón không được chênh lệch .
- Các ngón chân nên có lằn sâu và rõ chạy dọc theo chiều dài mỗi ngón .
- Ngón chân ngắn: số an nhàn .
- Ngóc nhân dài số hay gặp trắc trở hoặc vất vả. Đàn ông ngón chân dài xấu hơn đàn bà về mặt mạng vận nhưng tính neat thường là thành thực.
- Năm ngón chân khít nhau: chủ về giàu, ngược lại là dấu hiệu nghèo túng .
-Chiều dào năm ngón chân tương đương : có tài nămg cao khí phách rộng , làm việc có kế hoạch rõ ràng.
-Năm ngón chân lệch lại so le : khí lượng hẹp hòi, làm việc theo bản năng , không biết đường tiến thoái.
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến Uất Kim Hương trong bài viết này:
hocap (21-10-2012)
Old 05-05-2010, 04:02 PM   #19
Uất Kim Hương's Avatar
Uất Kim Hương
Senior Member

 
Join Date: Nov 2009
Đã Cảm ơn: 4,189
Được cảm ơn: 3,170 lần/2,017 bài
Blog Entries: 27
Status:Uất Kim Hương is offline
 
Uất Kim Hương is on a distinguished road

Default

LOẠI TƯỚNG BIẾN CÁCH

KHÁI NIỆM TỔNG QUÁT

Tướng mạo, thân hình dộng tác của con người đôi khi vượt ra ngoài các kiến thức tướng học thông thường. Tướng học thông thường lấy con người chính thức là đối tượng nghiên cứu để dự đoán thông minh, đần độn, thọ yểu, giàu nghèo. Sự nghiên cứu đó, phần lớn dựa vào ngụ quan, tam đình,lục phủ có cân xứng, phối hợp hay không.

Nhưng con người không phải lúc nào cũng có dạng chính cường: đôi khi có những người mà thân hình, diện mạo hoặc động tác có những đặc điểm xét theo tiêu chuẩn chính thường về ngũ quan,, tam đình v.v...không đủ để giải thích thỏa đáng. Theo kinh nghiệm của nhiều thế hệ lưu lại, người ta nhận thấy có nhiều người có khuôn mặt, thân hình hay cách đi đứng, nằm ngồi có những nét phảng phất hoặc giống các loại chim hoặc giống các loại thú hơn là giống đồng loại (con người ). Tùy theo giống loại nào thì phú quý, thọ khang , giống loại nào thì bần tiện , yểu chiết mà người ta đi đến việc phân loại tướng cách hạng người đặc thù đó thuộc loại bí cách gọi là cầm thú tương hình.

1-Hình phương: Mắt có hình dạng ,bề dài rõ rệt, chiều ngang thích hợp, lông mày nhỏ, phần hạ đình thấp, mũi cao và cong, tinh thần, cốt khí tươi tỉnh, giọng nói trong trẻo, tính nết hòa ái.

Kẻ hình phụng, nếu cao dong dỏng, không gầy quá, không mập là kẻ hình phụng trì trê. Nhìn hình phụng thông sảng . Nếu thân hình mập tròn là kẻ hình phụng trì trệ. Nhìn nghiêng mà trán rộng cao hơn cằm thì gọi là tướng thiên địa tương ứng thuộc về quý cách. Lông mày và mắt đều nhỏ, thượng đình dài mà hạ đình ngắn thì gọi là tướng tiểu phụng hình nhân, thuộc về trung cách. Lông mày lớn , thân hình dài, mũi cao và thẳng , tinh thần sảng khoái ,lanh lẹ thì gọi là tướng đơn phung. Tướng thư chép rằng;"Lông mày , mắt và đầu dài ngũ nhạc đầy đặn, điều hợp, thân hình nhỏ nhắn, đi lại , hành động, có vẻ thanh tu là kẻ đắc phụng cách, ngôi vị cực sang".

2- Hình hài: thương , khố bị hãm, ngư vĩ cong xuống phía dưới, đuôi mắt hơi cong xuống, đầu nhiều xương, ít thịt, cổ dài, bước đi nhấc cẳng dưới và khoảng cách dài thân thể mảnh dẻ,,,,,
thượng đình dài, rộng là kẻ hình hạc: tính ôn hòa thích ở nơi tịch mịch, có dang vọng về đường
đạo đức, văn học.

3-Hình chim ưng: đầu vuông, trán tròn, mũi cong vòng như mỏ chim , mắt tròn, viền mắt hơi đỏ, mắt có nhiều tia máu, mioệng nhỏ, tai mỏng, tính nóng nảy. Cổ tướng thư nói rằng: người hình chim ưng , trán rộng, mắt sáng rực, xương má xệ xuống tận hàm , giọng nói trong trẻo, bước chân dài rộng, hùng dũng có khiếu về binh nghiệp nhưng tính háo sát, thích đấu tranh nên ít khi được chết an lành.

4-hình chim yến: Mắt tròn, xương quai hàm nảy nở, môi hồng, miệng nhỏ, mũi ngắn, mắt sâu và đen trắng phân minh, sáng láng, thân hình cao gầy. Người hình yến đa tài, đa nghệ nhưng hay thăng trầm, thành đạt sớm thì lại dễ chết yểu.

5-Hình công: mặt nhỏ, thân hình cao lớn, tính ưa thủ lễ, ưa trang sức, dang vọng.

6_Hình ngỗng: Mắt nhỏ, miệng hơi túm và nhỏ, cổ dài, chân ngắn, bước đi chậm dãi, thượng đình chiếm phần trội yếu nhất trên lông mày, mũi ngắn. Kẻ có tướng ngỗng mà lại có mắt ngỗng đắc cách không lo thiếu ăn, thiếu mặc.

7-Hình Sẻ: thân thể nhỏ bé,ánh mắt lộ vẻ nôn nóng, mặt tròn và sác thái vô sự thường lộ vẻ kinh nghi . Tính nết kết hợp cách tướng chim sẻ thường ham dâm dục, ít khi giàu có lớn, số thường hay vất vả.

8-Hình uyên ương: thân hình trung bình, mặt trắng pha sắc hồng, mắt tròn và đẹp, đi đứng cục mịch, không có uy thế, nói năng tục tĩu và tính rất dâm ô. Hợp với mắt uyên ương, bộ vị đắc cách, người hình dáng kể trên có thể nổi danh với đời.

9-Hình chim tước:thân hình vừa phải, khuôn mặt nhỏ, tai sắc xang pha trắng, di thì nhanh nhẹn mà thân thẳng thắn, nói năng khoan dung khiến người nghe vui tai, ấm dạ. Tính tình người hình chim thước đắc cách ( hợp thước nhãn cộng hình thước) : trung hậu, có tài, vãn vận an khang, phúc lộc gồm đủ.

10-Hình gà: thân thể trung bình, đầu nhỏ, mắt nhỏ, tròng mắt hơi vàng, mặc dầu tham vọng nhiều nhưng lại trọng điều nghĩa khí, không bao giờ thất tín. Kẻ hình gà hậu vận rất tốt.

11-hình vịt: thân hình tròn mập, chân cẳng ngắn, mặt nhỏ và không có gì đặc biệt thanh tú, đi đứng chậm dãi, ì ạch, miệng rộng, hạ đình dài, nảy nở, cuh3 tiền bần hậu phú nhưng thuộc loại phú nhi bất quý.

12_hình cò: thân hình thon nhưng dài, mũi nhỏ và dài, phần thân mình ngắn, chân dài. Lưng thẳng tuột, khi đi thường hay lắc lư đầu, hình dạn nói chung thanh khiết nên người hình cò ( đắc cách với mắt cò) là hàn tướng( tướng lạnh nhạt, ưa cô độc) chứ không phải là thanh tướng. Hình cò đắc cách là tướng kẻ ở ẩn hưởng đi tu dễ thành chính quả chứ không thích hợp với đời
sống tập thể.

13-Tướng cọp: đầu lớn, cổ vuông vắn, khỏe vai tròn trịa, lưng đầy đặn, tràn cao, eo rộng , mắt lớn ( hổ nhãn) tròng mắt đen phân minh, miệng lớn và vuông có lăng giáp. Người ta phân biệt nhiều thứ hình cọp tùy theo sắc thái: a)nếu môi như chu sa, mục lực sáng láng nìn người như thôi miên, tinh thần an thái, nói vang như tiếng trống đồng, tính tình khoát đạt thì gọi là lâm trung chi hổ ( hổ ở trong rừng) Kẻ có tướng lâm trung chi hổ thì chức vị cử phẩm thường là dễ phát về võ hơn là về văn.

b)Nếu tinh thần quá mạnh bạo, đi đứng ngang tàn mà ánh mắt lại mờ yếu không được ổn định thì gọi là xuất lâm chi hổ ( cọp ra khỏi rừng). Kẻ có tướng Xuất lâm chi hổ tuy tốt nhưng có nhiều sở đoạn nên quý hiển mà không được hưởng lâu bền, kết cuộc về vận hạn sẽ suy giảm.

c)Vẫn các đặc tính chung mà tinh thần an nhàn, tao nhã, nói năng có thứ tự, mịch lực bình ổn thì gọi là kháo hổ sơn (cọp trên núi) .Kẻ có tướng kháo sơn hổ được hưởng lộc lâu dài đến tận cuối đời.

d)Vẫn các đặc tính hình thể của tướng cọp mà tinh thần bất định, ngồi, đứng hay đi thường ngoảnh mặt, lắc vai thì gọi là khắc sơn chi hổ (cọp không thích hợp với núi rừng) .Kẻ có loại tướng cọp này có thể quý hay tiện nhưng thường thì xấu nhiều tốt ít. Nếu khuôn mặt không sầu muộn mà lúc nào cũng rầu rĩ, không bệnh mà mệt nhọc tựa hồ mắc bệnh thì dầu cho có xứng ý thỏa lòng 1 lúc cũng chỉ được 1 thời gian ngắn, rốt cuộc chết non.

14-Hình rồng: Thân hình từ trung bình đến cao lớn, diện mạo đoan chính, cốt cách thanh tú oai nghiêm mắt sáng và đen trắng phân minh, tai và mũi cao cử chỉ đường bệ, tâm tính cơ trí. Dây là loại tướng người phi thường. Nếu đắc cách long thể, long diện (mắt mũi, lông mày, đầu v.v...đều tương tự như dáng rồng , đi đứng như rồng bay, hổ chạy) là dấu hiệu đế vương. Ngày
xưa Hán Cao Tổ(Lưu bang) Đường Thái Tông (Lý Thế Dân) đều là loạĐường Thái Tông (Lý Thế Dân) đều là loại tướng rồng đắc cách.

15 Hình kì lân :Tác người trung bình, cổ có xương thịt vững chãi, thân hình trông như ưỡn lên , mắt sâu, lông mày đen trông hơi có vẻ thô mà có uy thế ( trọc trung hữu thanh) , trán cao, vuông rộng, giọng nói thanh tao , đi đứng chững chạc , mắt sáng , tai cao . Hình kì lân hội đủ các điều miêu tả ở trên là tướng đại quý.

16 Hình sư tử: Thân hình đôn hậu , chắc chắn, mắt tròn và lớn đen trắng phân minh, có thần quang, nhiều râu, lông mày thô đậm , đầu vuông vức, miệng rộng và vuông ,môi dầy, mũi lớn và gãy, tâm linh cơ xảo và khôn lường, cổ tướng thư nói rằng : Đầu của tướng người sư tử đắc cách phía sau nổi rõ xương tròn , phía trán cũng gồ cao sẽ là kẻ cực phẩm nhân thần , văn võ song tòan.

17 Hình voi: Phía sau đầu nôỉ rõ, trán cao và nở , Aân đường bằng phẳng, mắt nhỏ, lông mày dài, mũi hếch, môi cong, răng lộ , tai lơn và dầy, không rõ vành, thân hình to lớn ,dềnh dàng, mắt nhìn kém và rất ít ngủ. Kẻ có đắc cách tượng hình, tượng nhãn thì tính tình chậm lụt, hòa bình, không phú thì cũng tiểu quý. Tuy nhiên ,đắc cách về hình dạng chưa đủ, còn phải hợp cách về phẩm chất nữa : đi đứng chậm rãi, chắc chắn, ngồi vững vàng như trái núi, giọng nói trầm hùng.

18 Hình tê giác: Thân hình mập mạp, quân phân, lông mày dài bằn ánh mắt, trán cao rộng, xương phía trên Aán đường nổi rõ cộng thêm với đầu tròn mắt lớn, tai dày.Kẻ đứng cách tê giác về hình dạng nếu phụ thêm các đặc tính nội tương ứng với loại hình này là kẻ có tướng giàu có và an khang đến già.

19 Tướng vượn: Mắt tròn, khuôn mặt nhỏ, lông mày và mắt đều tròn, tay rất dài và lớn so với thân mình tiếng thanh và cao vút, tính ưa sạch sẽ và thích diêm dúa, thích trái cây, miệng nhỏ, mũi nhỏ , hay ca hát , không ưa lễ nghi, dễ phẫn nộ, tâm tính linh xảo, thân hình cao nhỏng, môi mỏng và xương lại rất nảy nở. Kẻ hợp cách vừa kể (đặc biệt là tay dài và chân ngắn, bước
chân nhẹ nhàng) rất dễ nổi danh về đường biện thuyết, hư ngụy.

20 Tướng khỉ :Người trung bình , da trắng (thuộc thiên hình nhân) , đầu , trán nổi cao, lưỡng quyền cao và lộ, Ngũ quan tề chỉnh, mắt tròn, về phần tâm, tính tương tự như tướng vượn. Tướng khỉ đắc cách hợp với mắt khỉ là đại quy cách, phú quý thiên toàn nhưng háo dâm vô kể. Xưa nay, tất cả mọi kẻ đắc cách thực sự hầu tướng đều là kẻ thành đạt. Thời cuối đời Mãn
Thanh (1905) tổng đốc Lưỡng quảng là Trương Chi Đồng tự Hiếu đạt là 1 thí dụ điển hình nhất của tướng khỉ đắc cách và thuần túy không pha trộn các hình khác. Ông ta tự nhận mình là con khỉ già ở Cổ tự núi Nga My đầu thai làm người. Đặc điểm của Trương Chi Đồng là rất thích hoa quả, có khi thức trắng hai, ba đêm không ngủ mà tinh thần vẫn tươi tỉnh như thường nhưng không đêm nào lại bỏ qua trong sự chung chạn sắc dục.

21.Tướng rùa: Cổ dài chân ngắn, thân thể mập mạp tròn lẳn, đầu hơi thon nhọn, lông mày đậm, mắt tròn tai cao, Ngũ nhạc tương xứng, lưng nảy nở, rắn chắc và cong lên như thân rùa , hơi thở nhẹ nhàng, ánh mắt ổn định. Tam đình đầy đặn,bình quân. Kẻ có tướng rùa đắc cách toàn bộ là kẻ có phúc phận vừa thọ vừa phú.

22. Tướng trâu :Thân hình khôi ngô ,cao lớn, đầu to cổ lớn, nói năng đi đứng chậm chạp, mắt sáng và đen trắng phân minh. Hợp với tướng trâu (hình thể lẫn nội chất ) là kẻ phúc tướng suốt đời ít bệnh, giàu có hơn người .

23. Tướng chuột : người nhỏ nhắn, thấp lùn, sắc da đỏ hồng, mắt tròn và nhỏ (người đời thường gọi là ti hí Mắt lươnh ).Kẻ đúng cách tướng chuột là kẻ khôn ngoan ranh mãnh, tâm cơ tinh xảo hơn người nên thường kiếm đủ miếng ăn được khó hiểm đạt.

24. Tướng rắn : hình dạng đầu dài, mắt ngắn, Ngũ hẹp không cân xứng, trán bằng, lông mày nhỏ hẹp, mắt mở thao láo, miệng túm, răng nhỏ , thân hình to và thô lỗ, mũi dài nhưng gián đài, Đình quý rất nhỏ, chưa nói đến là đã liếm môi, khi đi lắc lư phần thân dưới như kiểu chữ chi trông mường tượng như rắn đang tườn mình trên mặt đất bằng phẳng. Người hình Tướng rắn hành động mẫn tiệp, hay thù độc khi bị người ta động chạm đến mình, mưu mô, ác hiểm khôn lường. Tuy nhiên, người hình rắn lại thường khôn ngoan , khéo léo và mưu thuận bề ngoài nên trong giới quan lai thường ghi nhận được nhiều người có tướng rắn.

25. Tướng ngựa : mặt rất dài và thành hình tam giác rõ rệt, mắt tròn lớn,miệng rộng, răng lớn trắng và đều đặn lưng rất dài, phản ứng chậm chạp nhưng chắc chắn, có đức độ. Ban đêm thường ít ngủ, đứng ngồi có dáng vẻ uy nghi. Người có Tướng ngựa đắc cách là tướng trung hoặc đại úy tùy theo sự thành tựu của Ngũ quan có hoàn toàn hay không.

26. Tướng dê : đầu vuông, mặt dài, trán thấp, địa các nhỏ và nhọn, miệng túm và rất nhiều râu (râu quai nón), lòng đen ít và lòng trắng ngả màu vàng nhưng trông không được thanh khiết, chân ngắn hơn thân mình, đầu rụt xuống phía trước, lúc đi nhìn xuống đất nhiều hơn là nhìn thẳng về phía trước. Đàn ông mà được Tướng dê, mắt dê thì quan cao, lộc hậu nhưng không được chết lành, đàn bà có tướng dê thì tính tình dâm đãng, trí trá tuy nhiên rất giàu có.

27. Tướng nai : mắt hơi dài, sáng sủa, tròng đen lớn, lòng trắng ngả màu xanh lơ, ánh mắt hiền hòa ngây thơ hoặc lơ đãng, ngồi lâu thường hay cựa quậy không yên tĩnh, tính tình không được ổn định, khi đi rất nhanh, tương tự như người chạy. Người có Tướng nai đắc cách (Tướng người + Tướng mắt đều phối hợp tương xứng ) thường ưa thú vui điền viên hơn là cạnh tranh với
người đời, phúc lộc tự nhiên.

28. Tướng gấu : Tướng người mập mạp, rắn chắc, ngực, bụng bằng nhau và đầy đặn, tròn trịa, mũi hếch, hơi thở gấp, đứng ngồi không yên chỗ. Kẻ có tướng gấu đắc cách, thân hình, mắt mũi, ... dễ thành sang quý nhưng tính nết hung bạo tàn nhẫn.

29. Tướng cá : Tai nhỏ, lông mày thưa thớt và ngắn, mắt trròn, cổ ngắn, miệng như miệng cá, ngủ mà mắt không khép kín. Tướng cá, mắt cá, : Cổ tướng học xếp vào loại bất thường.

30. Tướng heo : người mập cổ lớn và ngắn nên trông xa như không có cổ, miệng túm , tai nhọn, chân dưới ngắn, hình tượng rất kì dị tương tự như heo. Loại tướng heo, mặt heo là tướng ngu đần, bất đắc kì tử. Tuy nhiên người tướng heo thường hay đủ ăn mạc, thuộc loại phú nhi bất quý.

31 - Tướng chó : đầu lớn mà thô, mặt hơi nhọn, tai nhọn và vểnh, tính nóng nảy, háu ăn, thân dài bằng chân, cư xử với người ngay thẳng trung hậu, hay bị tiểu nhân oán ghét. Cổ nhân phân biệt : nằm mà giống chó là tướng thọ , đi mà giống chó là Tướng hà tiện, thân hình giống
Reply With Quote
Lời Cảm ơn của những người đã được gởi đến Uất Kim Hương trong bài viết này:
hocap (21-10-2012)
Old 05-05-2010, 04:03 PM   #20
Uất Kim Hương's Avatar
Uất Kim Hương
Senior Member

 
Join Date: Nov 2009
Đã Cảm ơn: 4,189
Được cảm ơn: 3,170 lần/2,017 bài
Blog Entries: 27
Status:Uất Kim Hương is offline
 
Uất Kim Hương is on a distinguished road

Default

Chương thứ ba

NHỮNG TƯỚNG CÁCH ĐẶC BIỆT

I. NGŨ TRƯỜNG

Ngũ trường là dạng xưng của 5 bộ phận:
-đầu dài
-mặt dài
-thân dài
-tay dài
-chân dài.

Người có Tướng ngũ trường thường quý hiển nên loại người có Tướng ngũ trường thường được xếp vào loại Tướng quý. Quý ở đây chỉ có nghĩa là tốt, là thượng thưa mà thôi. Nhưng những điều liệt kê ở trên chỉ là phần hình thức , chưa đủ dể quyết đoán, mà có thêm ngũ quan ngay ngắn, cử chỉ hiên ngang, dáng dấp thanh nhã, khí sắc tươi tắn mới thực là quý tướng . Loại tướng này được xếp vào loại phú quý song toàn nhưng phần quý hiển nặng hơn phần phú túc . Trái lại , nếu chỉ được Ngũ trường về hình thức mà thực chất lại kém cỏi : ví dụ xương thịt khô xạm , cằn cỗi , thần thái ủ tủ , trơ xương lộ gân hoặc thịt bệu xương nhỏ đều là tướng hạ tịên.

Trong số Ngũ trường , có thể thiếu một mà vẫn không trở thành tướng xấu ( dĩ nhiên ở đây nói về hình và chất cùng tốt ) là chân ngắn . Nếu như cũng một trường hợp vừa nói mà thay vì chân ngắn , ta thấy ngược lại là tay ngắn hơn chân thì bao nhiêu điểm tốt lại trở thành xấu , vì đấy là tứơng bần hàn , đê tiện . Bởi vậy , tướng thuật có câư : " Cước trường , thủ đoản nhân đa tiện" .

II. NGŨ ĐOẢN

Được gọi là Ngũ đoản tướng khi có :
- Đầu ngắn .
- Mặt ngắn .
- Thân ngắn .
- Tay ngắn .
- Chân ngắn .

Về mặt xét đoán cũng vẫn như trên , nếu Ngũ đoạn mà xương thịt cân xứng , thần thái uy nghi , Ấn đường sáng sủa là tướng đại phú . Ngaỳ xưa vương quốc nước Tề là Án Anh người lùn chỉ cao bằng tầm ngực của tên quân hầu đánh ngựa , nhưng lại là lùn kiểu Ngũ đoản nói trên . Gần đây Việt Nam có một tướng có tướng Ngũ đoản đúng cách , đó là Nguyên Tổng Thống đệ nhất Cộng hoà , Ngô Đình Diệm .
Trái lại , nếu Ngũ doản mà thịt bệu , xương thô , tai dơi , mắt chuột , Ngũ nhạc lệch lạc , nửa thân dưới dài , mà nửa thân trên lại ngắn , v.v ... thì khó tránh khỏi cuộc đời quẫn bách , tầm thường . Ngũ đoản đều đặn mà trên dài dưới ngắn mới quý , còn ngược lại thì lưu lạc lênh đênh thành bại bất thường.

III. NGŨ HỢP


Cốt tú : Răng đều hay không đều không thành vấn đề .Điều cần thiết là răng phải chắc chắn , tươi sáng tựa như ngọc ngà không có vết . Người nào có bộ răng hợp với điều mô tả trên được kể là Cốt tú.

* Nhục tú : Sắc mặt lúc nào cũng hồng hào tươi tĩnh thì gọi là Nhục tú . Chỉ cần hồng hào tươi tĩnh mà thôi . Gầy mập không cần lưu ý .

* Huyết tú : Lông mày thanh nhã , mịn màng và chất của lông mày cũng như sự thưa mỏng của nó tương xứng với tóc và râu được gọi là Huyết tú .

* Khí tú : tiếng nói trong trẻo , có âm lương vang ra xa thì gọi là Khí tú . Đối với phép quan sát thần khí của Á Đông thì âm thanh là đối tượng dễ quan sát nhất về khí . Khí tốt thì âm thanh trong trẻo vang dội . Từ Khí có thể suy ra Thần và Sắc . Bởi vậy Đạt Ma Thiền Sư có nói : Cầu toàn tai thanh . Trong phép xem tướng , người ta đã liệt việc xem tướng âm thanh vào loại tướng pháp thượng thừa cũng bởi lý do trên .

* Chất tú : Mắt sáng , tia long lanh có thần khí thu tàng như tinh tú tự phát ra ánh sáng ban đêm : sáng mà êm dịu thì gọi là Chất tú.

Đời nhà Thanh , Đệ nhất thi nhân Hoàng Công Độ là người có đủ tướng Ngũ tú. Bởi vậy , tâm tính thông tuệ , dung hơp được cả các tinh hoa của thơ văn cổ điển bác học lẫn thơ văn bình dân . Nhà thơ họ Hoàng đã dùng những kỹ thuật bác học cổ điển để sáng tạo ra nhữn bài thơ ý tứ mới mẻ khiến cho việc thưởng thức những cái hay đẹp của văn chương cổ điển càng thêm phong phú. Thơ văn của Hoàng đã tạo thành một phong trào văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng trong giới sĩ phu thời đó và phần nào đã có ảnh hưởng đến cuộc vận động Tân văn hoá của nhóm Hồ thích sau này . Sở dĩ Hoàng Công Độ hiển hách một thời cả về công danh lẫn sự nghiệp như vậy đều là do may mắn được trời sinh ra có tướng Ngũ tú.

6. LỤC ĐẠI
Đầu lớn , mặt lớn , tai lớn , mũi lớn , miệng lớn và bụng lớn được gọi là Lục đại . Nếu tất cả đều ngay ngắn , cân xứng thì đó là tướng quý .
Ngược lại , nếu :
- Đầu lớn màtrán không có Nhật , Nguyệt giác (tức là trán gồ)
- Mắt tuy lớn nhưng ánh mắt láo liên hoặc mờ ám .
- Miệng tuy lớn nhưng không rõ luân quách .
- Bụng tuy lớn nhưng hếch lên , thì đó gọi là tướng Lục đại bần yểu .

7. LỤC TIỂU
Trán , mắt , mũi , tai , miệng , bụng đều nhỏ thì gọi là Lục tiểu .

a) Quý tướng :
- Trán nhỏ , nhưng đều đặn vuông vắn .
- Mắt nhỏ nhưng sống mũi thẳng và ngay ngắn .
- Tai nhỏ nhưng đầy và Thuỳ châu rõ ràng , hướng về miệng .
- Bụng nhỏ nhưng xuôi .
Ngoài ra , thân mình phải can xứng với khuôn mặt mới thực sự tốt .

b) Tiên tướng :
Nếu sáu bộ phận trên nhỏ nhưng không hội đủ những điều khiện vừa kể thì bị xếp vào loại tướng tiện (không ra gi ) . Người có tướng lục tiểu khuyết hãm chẳng những trí óc đần độn hoặc lệch lạc mà mạng vận cũng trì tuệ , thọ mạng ngắn ngủi .
Ngoài một số tướng cách đặc thù kể trên , ta còn có thể căn cứ vào sự bất quân xứng giữa các bộ phận căn bản trên con người mà đặt ra vô số tướng cách
hỗn tạp . Ví dụ :
- Tứ tiểu , nhất đại .
- Tam tiểu , nhị đại .
- Ngũ tiểu , nhất đại v.v...
Điểm cần lưu ý trong tướng pháp để giải đoán quý tiện của loại tướng hỗn tạp ( gồm cả đại lẫn tiểu trên lhuôn mặt hay thân hình của một cá nhân) là:
* Dù hình thức và thực chất có hoàn hảo thì sự hỗn tạp trên không bao giờ đưa đến phú quý song toàn hoặc bền vững cả . Những kẻ đó hoặc là phú mà quý , hay ngược lại , hoặc tiền phú hậu bần , hoặc yểu .
* Mức độ xấu của tướng cách hỗn tạp , tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố : bộ vị chủ yếu , khí sắc , tinh thần khí phách v.v...
Reply With Quote
Old 05-05-2010, 04:04 PM   #21
Uất Kim Hương's Avatar
Uất Kim Hương
Senior Member

 
Join Date: Nov 2009
Đã Cảm ơn: 4,189
Được cảm ơn: 3,170 lần/2,017 bài
Blog Entries: 27
Status:Uất Kim Hương is offline
 
Uất Kim Hương is on a distinguished road

Default

Bài này rất dài, còn nhiều nữa. Sẽ post tiếp nếu có yêu cầu.
Reply With Quote
Đã có 3 bạn gởi lời Cảm Ơn dành cho Uất Kim Hương trong bài viết này:
hocap (21-10-2012), Masa (29-08-2010), mongmothu (24-05-2010)
Old 19-11-2010, 10:26 PM   #22
Uất Kim Hương's Avatar
Uất Kim Hương
Senior Member

 
Join Date: Nov 2009
Đã Cảm ơn: 4,189
Được cảm ơn: 3,170 lần/2,017 bài
Blog Entries: 27
Status:Uất Kim Hương is offline
 
Uất Kim Hương is on a distinguished road

Default

LÝ TƯỚNG VÀ PHÁP TƯỚNG

Quyển thứ nhất trình bày các nét tướng và loại tướng, phần lớn có tính cách phân tích và nặng về khía cạnh tĩnh. Đó là phần tướng học biểu kiến, hình thức và tổng quát, mô tả từng bộ vị và phân loại hình hài của con người dựa trên các ngoại biểu vật thể phần lớn nhận thức được bằng vị giác. Vì thiên về phân tích, quyển 1 không phối trí các bộ vị, các loại tướng một qui tắc chi phối tương quan.
Quyển thứ hai đề cập đến phần lý tướng và tương pháp,nêu những qui tắc tương quan giữa các bộ vị giữa các hình hài, giữa các hình hài và bộ vị với nhau ngõ hầu giúp được giả thấu hiểu ý nghĩa đa phương và biến đổi giữa các nét tướng. Quyển 2 khảo sát tướng học trên phương diện tổng hợp nhìn dưới khía cạnh động ,nên những yếu tố phi vật thể, phần lớn được nhận thức bằng trực giác và tâm linh. Nói khác đi,về mặt biển khảo, quyển đầu chỉ mới giúp người học tìm khai đề(thèse) và phản đề (antithèse) trong khi quyển sau giúp ta đi vào phần hợp đề (synthèse).
Thực vậy, muốn thấu đáo con người phức tạp và đa dạng, chúng ta không thể chú trọng đến cục bộ và chi tiết mà phải nhìn cho được đại thể của nó trong hệ thống tương quan chi phối toàn cục. Việc hiểu biết từng nét tướng chỉ là điều kiện cần chứ chưa phải điều kiện đủ. Con người thực tế là 1 khối duy nhất do toàn thể những nét tướng chi tiết hợp thành. Sự tốt xấu của khối duy nhất đó không phải là tổng cộng máy móc có tính cách toán học cứng nhắc của các sự tốt xấu lẻ tẻ chắp nối lại, Hơn nữa, con người là một sinh vật có tri giác, vốn động cả hình, chất lẫn tâm hồn . Những nét tướng của con người tuy tĩnh bề ngoài nhưng kì thực lại động bên trong và động trong suốt tiến trình của cuộc đời .
Tướng học Á Đông đã lĩnh hội được nguyên lý căn bản đó.Tướng lý Á Đông nhấn ttương quan giữa các yếu tố, kết hợp hình thức và thực chất , gắn liền nét tĩnh với nét động, phối hình tướng với tâm tướng ,liên kết ngoại diên với nội tâm.
Những thế kỉ thực nghiệm đã giúp nền tướng học Á Đông khám phá được các yếu tố tương quan đó trong nguyên tắc thanh trọc ,trong thần ,sắc ,khí, trong khí phách của con người ,trong nguyên tắc âm dương ngũ hành của vũ trụ. Từ đó nhiều thế kỉ thực nghiệm đã đào sâu thêm tướng lý và khai phá ra tướng pháp, nói khác đi là phương pháp xem tướng càng ngày càng hướng về thực tiễn và đặc biệt càng ngày càng xác định . Người ta dùng tướng để quyết định vận mạng đã đành ,có người dụng tướng để chọn tướng hảo tôi trung .Chỗ dụng của tướng học được nới rộng rất nhiều từ chỗ kiến thức đến chỗ ứng dụng cho con người nói riêng và cho quốc gia xã hội nói chung.
Một học thuật kì thú và bổ ích như thế không phải dễ hội nhập . Để giúp học giả nắm được tinh lý của tướng học , quyển 2 sẽ trình bày trong 6 chương :
  • Nguyên tắc thanh trọc .
  • Nguyên lý Âm Dương Ngũ hành và ứng dụng của nó trong tướng học .
  • Ý niện Thần , Khí ,Sắc và Khí phách.
  • Phương pháp xem tướng .
  • Những ứng dụng của tướng học.
  • Tướng phụ nữ.
Để kết luận ,soạn giả có phụ thêm vào phần cuối sách một vài nhận định về môn học thuật cổ điển này .

CHƯƠNG THỨ NHẤT
NGUYÊN TẮC THANH TRỌC

THỬ PHÁT HỌA HAI Ý NIỆM THANH VÀ TRỌC


Trong tướng học Á Đông ,Thanh và Trọc là hai ý niệm vô cùng súc tích và là hai ý niệm căn bản để giải đoán quí tiện cát hung , thành bại , thọ yểu của con người. Thanh Trọc chi phối hết các nét tướng của con người .Có thể nói mọi lãnh vực quan sát của tướng học Á Đông đều hướng về việc tìm tòi phân biệt những điểm Thanh,Trọc rồi dựa vào đó mà luận đoán . Nhưng trước hết Thanh ,Trọc là gì ?

a) Thanh:
Từ ngữ Thanh chỉ tất cả các nét tướng tốt của con người ,từ tướng cơ thể đến tướng tinh thần ,từ nét tướng động tĩnh và cả những nét tướng phối hợp động,tĩnh bao gồm cái tốt về phẩm và về lượng dưới đủ mọi dạng thức .
Nếu nói về sắc da,Thanh có nghĩa là hữu tình ,ưa nhìn,không đậm,không lạt.
Trong trường hợp này việc thẩm định tính chất Thanh nặng về chủ quan và trực giác hơn là khách quan và thị gíac hiểu theo nghĩa thông thường.
Nói về giọng nói, Thanh có nghĩa là trong trẻo,âm lượng vừa phải , không quá lớn đến đinh tai nhức ốc , không chua như dấm, không xoáy vào tai người nghe như kim châm,v.v...nhưng không quá nhỏ như tiếng dế,tiếng ong. Giọng nói thanh tao, hảo cảm, vui tai không phải vì lý luận hữu lý mà vì tính chất ấm áp hay trong trẻo , rõ ràng , không rè, không chát.
Nói về cử chỉ,Thanh có nghĩa là cử chỉ mực thước, quý phái không sỗ sàng, cương nhu thích nghi . Đó là cử chỉ của loại người gọi là hào hoa , phong nhã ,theo đúng nghĩa trong sạch của nó.
Nói về bộ vị hay người bộ vị Thanh kết hợp lại tạo thành một cơ thể hay cơ cấu (structure) cân xứng ,linh động ,có sinh khí về cả phẩm lẫn lượng một cách có thẩm mỹ . Cặp lông mày được gọi là Thanh khi sợi lông mày không lớn hơn sợi tóc ,dài và mọc cách nhau thế nào để kẻ quan sát cách xa đó một hay hai thước nhìn thấy được phần da của chân lông mày ,sắc lông mày đen xanh và mượt .Mũi Thanh là mũi ngay thẳng và cao, không leach ,gián đài và đình úy không quá lớn. Đầu mũi không quá mập . Chẳng hạn mũi tiêm đồng,mũi thông thiên được coi là Thanh ,mũi sư tử, mũi túi mật treo bị coi là trọc.
Nói về thân hình ,loại người hình mộc (loại Giáp Mộc) được coi là Thanh ,người trọng Thổ bị xem là Trọc.
Nói về thần khí ,kẻ mắt lồi,mục quang hung hãn,hoặc lòng đen ,tròng trắng mờ đục thì không Thanh. Trái lại ,ánh mắt sáng ,êm dịu ,tinh anh ,đồng tử trong suốt như pha lê ,long đen tròng trắng rõ ràng ,thuần khiết không mờ đục ,không có tia máu xâm phạm được coi là thần thanh , khí sảng.
Nói về tổng quát,nếu có sự phối trí tương xứng theo một hòa điệu (hramonie) giữa các thành phần trong bộ vị cơ thể thì gọi là Thanh. Thí dụ hía sau đầu và trước mặt ,phía phải và trái khuôn mặt cân xứng và thích nghi với thân mình được xem là Thanh, trong phép phối hợp ngũ hành của cơ thể,người thuần túy một hình hay bác tạp nhưng không xung khắc được xem là Thanh . Chẳng hạn thân hình nặng nề, chắc nịch,mặt mũi thô kệch nhưng mắt sáng ,mày tươi ,giọng trong trẻo thì phần sau đó gọi là Thanh trong cái trọc của toàn thể thân hình.
Nói về động tĩnh ,nếu có hòa hợp động và tĩnh tức là phần động trội hơn phần tĩnh nhưng không làm mất thế quân bình ,phần phẩm hơn phần lượng, nhưng không vượt ra ngoài tiêu chuẩn đều được gọi là Thanh .Đó là trường hợp những kẻ gầy yếu

- Mặt mày sáng sủa ,thân thể khôi vĩ, nhưng nhìn vào không oai vệ hay khiến người dễ chán.
- Đàn ông quyền thấp,tiếng nói có vẻ nữ nhi.
- Mặt đầy đặn,phối hợp tương xứng với ngũ quan nhưng đấu mũi bị lệch.
- Răng tuy trắng ,đều,khít nhưng không bóng bẩy.
- Miệng tuy rộng nhưng không có lăng giác, mũi không hồng, răng thưa.
- Lông mày tuy đẹp nhưng sợi lông mày mọc thưa, ngang hoặc tráp với phương vị cố hữu.
- Mày tuy cao nhưng sợi thô hắc ám.
- Mặt tuy sáng nhưng lộ chân quang.
- Râu tuy đẹp nhưng không tương xứng với tóc và lông mày.
- Người tuy đúng cách cục nhưng sắc hôn , khí ám.
- Người tuy to lớn , mập mạp trông có vẻ phúc hậu nhưng thịt bệu, da khô, tóc cằn,v.v...
Người có đặc điểm kể trên thì thoáng qua thấy có vẻ thanh nhã nhưng tương hợp coi đó là thanh trung hữu trọc vì trong cái đẹp có lẫn cái xấu .
b) Trọc trung hữu thanh:

Những người có hình dạng cục mịch thô lỗ hay mặt mày méo lệch ,tam đình,ngũ nhạc bất quân xứng nhưng nếu có :
- Mắt sáng mà mục quang ẩn tàng.
- Thiên đình cao rộng,sáng sủa.
- Phía trong vành tai màu hồng tươi nhuận hay tai mọc cao quá lông mày ,sắc bề ngoài trắng hơn da mặt,hay luân quách phân minh.
- Lông mày tươi mịn.mọc cao và không gián đoạn.
- Hoặc người nhỏ yếu,thấp lùn nhưng tiếng nói sang sảng như tiếng chuông ngân hay thanh tao như những hạt ngọc rơi rớt trên mâm bạc.
- Có tướng ngũ tiểu hoặc ngũ lộ nhưng phẩm chất các phần lộ đó đều tốt đẹp.
- Người khẳng khiu nhưng dáng dấp hiên ngang,đi như rồng bay cọp bước,khí phách hoằng đại,v.v..
Suy rộng ra ,khi nhìn moat cá nhân qua nhiều bộ vị ,ta thấy hình dáng màu sắc của chúng thoáng qua thì thô bỉ,nhưng đi sâu vào chi tiết,ngắm lâu lại thấy hữu tình hoặc hảo cảm,quan sát moat cá nhân ta thấy khuôn mặt ,thân hình,tiếng nói,v.v...không gây hảo cảm lúc ban đầu,nhưng tổng hợp tất cả lại hoặc là thấy có sự sinh động đặc thù hoặc cử chỉ động tác linh hoạt,phong nhã ,tính tình quả cảm,trung hậu khiến ta sinh long nể phục về sau đều được gọi là trọc trung hữu thanh.
c) Thẩm định ý nghĩa của tương quan thanh trọc :
Trong quan điểm của tướng học, thanh trung hữu trọc được xem là cái đẹp hời hợt,bất túc,trong cái hay đã tiềm ẩn cái dở, nên thường dùng để chỉ trường hợp tốt đẹp bề ngoài,hậu quả tốt chỉ thoáng qua,còn chung cuộc thì rất xấu. Ngược lại , trọc trung hữu thanh được xem là cái xấu biểu kiến phủ ra ngoài cái đẹp thực chất, nhưng vì vẫn là cái đẹp không được thập toàn hoàn mỹ ,nên khi khởi đầu bị vùi dập,sóng gió.về sau mới có kết quả tốt lành.
Cũng bởi lẽ trên, trong thực tế có những kẻ mặt mũi khôi ngô,hoặc dung mạo xinh đẹpmà công danh sự nghiệp hoặc bản thân bị khốn đốn bởi vì sinh ra có cách thanh trung đới trọc.Có những ngu7òi thoáng qua thấy tướng mạo cực kì bần hàn, xấu xí mất cả thiện cảm mà rốt cuộc trở thành đại quý cực phú là vì hợp cách trọc trung hữu thanh.
Dưới nhãn quan tướng học, Thanh được xem là tốt,là quý,vì thế Thanh đồng nghĩa với quý.Trọc bị xem là xấu nên đồng nghĩa với tiện. Ta phải hiểu là tiện và quý trong các sách tướng chỉ dùng để chỉ hậu quả của Thanh và Trọc mà thôi. Hiểu như vậy, những phá tướng về hình thể lẫn tâm hồn đều bị coi là Trọc , dù là ẩn tàng hay biểu lộ .Những nét tướng tốt dù trong hay ngoài, dễ nhận thấy hay là phải khổ công mất nhiều ngày giờ mới khám phá ra đều được gọi là Thanh.
Thanh thì quý đã đành,nhưng như trên đã nói , con người thường thanh trọc lẫn loan ,nên vấn đề đặt ra ở đây là thanh trung hữu trọc tốt hay trọc trung hữu thanh tốt ?Câu trả lời thông thường là trọc trung hữu thanh tốt hơn là thanh trung hữu trọc .Nhưng cái đó cũng chỉ có ý nghĩa và giá trị tương đối vì nó còn tùy thuộc vào nhiều dữ kiện :
1-Thanh trung hữu trọc : thông thường thì tốt nhưng không được toàn mỹ. Do đó, thanh trung hữu trọc thường không tốt đẹp, hanh thông một cách đều đặn, tiền chậu hung. Điều này không có nghĩa tuyệt đối vì :

- Có những trường hợp thanh trung hữu trọc không có tốt đẹp gì đáng kể, mà lại rất xấu nếu những điểm thanh nhiếu, nhưng là những điểm phụ thuộc hoặc thuộc về lượng, còn trọc tuy ít nhưng là điểm căn bản, cốt yếu hoặc thuộc về phẩm.


Thí dụ : Mũi có chuẩn đầu đình uy và gián đài nảy nở đặc biệt(tức là loại mũi sư tử hay huyền đởm tỵ) chủ về giàu có,nhưng nếu bị leach không tương xứng với khuôn mặt hoặc đi đôi với lưỡng quyền nhỏ hẹp và nhọn thì bao nhiêu cái quý của mũi sư tử hướng huyền đởm tỵ bị tiêu giảm gần hết.

Người Mộc tuy thanh nhã,nhưng đấy chỉ là những nét khái quát, nếu đi sâu vào bộ vị ta thấy miệng rộng, mũi hếch tai thuộc loại tiễn vũ nhĩ, sắc da trắng xanh thì đó là tướng phá cách hay nói cách khác đi, thanh trung đới trọc ,kết quả sẽ không ra gì. Kẻ như thế ,khó sống được quá 40 tuổi, còn nói gì đến công danh sự nghiệp.
Ngũ quan tuy toàn hảo nhưng thần mắt suy nhược ,bước chân ẻo lả như sẽ nhảy hoặc xiêu vẹo như rắn bò ngồi gục đầu xuống như cổ chỉ có sụn không có xương thì đấy là tướng yểu chiết chứ không phải là tướng thông tuệ hiển đạt.
Những trường hợp thanh trung đới trọc như trên có thể liệt kê hầu như vô tận và đều là loại thanh trọc đới trọc,có hậu quả chung cuộc không ra gì.
Ngược lại, có những trường hợp thanh trung hữu trọc không có ảnh hưởng xấu tới cá nhân, nếu điểm trọc chỉ là các khuyết điểm phụ tuy hoặc thuộc về lượng . Ví dụ như:
- Người Giáp Mộc pha Kim ,thân hình dỏng cao,ngũ quan toàn hảo nhưng cằm vuông,miệng vuông , sắc da hơi hồng thì chỉ gặp tai ương hay vận hạn không tốt một thời, cuối cùng vẫn quý hiển
- Mũi tốt nhưng sắc da mũi không dược tươi nhuận thì đến vận hạn về mũi không thểphát huy tất cả hảo vận chứ không đến nỗi tốt biến thành xấu.
- Nốt ruồi tuy mọc trên các bộ vị tĩnh hoặc hơi lộ liễu trên gương mặt tuy thông thường là xấu nhưng nếu nó là nốt ruồi son hay đen huyền thì vô hại,v.v...
2-Tương tự như lý luận trên ,Trọc trung hữu Thanh tuy thông thường là có ý nghĩa tốt về sau nhưng cũng không phải là có ý nghĩa tuyệt đối . Sách tướng tuy có câu "Nhất quý đề cửu tiện, nhất tiện phá cửu quý" that đấy, nhưng đấy không phải là chân lý tuyệt đối . Quý ở đây có nghĩa là thanh là tốt, chứ không có nghĩa là quý hiển . Nói khác đi, trọc trung hữu thanh chỉ có hậu quả tốt khi các điểm trọc đó chỉ phụ thuộc, còn điểm thanh trung hữu trọc phải liên quan đến Thần khí, Khí phách hay phẩm chất nội tạng của các bộ vị mà về mặt biểu kiến bị coi là trọc của con người .
Chẳng hạn :
Tướng ngũ lo bị coi là trọc, nhưng mắt lộ mà ánh mắt có thần và hòa ái, mũi lộ khổng màchuẩn đầu mập mạp,môi vẩu mà răng tươi khít và đều,tai bị đảo ngược luân quách nhưng sắc tươi nhuận và trắng hơn mặt : lộ hầu mà âm thanh trong trẻo, có âm lượng thực ra là tướng trọc trung hữu thanh về phẩm chất . Hơn nữa, dựa vào hai điểm mắt có thần và hòa ái, giọng nói trong trẻo có âm lượng ta suy ra kẻ đó thần thanh khí túc. Nói khác đi, có quý tướng ngầm, ngày sau sẽ thành người hiển đạt và trường thọ .
Trái lại,nếu tướng ngũ trọc,nhưng ánh mắt hôn quyện,giọng trong trẻo nhưng thiếu âm lượng thì dẫu các phẩm chất của tai,mũi,miệng có tốt đến đâu cũng chỉ may mắn phát đạt nhất thời, chung cuộc khốn nạn thê thảm.
Tóm lại,trong tướng học Á Đông nguyên tắc thanh trọc chi phối tất cảmọi lĩnh vực quan sát,từ b65 vị đến toàn thân,từ hình tướng đến tâm tướng.Để kết thúc tiểu đoạn này,xin đơn cử một đoạn trích văn của Phạm Văn Viên tác giả cuốn tướng pháp
nổi danh Thủy kính tập như sau :
"Tướng học bàn về Thanh,Trọc tuy nói đến việc quan sát học đường * ,nhưng kẻ tướng pháp thượng thặng thực ra phải đặt nặng việc quan sát thanh trọc vào việc thẩm định mục thần và khí phách xem nó có phối hợp với bộ vị hay không.
Kẻ sáng mắt,thần khí ẩ tàng,nhìn người thì nhìn chính diện và như xạ vào mặt người đối diện, dám nói dám làm,dũng cảm trước việc khó khăn, hay dung người , không câu chấp những sai lầm nhỏ nhặt là kẻ có thần và khí thanh. Dẫu bộ vị có khuyết hãm.khí sắc hôn ám, thân hình không toàn my thì vẫn là tướng quý vì đó là tướng trọc trung hữu thanh ."

* Học đường là lối mệnh danh một số bộ phận của khuôn mặt như mắt, trán ,tai, miệng, lông mày, Aán đường. Lối mệnh danh này chỉ thấy trong các sách viết về tướng trước tác từ các đời Minh,Thanh trở về trước. Ngày nay, lối mệnh danh này không còn thông dụng vì quá rườm rà.


IV. SỰ ỨNG DỤNG CỦA NGUYÊN TẮC THANH TRỌC TRONG TƯỚNG HỌC

Dưới đây là một vài ứng dụng điển hình của nguyên tắc Thanh Trọc :
a) Phân biệt 4 loại quý tướng (Thanh, Kỳ, quái, Cổ) với 4 loại tiện tướng ( Hàn, Trọc, tục, Lậu)
Về hình thức, bốn loại quý tướng kể trên rất giống với bốn loại tiện tướng. Muốn phân biệt quý tướng ta chỉ còn có cách dựa vào nguyên tắc thanh trung hữu trọc ,trọc trung hữu danh . Đời Hán, nhà tướng học danh tiếng Hứa Phu đã luận về bốn loại tướng quý :Thanh, Kỳ, Quái, Cổ như sau :
"Kẻ xem tướng thường quan sát thân hình khôi vĩ, mặt mày sáng sủa toàn vẹn rồi coi đó là tướng quý, ngược lại đoán là tiện tướng , nhưng không biết rằng 4 loại Thanh, Kỳ , Cổ , Quái rất gần với 4 loại tướng Hàn, Trọc, Tục , Lậu.Tướng pháp thường nói:"Bàn về thanh trung hữu trọc , trọc trung hữu thanh là căn cứ vào thần, khí và các học đường nhưng thực ra là chỉ căn cứ vào mục thần cũng tạm đủ để quán thông mọi sự ."
1-Thanh tướng rất gần Hàn tướng :
Thân hình tao nhã,mặt mày thanh khiết, cử chỉ linh hoạt, dáng dấp dịu dàng, mảnh dẻ trông giống như các dấu hiệu non yểu nhưng thịt tuy trắng mà nhuận,ánh mắt không dao động mà tự co thần khí đó là Thanh tướngù chứ không phải là Hàn
tướng (tướng lạnh lẽo chết non).
Hàn tướng cũng giống như Thanh tướng về cách cục bộ vị nhưng ánh mắt quá lạnh, không linh hoạt hoặc thanh tướng về hình hài mà mục quang bất động và trì trệ, hoặc tai trắng như sương hay hồng như lửa mà khô xạm .
Thanh tướng chủ quý và thọ vì tinh thần sáng suốt, thọ căn ổn cố,Hàn tướng thì thần thiêu phách tán ,thọ mạng ngắn ngủi.
2-Kỳ tướng giống như Trọc tướng :
Mắt lộ mày đậm, khuôn mặt to lớn khác thường , hình dáng thô kệch xấu xí, nhưng mắt tuy lộ mà có thần khí ẩn tàn , mày tuy đậmmà sợi lông mày tươi mịn, phủ kín mi cốt nên mày có tú khí( tức là trọc trung hữu thanh). Kẻ như vậy là ký tướng (tướng lạ) chứ không phải là trọc tướng ( tướng lỗ mãn, trông mất tình cảm) Ngược lại, Trọc tướng cũng giống như Kỳ tướng về hình hài,nhưng mắt lộ mà vô thần hoặc có thần quang mà mục quang hung bạo: mày tuy đậm mà sợi thô xoắn tít,không phải bao phủ hết mạng vận.Kì tướng là tướng phát đạt, nổi tiếng hơn người còn Trọc tướng là hạ tiện, phi bần tắc yểu
3-Cổ tướng giống như Tục tướng :
Các bộ phận chính của khuôn mặt đều lộ, nhưng lộ mà khuôn mặt đầy đặn, da thịt tươi nhuận có sinh khí, răng tuy thưa vàng nhưng vững chắc và bóng , một màu tin khiết, thần khí an tĩnh thì đó là Cổ tướng( tướng người cục mịch quê mùa) chứ không
phải là Tục tướng ( tướng kẻ tầm thường không bao giờ khá được)
4-Quái tướng giống như Lậu tướng :

Hình hài, mặt mũi quái gở, không giống thế nhân, tỷ như mặt đen như lọ chảo, thân hình kệch cỡm, nặng nề, nhưng nếu trong các xấu xí đó mà ánh mắt như mắt lân, mắt phượng, khoan hòa mà có uy răng trắng và đều,chuẩn đầu tròn trịa, nở nang , khí phách quảng đại thì đó là Qúai tướng ( tướng xấu lạ lùng, ít ai có) chứ không phải là Lậu tướng ( tướng dị hợm khiến người nhìn phải ớn lạnh)
Các lọai tướng Kỳ ,Qúai,Cổ tuy là kỳ dị, dị dạng bề ngoài, nhưng bề trong thật là quí nhân, dễ dàng trở thành đại dụng.Họ khác với bọn tiện nhân( Trọc, Tục hoặc Lậu tướng) ở chỗ một đàng thần khí thanh sảng, một đàng thần khí ngưng trệ, thoáng nhìn thì có vẻ thô tục mà thẩm sát kỹ càng thì lại thấy tú khí hiện ra
Một lần nữa ta thấy thần khí và khí phách vẫn là tiêu chuẩn phân biệt nét quí trong nét tiện , nét thanh trong nét trọc

b) Phân biệt phần tiện trong , tướng quý : phần quý trong tướng tiện của đàn bà :

Tướng pháp cổ Trung Hoa thường phân tích tướng đàn bà thành thiện và ác tướng, dựa trên thân hình diện mạo. Thiện tướng được coi là quí ,ác tướng bị xem là tiện .Nhưng đó chỉ là cách nói tổng quát, chưa đầy đủ và không đi sát thực tế. Muốn dược chuẩn xác phải phối hợp cả Thanh lẫn Trọc phương trộn lẫn nhau trong một con người.Nói khác đi phải áp dụng nguyên tắc thanh trung hữu trọc, trọc trung hữu thanh khi đánh giá phẩm tính phụ nữ qua việc quan sát diện mạo ( thiện tướng hay ác tướng)
1) Quý trung hữu tiện
Tướng mạo phụ nữ coi thanh nhã, cao quí mà tính tình đê tiện là bởi vì trong cái thanh có lẫn cái trọc, tuy nhỏ nhưng chủ yếu cho nên thoáng qua thì xếp vào quí cách nhưng nhìn kỹ thì phải xếp vào loại tiện.Sau đây là các đặc thái quí trung hữu tiện:
  • Ngũ quan đoan chính mà da dẻ thô xạm ­ ngũ quan đoan chính là mắt sáng và lớn , lông mày mịn và đẹp, môi đều đặn, răng tươi khít, tai có luân phách phân minh , mũi thẳng
  • Bình thường thì đó là quí cách nhưng ngũ quan đoan chính mà da dẻ thô xạm , nóng khô thì đó là thanh trung hữu trọc, hình hài tốt mà thực chất không ra gì
  • Trán đầy đặn mà khi đi hay ngoái cổ nhìn lại phía sau ­ Trán đầy đặn biễu hiện cho sự đắc cách về trí tuệ nhưng kẻ hay đi ngoái cổ nhìn về phía sau là kẻ đê tiện, dâm đãng ngầm.
  • Mày dài đẹp, uốn cong, mắt sáng sủa nhưng mép có ria khá rõ, cằm có lông mày khá đậm giống như râu- Mày thanh, mắt đẹp là tướng mỷ nhân nhưng phía dưới cằm và môi trên có lông mănh nổi rõ sắc đen lai nam tính biểu trưng cho sự cứng rắng , thô lộ, kém nhu thuận
  • ngũ nhạc đôn hậu mà sắc mặt kinh hoàng ­ Ngũ nhạc ( cằm , trán , mũi , lưỡng quyền ) đều ngay thẳng , cao và rỏ, có thế nhưng ánh mắt kinh nghi là hình hữu như mà thần bất túc, tựơng trưng cho sự non yếu, không tự chủ
  • Đứng ngồi ngay ngắn tề chỉnh mà lại cắn ngón tay ­ Đứng ngồi ngay ngắn tề chỉnh là kẻ khiến người khác phải nể vì không diện kiến nhưng hay cắn ngón tay ( hoặc móng tay ) lại là biểu tượng nội tâm dâm đãng, chỉ trọng điều sắc dục hơn là đạo lý. Nói khác đi, đó là tướng dâm ngầm mà bề ngoài lại có vẻ đạo đức, uy nghi
  • Thanh âm rõ ràng , trong trẻo, mà thần thái đờ đẫn, hay cười với kẻ đối thoại ­ Thanh âm rõ ràngvà trong trẻo là biểu hiện khí chất đầy đủ , cơ thể khỏe mạnh , nhưng thần say, cười mỉm lại là kẻ dể bị quyến rũ vào con đường trụy lạc vì không đủ óc tự chủ và tính trinh tháo
  • Mặt mũi thanh tú mà da dẻ quá lạnh, thần thái quá thanh khiết ­ da dẻ quá lạnh thần thái quá thanh thì sự thái quá đó biến thành hàn tướng chứ không phải quí tướng . Do đó , kẻ hàn tướng là kẻ thọ căn mong manh, không trường thọ
2) Tiện trung hữu quí

Đàn bà mà có bộ vị trên mặt như sơn lâm ( hai bên mép tóc ở trán ) bị sẹo hoặc rụng tóc, tóc quá đậm mà thô, mắt thô trọc và giọng nói rõ, mũi quá xẹp và nhỏ , ngừơi Mộc pha Kim ( cao ốm mà da trắng bệch ) mày quá mày lạt, tai nhỏ , trán thấp...bị xếp vào loại tướng không tốt, lấy làm vợ tất đưa đến tai hại, nhưng nếu:
  • Sơn lâm bị phá khuyết hoặc có sẹo mà mũi và các bộ vị liên hệ đày đặn, hợp cách và liên hoàn.
  • Tóc đậm , thô mà lông mày dài đẹp. Mi cốt nổi nhưng không thô
  • Mũi nhỏ, bằng, không có chuẩn đầu đẹp, nhưng ánh mắt ngay thẳng , thần thái an hòa
  • Môi vẩu, răng lộ nhưng tóc mịn, sắc tươi
  • Mắt thô trọc , tiếng rè mà cằm vuông vắn, đầy đặn, triều củng về mũi một cách tương xứng
  • Nguời Mộc Pha Kim mà ít nói, điềm đạm, tính tình lãnh đãm vừa phải.
  • Hơi ngắn , mày lạt và thưa mà thần sắc an nhiên, không kinh hoàng, không biến sắc khi gặp việc rắc rối
  • Tai nhỏ , trán thấp nhưng mày đẹp, mắt trong sáng ẩn tàng và chuẩn đầu nhỏ, nở thì đó lại là tiện trung hữu quí , phải phân định là hậu vận sẽ tốt đẹp chứ không thể coi là tiện tướng để quyết đoán là vận mạng sẽ không ra gì
Theo nhà tướng học hiện đại rất nổi tiếng là Ngã Thị Sơn Nhân thì nhận định trên là rất đúng .Do đó, trong cuốn tướng mạng giảng tọa ông đã đặc biệt chú trọng tướng mạo phụ nữ và viết thành một thiên khảo cứu đặc biệt.
IV - MỘT VÀI GIAI THOẠI VỀ THANH , TRỌC

Thuật ngữ tướng học có câu nhất quý đề cửu tiên. Nhất tiên phá cứu quí , nghĩa là một nét tướng đôi khi chóng đỡ được chín nét tướng xấu nhiều khi phá hư chín nét tướng tốt.Câu nói này không phải chú trọng đến số lượng một hay chín vì đó chỉ là lối nói quá đà cho thuận miệng mà chỉ có nghĩa là trong phép xem tướng nhiều khi trên người một cá nhân có nhiều nét tướng xấu. Ngược lại, đôi khi có rất nhiều nét tướng tốt, chỉ cần một phá tướng đủ để làm tiêu tan những cái hay của các nét tướng tốt kể
trên.Để chứng minh lập luận trên xin đơn cử bằng hai câu chuyện dưới đây:
1.- Nhất tiện phá cửu quí
Vào đầu thế kỷ 20 ở Bắc Kinh, tại một đại thanh lâu kỷ việngọi là Bát Đại Hồ Đồng , có một danh kỹ thanh lâu tên l2 Thái Phượng người gốc Tô Châu, có nhan sắc chim sa cá lặn, nổi danh là hoa khôi của Bắc Kinh, chẳng những nhan sắc , vóc dáng mà cả thanh âm lẫn tác phong của nàng cũng rất mực tao nhã không ai sánh kịp. Trông thấy nàng không ai có thể nghĩ rằng một vị hằng nga tái thế , dáng dấp quí phái hiền thục như thế mà lại sa chân vào chốn bùn nhơ.Theo tục lệ ở bên Tàu , các vị vương tôn đại thần đều thường lui tới kỹ viện, thấy hoa khôi vừa ý là xuất tiền mua về làm ái thiếp nên ít khi có một hoa khôi thanh lâu nào lại trầm luân quá một năm mà không được một đại thần nào hay phú ông ra tay tế độ.Trường hợp Thái Phượng thì ngược hẳn, tài sắc và dáng dấp của nàng gần như là xưa nay chưa từng có , thế mà ở kỹ viện bậc nhất thành đô đã gần 5 năm mà không có ai chuộc về làm thiếp. So với các bạn được hoàn lương hửng phúc , Thái Phượng đáng liệt vào hàng vợ bé của các đại thần nhất phẩm,Trước biệt lệ này, các danh sứ tướng học cả nước đều không tìm ra được đáp số.Hầu hết các nhà xem tướng đều thấy nàng thập toàn thập mỹ, thật xứng đáng sánh duyên với các vị đại thần.Mãi về sau ,nhân có vị tướng số họ Vi được coi là đệ nhất Trung Hoa đương thời đến du ngoạn Bắc Kinh, nhóm tướng sư tại đây mới mang chuyện hy hữu này ra thảo luận nhưng không cho biết mặt Thái Phượng và thân phận của nàng
Một bữa nọ , có con của một vĩ đại phú thương ở Thiên tân nghe danh tài sắc cụa Thái Phượng muốn nạp nàng làm thiếp.Vị công tử này tuổi đã ngoài tam thập , đã có hai vợ nhưng đều sanh con gái, ý muốn lấy thêm Thái Phượng để mong có chút con trai nối dõi tông đường .Do đó , bà mẹ của chàng ta đích thân tới Bắc KINH MỜI Thái Phượng tới một đại tửu lầu ăn uống để nhân dịp quan sát và thẩm định tướng mạo nàng dâu tương lai. Trước mặt mẹ chồng tương lai, Thái Phượng ăn mẵc đúng kiểu con nhà khuê các, không phấn son lòe loẹt, nói năng lại càng giữ gìn hơn bao giờ hết.Những kẻ chua từng gặp nàng tại thanh lâu đều không dám ngờ đó là hoa khôi của giới làng chơi.Dể thử tài họ Vi, nhóm đồng nghiệp trên ngồi cách đó vài bàn nói cho họ Vi biết đó là tiểu thư họ Lý và nhờ họ Vi chỉ điểm xem tương lai và vận mạng của Lý tiểu thư ra sao
Trước sự ngạc nhiên và thán phục đến tột độ của họ, vị tướng sư họ Vi , sau khi quan sát kỹ Thái Phượng . nhìn kỹ màu sắc làn môi , nghe tiếng nói đã cho người ta biết rằng: Thái Phượng về mặt ngoại biểu là thập toàn , thập mỹ, nhưng đó chỉ là phần ngoại ngũ hành . Về phần nội ngũ hành qua giọng nói nói và màu sắc làn môi nhân dịp không hóa trang ông đã khám phá ra có sự khuyết hãm.Tổng hợp phép vọng khí quan sát độc đáo của mình,họ Vi đi đến kết luận là Lý tiểu thư có ám tật trong người, khiến nam giới có kinh nghiệm ăn chơi sau một lần chung chăn gối đều hoảng sợ lảng xa .Vì vậy thoáng trông qua là quí tướng vì thuộc về loại nhất tiên phá cửu quí .Người như thế là hồng nhan bạc phận, chỉ đáng làm kỷ nữ lầu xanh mà thôi.Tướng quí của nàng chỉ là giả quí còn tiện lại là chân tiện nên số kiếp ắt không ra gì.
2) Nhất quý đề cửu tiện
Cuối đời Mãn Thanh , niên hiệu Quang Tự, Tổng đốc Qủang Châu là Trương Thụ Thanh, hình dáng thật là tiện tướng.Theo lời mô tảcủa người đương thời còn truyền lại thì họ Trương có lỗ mũi vứa to vừa hếch, miệng lớn như chiếc chậu, tai nhõn như tai chuột.Căn cứ vào tướng người thì không ai có thể nói đấy là vị nhất phẩn triều quan.Thế má họ Trương lại xuất thân tiến sĩ,cuộc đời sóng yên gió lặng, thăng dần đến chức Tổng đốc, gần như một ông vua con.Họ Trương cũng tự biết mình tướng quái dị,không biết quý ở chỗ nào.Bởi vậy,ông ta khổ công tìm tòi, nghiên cứu sách vở, nhờ thầy coi tướng nhưng không ai tìm thấy quí tướng ở đâu cả
Một ngày kia khi miếu Thành Hoàng ở Qủang Châu ( thủ phủ tỉnh Qủang Đông) họ Trương cải dạng thànj dân thường đến quan sát các gian hàng coi tứong thấy có một vị tướng sư tự xưng là tài ba nhất vùng hiệu là Tái Quân Bình , rành nghề coi tướng ,lấy thù lao rất nặng.Mỗi lần coi là một lượng vàng, Trương cho là ông thầy bói này có thể tin được bèn bước vào quán,Vừa thấy Trương,Tái kêu lớn:" Đại Nhân". Trương tưởng thầy tướng đã nhìn ra nét quý tướng của mình nên mừng lắm, lại nghĩ rằng nơi có đông người đàm đạo bất tiện mới gọi phu kiệu rước Tái Quân Bình về dinh Tổng đốc rồi kính cẩn nói" Tôi tự biết mình không có điểm nào khả thủ, phiền tiên sinh chỉ điểm cho nỗi niềm thắc mắc lâu nay"
Thẩm biện quan quan sát nhiều lần từ đầu đến chân vị Tổng đốc quyền uy, sau cùng lắc đầu tạ tội. Trương hỏi: " thế lúc ở trước miếu Thành hoàng , ông kêu ta là đại nhân thì dựa vào đâu?"
Tái đáp: " Cái đó là do quan lớn làm quan lâu ngày nên có khí tướng ung dung bệ vệ của một quan trưởng, tiểu nhân thốt nhiên kêu liền chứ thật quả là không phải do xem tứong mà đoán ra.Cứ như sách vở , thì bề ngoài tướng quan lớn không phải là tướng quý hiển

Trương thấy Tái tính tình thành thật, hậu thưởng rồi tiễn chân ra cửa.Trong lúc sánh vai bước xuống thềm nhà.gia nhân của Trưong có việc khẩn cần phải bẩm trình từ hậu thất chạy ra miệng kêu lớn:" Đại nhân! Đại nhân" .Trương quay đầu lại , chính lúc đó Tái Quân Bình phát hiện ra nét quý tướng của Trương.Tái vội vàng bước ra sảnh đường nói rõ cho Trương biết, nguyên là trong lúc bất ngờ, họ Trương quay đầu lại phía sau, thân mình không chuyển động , chỉ có đầu quay một nửa vòng tròn một

cách dể dàng tự nhiên.Sách tướng gọi đó là Long đầu cách cục rất hiếm có, kẻ nào có được thì quan đến cực phẩm triều đình.
Nghe xong lời giải thích , Trương Thụ Thanh mới vỡ lõ ra rằng mình quí hiển như vậy là do ở tướng Cửu tiên nhất quý mà ra , trong lòngrất khâm phục tài quan sát bén nhạy của Tái Quân Bình ,bèn thưởng thêm rất nhiều tiền bạc và từ đó như cất
được gánh nặng canh cánh bên lòng.
Trong cuộc vận động văn họcTrung Hoa vào khoảng 1917, tại Đại học đường Bắc Kinh có hai nhân vật được mọi người coi xuất sắc nhất và có ảnh hưởng nhất đối với việc phổ biến văn học mới trong giới trẻ là Hồ Thích và Trần Độc Tú . Cả hai đều là giáo sư đại học, nhưng lúc đó Trần Độc Tú nổi tiếng hơn vì đang giữ chức khoa trưởng Văn Khoa
Giữa lúc hai nhân vật trên đang thao túng văn đàng Trung Hoa có hai nhà tướng học khét tiếng là Thái Tứ Gia va øĐiếu Kim Ngao đã xem tướng hai người và đưa ra nhận xét sau đây:
Đứng về mặt nhân tướng học , cả Hồ lẫn Trần đều là loại tướng thượng cách, nhưng chỉ ở mức thượng thừa của thượng cách mà thôi .Cả hai đều thuộc loại người " Quý mà không có thực quyền , danh cao hơn vị". Tuy vậy đi sâu vào các chi tiết thí quý cách của Hồ và Trần có nhiều điểm dị biệt.Họ Hồ thì thuộc loại trọc trung đới thanh còn Trần Độc Tú thì thanh trong đới trọc . Theo thẩm định của hai nhà tướng học trên thì quý cách của Hồ Thích có hậu vận tốt đẹp hơn quý cách của Trần Độc Tú .Hồ Thích cận thị , lông mày hơi đậm , giữa khoảng lông mày và mắt không có gì đặc biệt hơn người nhưng nhình chung là tướng người trung hậu. Trái lại Trần Độc Tú thì mi thanh mục tú , chưa nói thành lời mà khoảng giữa hai lông mày lẫn mắt đã có vẻ như muốn nói thành lời, khiến người nghe dễ sinh thiện cảm. Chẳng những mi thanh mục tú ,Trần Độc Tú còn có dáng dấp thanh nhã , anh tuấn,phong độ tiêu sai, giọng nói có âm điệu trầm bổng rất hấp dẫn người nghe. Người ngoài nhìn qua lông mày cặp mắtcủa họ Trần nhận ra ngay là các bộ vị có hai đặc điểm : cao và thanh tú . Mày cao có hai nghĩa , khoảng cách giữa chân lông mày và mắt xa nhau tức là lông mày không ăn lan xuống bờ mắt. Nghĩa thứ hai là đuôi lông mày cao hơn hai tai . Kẻ có lông mày cao , theo nghĩa thứ nhất là kẻ thông minh , tính tình phóng khoáng , cao theo nghĩa thứ hai thì về mặt mạng vận sẽ có vị cao danh trọng.
Còn thanh tú nghĩa là lông mày màu đen , không tạp loạn , tuy không quá thưa nhưng cũng không quá cao và dày, chỉ với đủ để người ngoài nhìn thấy đước chân sợi lông mày. Người có loại lông mày thanh tú bất luận lông mày dài ngắn là kẻ thông tuệ xử sự phân minh dứt khoát . Thêm vào đó , mắt Trần Độc Tú rất đẹp . Do bởi tướng quý đó , ông ta là một bậc danh tiếng vào bậc nhất trong giới đại học thời đó.
Về " Mi đậm mắt trọc " dưới con mắt phàm tục thì đó là tướng xấu nhưng dưới nhãn quan tướng học thì không hẳn là xấu, nếu như trong caái trọc có cái thanh . Đối với những kẻ mới học nghề coi tướng nhìn thấy được cái trọc trong cái thanh cũng như cái thanh trong cái trọc là những điều rất khó. Chính là dựa vào việc xem tướng Trần Độc Tú thanh trung đới trọc mà cả Điếu Kim Ngao lẫn Thái Tứ Gia đều quyết đoán là hậu vận của Trần Độc Tú sẽ không ra gì.Tuy vậy , phép tìm ra điểm trọc trong sự thanh tú của họ Trần giữa hai nhà tướng học kể trên không giống nhau. Điếu Kim Ngao căn cứ vào hình tướng nhiều hơn, đã tìm thấy trong sự thanh tú của họ Trần bị các điểm trọc sau đây làm vẩn đục :
- Mắt sáng nhưng ánh mắt không định
- Tiếng nói thường hụt hơi ở cuối câu.
- Bước chân đi thiếu vững vàng.
- Gịong cười , tiếng nói không được thuần khiết, trong trẻo, tướng pháp gọi là
Tiếu thanh bất dương .Những điểm kể trên làm quý cách của Trần Độc Tú bị phá vì thanh trung đới trọc và báo trước hậu vận khốn đốn.

Trái lại, Trái Tứ Gia thì căn cứ vào thần khí để xét tính cách thanh trung đới trọc của họ Trần , đại để :

- Lúc trầm ngâm thì lông mày xoắn tít lại như các vòng xícch là dấu hiệu thô về ý.
- Nhan diện không được thuần khiết và có tạp sắc tức là tạp về sắc.
- Tú khí của mắt không tướng học tànglà kẻ tinh hoa phát tiết ra ngoài nên cũng bị coi là một loại thần trọc.
Các điểm trọc trên ẩn tàng trong cái thanh tú đả khiến Trần Độc Tú sẽ bị trầm kha , khốn đốn trong buổi vãn niên.

Những lời luận tường kể trên được đăng trên báo chí . Lúc đó Trần Độc Tú còn là ngôi sao sáng chói trên văn đàng và chính giới Trung Hoa, nên trước những lời đoán tướng , Trần Độc Tú chỉ cười và nói rằng " Những chuyện xảy ra chính tôi còn

chưa biết được làm sao dám tin tướng số?".
Thời gian trôi qua rất mau, mười năm sau , tức là khoảng 1927 , Trần Độc Tú vốn là một nhân vật lãnh đạo cao cấp của Đảng cộng sảnTrung Hoa , vì bất đồng ý kiến với phe Mao Trạch Đông nên bị khai trừ ra khỏi Đảng. Đến khi cuộc chiến Trung Hoa ­ Nhật Bản bùng nổ , Trần phải chạy về trùng khánh. Vì Trần là một yếu nhân của cộng đảng nên tuy bị khai trừ rồi mà vẫn bị phe Tưởng Giới Thạch giam giữ . Sau đó tuy được ân thích, nhưng vẫn không đất dung thân phải ở lại Trùng Khánh và thuộc trong cảnh bệnh tật ngoài túng giữa thời kỳ chiến tranh Trung ­ Nhật đang bộc phát.
Về phần Hồ Thích , hai nhà tướng học trên cho rằng : ngược lại với tướng của Trần Độc Tú tướng của Hồ thuộc loại quý tướng vì thanh trung hữu trọc do hai điểm sau đây :
- Lông mày tuy đậm và áp tới mắt, nhưng mắt của Hồ Thích lại cận thị tức là vô quang sắc, mỗi khi cười nói , mặt mũi tươi tỉnh , tỏa ra vẻ hòa ái , sảng trực.
- Về cách đi đứng , nằm ngồi tướng của Hồ Thích giống hệt loại tướng Hạc.
Quý tướng của Hồ Thích là ở chổ đó. Hai nhà tướng học còn quyết đoán là nếu Hồ rời bỏ học giới đổisang chính giới thì tương lai sẽ còn cao xa hơn nữa. Lúc đó Hồ còn đang làm giáo sư văn học tại viện đại học Bắc Kinh . Khoảng mấy năm trước khi có vụ tranh chấp rồi đi đến xung đột Hoa ­ Nhật , nhân vì Hồ đả kích Uông Tinh Vệ nên sau này phe chính quyền kháng Nhật biết tiếng và từ đó Hồ gần như bỏ nghề giáo sư mà chuyển sang chính giới . Qủa nhiên , trong môi trường mới , Hồ nổi danh còn hơn lúc ở học giới đúng như lời dự đoán của Điếu Kim Ngao và Thái Tứ Gia. Khi Hồ làm Đại sứ Trung Hoa dân quốc tại Mỹ, có người mang chuyện này hỏi lại , Hồ trả lời rằng :" Việc tôi làm đại sứ thật là một điều lạ . Tôi vốn không tin vào vấn vấn đề vận mạng dù rằng lời dự đoán có trúng thì chẳng qua chỉ là ngẫu nhiên. Tuy vậy, tôi phải nhận chân rằng trong trời đất quả thật có những việc mà mình không thể tự chủ hoặc không hề nghĩ tới mà nó vẫn xảy ra".
Reply With Quote
Old 19-11-2010, 10:27 PM   #23
Uất Kim Hương's Avatar
Uất Kim Hương
Senior Member

 
Join Date: Nov 2009
Đã Cảm ơn: 4,189
Được cảm ơn: 3,170 lần/2,017 bài
Blog Entries: 27
Status:Uất Kim Hương is offline
 
Uất Kim Hương is on a distinguished road

Default

CHƯƠNG THỨ HAI
NGUYÊN LÝ ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH TRONG TƯỚNG HỌC

ÂM DƯƠNG VÀ NGŨ HÀNH TRONG VŨ TRỤ QUAN TRUNG HOA :


a) Lược sử :


Thuyết Aâm Dương Ngũ hành đã được đề cập đến trong một tác phẩm thành văn tối cổ Trung Hoa là kinh Dịch .Tuy vậy.kinh Dịch của Khổng Tử chỉ là sự thâu nhập các kiến thức và quan niệm của người xưa từ thời vua Phục Hy lưu truền đến đời

Khổng Tử.Khổng Tử chỉ góp nhặt và suy diễn thêm cho thành một hệ thống và ghi lại thành văn bản cho hậu thế mà thôi.
Theo truyền thuyết , người nhận thức được các lẽ Aâm Dương biến hóa của trời đất , vạn vật là vua phục Hy (khoảng 44 thế kỉ trước công nguyên), người minh thị đề cập đến cái d5ng củaNgũ hành là vua Hạ Vũ (khỏng 22 thế kỉ trước Tây lịch)
Đến thế kỉ thứ 3 trước Tây lịch,tại nước Tề (nay là tỉnh Sơn Đông) ,có học giả Trâu Diễn , căn cứ vào kinh Dịch , đã phổ biến và hết tinh thần và công dụng của âm Dương,ngũ hành không những vào sự vật thiên nhiên mà còn vào con người nữa . Do đó,người đời sau coi Trâu Diễn như người khai phá ra phái Aâm Dương . Phái này chính là nguồn gốc của phái Lý-Số do các học giả đời Tống sau nay sáng lập.
Đến đời Hán,học giả Dương Hùng (53 trước Tây lịch-20Tây lịch) tham bác kinh Dịch và Đạo đức kinh mở ra ngành Lý-Số học sơ khai qua tác phẩm Thái huyền kinh.
Đến đời Tống sơ (khoảnh thế kỉ 10) ,một nhân vật Đạo gia kiêm Nho gia là Trần Đoàn ,tự là Đồ Nam,hiệu là Hi Di tiên sinh ,tinh thông cả Lý-Số hoc của các nhà đi trước đã tổng hợp các kiến giải về lý Thái cực của vũ trụ, lấy lượng số mà xét sự vậnchuyển của Trời Đất , suy diễn ra hành động của vạn vật mà áp dụng các hiệu quả của lý Thái cực vào Nhân tướng học đến giải đoán tâm tình , vận số của con người , mở đầu cho Lý-Số học và Tướng số học.
Từ đó về sau ,quan niệm Aâm Dương, Ngũ hành được áp dụng rộng rãi vào Nhân tướng học và thành ra một thành tố bất khả phân trong tướng thuật .

b) Nội dung của thuyết Aâm Dương , Ngũ hành :


Theo cổ nhân Trung hoa, lúv đầu vũ trụ chỉ là một khối hỗn độn,không có hình dạng rõ ràng được gọi là thời Hỗn mang. Trong sự Hỗn mang đó, bàng bạc cái lẽ vô hình linh diệu gọi là Thái cực.(Sở dĩ gọi nó là Thái cực vì nó huyền bí và vô tận nên không thể xáx định rõ bản thể của nó ra sao ).

Tuy nhiên, dù không biết được cái chân tính và cái chân chất của cái lẽ Thái cực huyền vi song ta có thể dựa vào sự quan sát về tính cách biến hóa của vạn vật mà suy ra được cái động thể của Thái cực. Căn bản của sự biến hóa được biểu lộ bằng hai trạng thái tương phản là Động và Tĩnh .Động gọi là Dương, tĩnh gọi là Aâm .Dương lên đến cực độ lại biến ra Dương .Hai cái trạng thái tương đối của cái Bản thể nguyên khởi duy nhất (Thái cực) cứ tiếp diễn mãi, điều hợp với nhau, sinh sinh hoá hóa không ngừng mà sinh ra Trời Đất,Người cùng vạn vật. Vì Aâm Dương phối hợp đunđẩy lẫn nhau nên có sự biến chuyển, Sự biến chuyển chính là nền tảng của Dịch .Do đó, trong phần chù giải kinh Dịch, Khổng Tử đã nói : "Aâm nhu Dương cương, Cương nhu tương thôi sinh nhi biến hóa " (nghĩa là Aâm thì mềm,Dương thì cứng, cứng mềm đun đẩy nhau chuyển hóa thành thiên hình vạn trạng ).
Theo cổ nhân, mỗi chu trìh gồm 4 giai đoạn :


a)Nguyên :khởi đầu của sự biến hóa


b)Hanh :sự thông đạt, hội hợp các thành tố.


c) Lợi : sự thỏa đáng các điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng.

d)Trinh : sự thành tựu chung cuộc của một chu trình sinh ra sự vật.
Biến hóa là ngoại biểu của Thái cực mà đạo Dịch căn cứ trên sự biến hóa của vũ trụ và vạn vật. Do đó, kinh Dịch mô tả diễn trình tiến hóa (Dịch) một cách khái quát như sau :
"Dịch hữu Thái cực sunh lưỡng nghi, luỡng nghi sinh tứ tương, tứ tương sinh Bát quái, Bát quái sinh Ngũ hành : đạo Dịch có nguồn gốc là Thái cực , Thái cực sinh ra hai Nghi ( Aâm và Dương) , hai Nghi sinh ra bốn Tương (bốn trạng thái tượng trưng
là bốn mùa :xuân, hạ thu , đông), bốn tượng sinh ra tám Quẻ (Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài) tượng trưng cho Trời , Đầm, Lửa, Sấm, Gió, Núi, Nước, Đất ), tám Quẻ sinh ra năm Hành (năm loại nguyên tố cấu tạo ra vạn vật hữu hình :Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ)
Khởi đầu của sự biến hóa rất đơn giản, rồi từ cái đơn giản đó mà chuyển hóa dần dần thành cái phồn tạp. Vì âm Dương là hai thành tố đầu tiên trong vũ trụ , nên kinh Dịch chọc là biểu tương căn bản và tượng trưng bằng hai cái vạch đơn giản:
a)Vạch liên tục ( _ ) tượng trưng cho Dương .
b)Vạch gián đoạn (- - ) tượng trưng học âm.
Trong phép biến hóa để sinh ra Bát quái, hai vạch tượng trưng cho Aâm Dương lần lượt chồng chất lên nhau theo nền tảng tam tài mà thành ra tám Quẻ căn bản với hình dạng và ý nghĩa tượng trưng sau đây :
1-Kiền tượng trưng cho Trời .
2-Đoài tượng trưng cho Đầm, Ao
3-Ly tương trưng cho Lửa
4-Chấn tượng trưng cho Sấm
5-Tốn tượng trưng cho Gió
6-Cấn tượng trưng cho Núi
7-Khảm tượng trưng cho Nước
8-Khôn tượng trưng cho Đất.
Đó là tám Quẻ nguyên thủy gọi là "Tiên thiên Bát quái" do vua Phục Hy (4477-4363) trước Tây lịch vạch ra để giải thách cái lẻ AâmDương biến hóa của Táhi cực .
Về sau vua Hạ Vũ (2205-2163) trước Tây lịch đặt ra Cửu Trù ( chín phép lớn) phối hợp với Bát quái và tính cái số của Ngũ hành trong việc giải thích lẽ biến hóa của vũ trụ và vạn vật.
Tới đời Tây Chu , vua Văn Vương , trong thời gian bị giam ở ngục Dũ Lý ( khoảng thế kỷ 11 trước Tây lịch ) đã dành thì giờ nhàn rỗi diễn lại các quẻ tiên thiên Bát quái của Phục Hy thành tám quẻ , Bát quái mới gọi là hậu thiên bát quái với các ý nghĩa thiên về nhân sự để dùng vào việc bói toán và suy gẫm việc người . Con Văn Vương là Chu Công Đán về sau có giải thích thêm đôi chút về ý nghĩa và công dụng của quẻ Bát quái, nhưng rất ngắn và mơ hồ , chỉ có các kẻ có thiên tư đặc biệt được tâm truyền mới ánh mắt hiệu được .Tình trạng của Dịch lí từ thượng cổ đến trước khi Khổng Tử ra đời chỉ có như thế mà thôi.
Đến đời Đông Chu , Khổng Tử (511-478 trước Tây lịch ) đem kiến giải của mình bổ sung vào các điều truyền lại của Dịch lý đời Chu, san định lại và viết thành Kinh dịch trong đó bao gồm cả Aâm Dương ,Bát quái và Ngũ hành.
Căn cứ theo ý nghĩa thông thường , cổ nhân gán cho Âm Dương Ngũ Hành các ý nghĩa tượng trưng sau đây :
Dương : tượng trưng cho mặt trời, lửa, ánh sáng ,sinh động, cứng cát,ban ngày, đàn ông....
Âm :tượng trưng cho mặt trăng ,tối tăm, nguội lạnh, bất động, mềm nhão,ban đêm,đàn bà....
Kim: vàng, bạc hiểu rộng ra là tất cạ các chất kim thuộc.
Mộc: cây trong rừng, nói tổng quát ra là mọi thực vật trên mặt đất.
Thủy: nước và nói rộng ra là các chất lỏng.
Hoả: lửa , hơi ấm
Thổ: đất đá , nói chung Thổ bao gồm mọi loại khoáng chất trừ kim loại .
Về phương diện siêu hình Aâm Dương không phải là cái khí vật chất hữu hình thể mà chỉ là cái biểu thị tượng trưng cho hai trạng thái tương đối, mâu thuẫn như nóng lạnh, sáng với tối, cứng với mềm, sinh với diệt, khỏe với yếu...
Về phương diện ý nghĩa siêu hình của ngũ hành , ta củng đi đến kết quả tương tự Kim ,Mộc, Thủy,Hỏa ,Thổ, ngoài tính cách vật chất của nó kể trên có một ý nghĩa tượng trưng cho tính cách tương sinh, tương Khắc trong sự biến hóa của muôn vật diễn
ra hàng ngày trước mắt.
Trong tướng học , người ta rất chú trọng đến Nhũ Hành và thường hiểu Kim, Mộc ,Thũy, Hoả, Thổ theo cả hai ý nghĩa : vật chất lẫn siêu hình qua sự tượng hình chuyển ý của văn tự từ nghĩa hẹp đến nghĩa rộng.
a) ảnh hưởng của thuyết ngũ hành trong nhân sinh quan Trung Hoa :

Từ quan niệm là một lý thuyết triết học thuộc phần Hình nhi thượng từ đời Tống trở đi, Aâm Dương thuộc Ngũ Hành được đem áp dụng vào lãnh vực Hình nhi hạ. Đại đa số học giả Trung Hoa và các dân tộc Á Đông chịu ảnh hưởng văn hóa sâu đậm của Trung Hoa đã dùng lý thuyết Ngũ hành đem giải thích và gán ghép các đặt tính của vật chất được siêu hình hóa của Kim, Mộc ,Thủy, Hỏa , Thổ vào các lãnh vực thường dụng của nhân loại, điển hình là các trường hợp sau đây:
1) Phương hướng , màu sắc, bốn mùa

b)- Mộc tượng trưng cho mùa ,màu xanh, phương đông

Mùa Xuân khí hậu mát mẻ như sương buổi ban mai, biểu hiện khởi đầu của một chu trình biến hóa mới của vạn vật bắt đầu hồi sinh và tăng trưởng.Mặt đất về mùa Xuân ,đâu đâu cũng một màu xanh thắm,Thái dương bắt đầu mọc ở Phương Đông .Tất cả đều bàn bạc ý nghịa cụa Aâm Dương tương thôi với Dương lấn lướt âm một cách tương đối trong cái trung dung của Aâm dương ( Aâm dương tỷ hòa thì vạn vật mới sinh).Do đó , cổ nhân đã lấy Mộc tượng trưng cho Mùa Xuân.màu xanh, Phương Đông.

c)- Hỏa biểu thị mùa Hạ,màu Đỏ, phương Nam

Múa hè nóng nực bức như lửa thiêu ,Dương cương lên đến cùng cực .Hoa lá đặc trưng của mùa này như lựa và phượng vĩ trổ bông màu đỏ ,phương Nam gần như ấm áp quanh năm nên Hỏa tượng trưng cho mùa Hạ ,màu Đỏ và phương Nam vậy.
d)Kim tiêu biểu cho mùa Thu,màu Trắng và phương Tây

Mùa Thu là giai đoạn cho Aâm Dương tương thôi bình hòa khí trời nóng quá,không lạnh lắm nhưngDương cương bắt đầu suy ,âm nhu bắt đầu thịnh .Mặt trời lặn ở phương Đông.Trời mùa Thu thường có mây trắng ngà bao phủ ,nên cổ nhân mới nhân
đó mà chọn Kim tiêu biểu cho mùa thu ,màu trắng và phương Tây .Nói kh1c đi theo Ngũ hành thì mùa Thu ,sắc trắng,phương Tây thuộc Kim.
e)Thủy tiêu biểu cho mùa đông ,màu Đen ,phương Bắc

Hiện tượng độc đáo nhất của mùa Đông là tuyết rơi, gia buốt ,cảnh vật ảm đạm,cửa nẻo đóng kín,tối tăm.Tuyết la 2một trang tháicủa nước , phương Bắc thường hay có tuyết nên với tinh thần tượng hình ,chuyển ý ,cổ nhân Trung Hoa chọn hành Thủy mùa Đông ,màu Đen ,phương Bắc .
f)Thổ tiêu biểu cho Đất,ø màu Vàng ,Trung ương

Người tàu phát tích ở sông Hoàng Hà ,đất đai ở đây màu vàng (hoàng thổ) nên dựa vào sự vật để định tên ,lấy đất tiêu biểu cho chất Thổ và màu vàng tượng trưng cho sắc Thổ .Bởi người Tàu lấy địa phương của họ làm trung tâm quan sát ,tự coi mình là người trung thổ ,danh xưng là Trung quốc nên màu vàng là màu trung ương ,Thổ là Hành chủ bao gồm cả bốn hành còn lại với lý do Địa tải sơn hà, vạn vật (Sông núi muôn loài vạn vật đều do đất chứa đựng ).
2-Năm đức tính căn bản của con người :

a) Nhân ứng với Mộc :

Nhân chủ ở chỗ thanh tĩnh ,ung dung tự tại ,không cạnh tranh ,bao dung và đãi người đồng đẳng .thảo mộc vốn không di động cạnh tranh ,loài tùng bách quanh năm xanh tươi, bất chấp gió sương nóng lạnh ,tượng trưng cho thái độ an tĩnh ,ung dung tự tại .Cây cỏ còn để người che mưa che nắng ,không phân biệt mội ai .Hoa quả trong chốn sơn lâm ai thưởng thức cũng được .Cái đức tự nhiên lưu hành của thảo mộc tương tự như đức Nhân ở nhân loại .do ở ý nghĩa mà Khổng Tử đã nói : " Nhân giả nhao sơn " (bậc nhân giả thích núi ) vì trên núi có thảo mộc tượng trưng cho đức Nhân của tạo vật .
b) Nghĩa ứng với Kim :

Luôn luôn thích ứng với phép tắc thiên nhiên hoặc công lý ,hằng cửu ,không biến chất, cứng cỏi không sờn. Đó là những ý nghĩa bao quát của Nghĩa .Loài Kim thuộc như vàng luôn luôn giữ mãi vẻ sáng cứng rắn ,khuyết biết tiết, dù ở nơi này hay nơi khác ,lúc nào cũng vậy ,phảng phất ý nghĩa của đức Nghĩa nên cổ nhân lấy Kim tượng trưng cho Nghĩa .
c)Lễ ứng với Hỏa :

Lễ gồm chung tất cả những gì soi sáng khuôn phép ,tạo nên tôn trọng duy trì diềng mối ,phát huy chân lí tự nhiên lưu hành ,Tế tự là một hình thức của lễ ,biểu dương sự tôn kính. Một trong những ứng dụng của Hỏa là soi sáng tại nơi Tế tự ,làm hiển lộng cái tôn kính quỷ thần của con người nên cái dụng (về phương ý nghĩa triết học ) của Hỏa và Lễ tương đồng ,nên Lễ ứng với Hỏa.
d) Trí ứng với Thủy :

Kẻ trí không điều gì là không thấu triết ,nước không đâu là không thông qua. Cái được của Trí và Nước có sự tương đồng đại lược nên người xưa đã nói một cách
đầy biểu tượng : "Trí giả nhao Thủy" (Bậc trí giả thích nước) .Do đó, Thủy tượng trưng cho Trí.
e) Tín ứng với Thổ :

Bản chất của Thổ là không bao giờ sai chạy.Thảo mộc dựa vào đất mà sống và đất cứ theo từng mùa nhất định mà thúc đẩy sự sinh diệt của cạy cối theo đúng chu trình chuyển hóa tự nhiên của tạo vật ,không bao giờ sai chạy. Do đó ,so với Tín thì bản chất của Tín và Thổ về ý nghĩa tổng quát có những nét tương đồng .
3-Năm cung bậc trong âm nhạc :

a) Cung ứng với Thổ.
b) Thương ứng với Kim.
c) Giốc ứng với Mộc.
d) Chủy ứng với Hỏa.
e) Vũ ứng với Thủy.
II./ ỨNG DỤNG CỦA ÂM DƯƠNG TRONG TƯỚNG HỌC :

âm Dương trong nhân tướng học không có tính cách cứng nhắc như thế nhân vẫn tưởng mà lại rất tương đối .Ngửa lên gọi là Dương, úp xuống gọi là Aâm ,cứng gọi là Dương ,mềm là Aâm,v.v... Nói cách tổng quát thì Trời có Aâm Dương .Đàn ông được xem là Dương ,đàn bà là Aâm, nhưng chỉ là điều khái lược .Trong mỗi con người lại cũng có phân biệt Aâm và dương nữa.
Toàn thể thân thể đàn ông là âm ,nhưng bộ phận sinh dục lại là Dương nên có tên là dương vật .Toàn thể đàn bà là Dương, nhưng bộ phận sinh dục lai là Aâm nên gọi là âm hộ.
Xương thì coi là Dương ,thịt coi la âm .
Phía mặt bên trái là Dương ,bên phải là Aâm.
Phía trên khuôn mặt (kể từ chính giữa thân mũi ) Dương, phần sau là âm.
Phần thân trước là Dương, thân sau là Aâm.
Trong khu vực thuộc mắt,phần trên là Dương, dưới là Aâm.Mắt trái là
Dương,phải là Aâm.
Nhưng phần lồi lõm của xương khuôn mặt là Dương ,những phần trũng xuống coi là âm.
Dương thì lộ liễu và hướong lên,Aâm tìh ẩn tàng và hướng xuống.Dương cốt ở an hòa,Aâm cốt ngay ngắn,Dương hcủ về cứng rắn,Aâm chủ về mềm mại.Aâm dương mỗi con người cần phải Hòa phải Thuận .Hòa có nghĩa là xương ngay ngắn, không lệch,
không cong, thần khí thanh nhã. Thuận là thịt phải được phân bố điều đặn khắp chân thân.âm Dương chủ hòa chủ về phúc thọ
Nếu như xương lộ mà không ngay ngắn ,thịt chỗ nhiều chỗ ít không hợp lẽ tự nhiên (chẳng hạn bộ phận này thì quá nhiều thịt ,bộ phận kia thì quá cằn cỗi ) thì gọi là âm dương không htuận hòa. Hoặc Aâm thịnh Dương suy (thịt nhiều mà xương,bệu lại yếu và nhỏ ,không cân xứng) hoặc Dương cường Aâm nhược (cốt lộ, thịt ít) đều là các tướng phản lại nguyên tắc âm Dương thuận hòa :chủ về hung hiểm bất tường .
Nói một cách tổng quát ,vô luận nam nữ,trong mỗi con người ,(hình tướng,khí sắc, tính cách, âm thanh ,phần vô hình cũng như phần hữu hình ) đều bị nguyên lí âm dương chi phối.
Đàn ông bản chất vốn Dương nhưng cần có Aâm thích nghi điều hòa .Đàn bà vốn thuộc âm nhưng phải có Dương để phụ giúp. Nếu không thế, đànông chỉ có thể Dương thuần mà không có Aâm chất thì sẽ mất sự khống chế cầb thiết ,đàn bà chỉ có
âm nhu mà không có Dương chất thêm vào thì trở thành quá mềm yếu và không thể tự tiến triển được.
Tuy nhiên ,dù Duơng thuần phải có âm chấtđể điều hòa cho thích nghi nhưng âm không được lấn át phần dương .Nếy Aâm chất thái quá người ta gọi là Dương sai .
âm nhu tuy phải cần Dương cương để tiết giảm phần xấu và phát huy phần tốt nhưng nếu phần Dương lấn át phần âm ( vốn là phần căn bản) thì trường hợp đó mệnh danh là Aâm thác.
Nguyên tắc tổng quát trên áp dụng cho tất cả các bộ vị trọng yếu trong một con người .Nghĩa là các bộ vị không được vi phạm các điều cấm kỵ của nguyên lý âm
Dương thích nghi .Nói khác đi. Không được phạm vào Aâm Thác hoặc Dương Sai .Đi
sâu vào phần chi tiết ta phân biệt:
a) Dương hòa
Tính cách Dương mãnh mẽ nhưng được tiết chế đúng mức cần thiết thì gọi là Dương hoà .Dương hoà bao gồm:
- Đầu tròn, đỉnh đầu bằng phẳng.
- Đầu hơi có góc cạnh, mặt hơi vuông vức,trán có xương tròn nổi lên rất rõ.
- Ngũ nhạc nổi nhưng không quá lộ liễu,Sơn căn nổi khá cao gần ăn thẳng lên Aán đường.
- Lông mày mọc xếch lên cao và có uy lực , lông mày hơi có góc cạnh ( hình thù lông mày gập cong như hình chữ chứ không cong như hình bán nguyệt hoặc thẳng như chữ).
- Sợi lông mày hơi hướng về phía trên.
- Mắt có chiều dài rõ rệt và có tụ thần.
- Sắc diện hoà ái , chẳng cần phải lập uy mà vẫn có vẻ oai nghiêm tự nhiên.
- Nói năng mau chậm thích nghi với từng câu chuyện , tư tưởng khoáng đạt. Lâm sự quyết đoán chuẩn xác, xử trí quang minh. Đi đứng ung dung.
b) âm thuận

Tính cách Aâm rõ ràng nhưng không quá ủy mỉ hèn yếu thì gọi là Aâm thuận .Được coi là Aâm thuận khi:
- Đầu tròn, mặt hơi vuông nhưng vẵn không xoá hẳn được những nét tròn trịa.
- Ngũ nhạc đều có dáng phảng phất hình tròn ( nhưng không nổi bật các nét tròn đó)
- Sơn căn mạnh mẽ có thế .Aán đường bằng phẳng, rộng
- Lông mày hơi cong mà mắt lại hơi dài( không được quá dài )
- Tiếng nói hơi nhỏ nhưng âm thanh rổn rản trong trẻo.
- Nói năng từ tốn, nhưng không chậm, phản ứng hkông nhanh nhưng không quá trễ hoặc lý lợm.
- Sắc diện hòa nhã khiến người ngoài dễ sinh thiện cảm.
- Xử sự ôn hòa.
c) Kháng dương

Tính cách Dương quá mạnh không có sự tiết chế đúng mức thì gọi là Kháng Dương .Các dấu chỉ của Kháng Dương bao gồm:
- Đầu tròn nhưng đỉnh đầu nhọn.
- Mặt có những bộ vị nổi tròn thành từng cục.
- Ngũ nhạc nổi tròn mà đầu có dạng nhọn , nhỏ.
- Lông mày ngắn mà cong hoặc ngắn mà thế của màylại hướng lên.
- Mắt lồi mà tia mắt long lanh.
- Tai nhọn mà dựng đứng.
- Tiếng nói lớn nhưng giọng điệu quê kệch hoặc giọng rè.
- Tính tình nóng nảy thô bạo, xử sự sơ suất, không nghĩ trước, không lo sau khiến người quan sát thoáng qua đã nhận được ngay sự thô lỗ.
d) Cô âm:

Chỉ có những cách Aâm thuần tuý mà không cò Dương Tính để hỗ trợ thì gọi là Cô Aâm. Đặc tính này được phát hiện ra ngoài qua các dấu hiệu sau:
- Toàn thể đầu và khuôn mặt đều là hình vuông, hoặc thiên về hình vuông, hoặc đầu lớn mà khuôn mặt lại quá nhỏ, không tương xứng
- Chính diện thì nhìn thấy bằng phẳng mà trắc diện lại thấy ở phần giữa lõm xuống
- Mắt xấu mà lông mày mọc lan xuống tận bờ mắt hoặc mắt sâu mà xương lông mày thô, hoặc lông mày quá đậm và ngắn
- Râu ria quá rậm rạp không thích nghi với tóc
- Tiếng nói có vẻ như khò khè ở cuống họng, điện nói chậm rãi mà trong đó lại chen kẽ âm thanh chói tai hoặc nhanh mà đứt đoại
- Sắc diện lúc nào cũng có vẻ u uất, xử sự quá tính toán, cân nhắc khiến người ngoài thoáng thấy là đã nhận ra ngay là con người ác hiểm
e) âm thác, Dương sai:

Bản chất căn bản là âm nhưng pha trộn quá nhiều Dương Tính khiến phần Aâm trở thành thứ yếu thứ nhì gọi là Aâm thác. Ngược lại bản chất căn bản là Dương nhưng mà Dương Tính quá yếu khiến chất Aâm lấn rõ rệt gọi là Dương sai. Dưới đây là biểu hiện bề ngoài của hiện tượng trên
- Đầu tròn thuộc Dương, mặt vuông thuộc Aâm, phía trước mặt thuộc Dương, phía sau gáy (ót) thuộc Aâm, cho nên đầu lớn, mặt nhỏ, phía trước lớn và phía sau nhỏ gọi là Dương sai
- Đầu vuông thuộc Aâm, mặt tròn thuộc Dương, nếu như hai phần đó quá sai lệch gọi là Aâm thác
- Phần lồi trên khuôn mặt thuộc Dương, phần lõm trên khuôn mặt thuộc âm. Do đó nếu Đông Tây Nam Bắc Nhạc nảy nở mà Trung Nhạc lõm xuống thì gọi là Dương sai. Tuy nhiên bốn nhạc phụ tuy đều trũng xuống hoặc bị phá hãm chỉ có Trung Nhạc nổi cao một mình thì gọi là Aâm Thác
- Chỉ có xương mà không có thịt, mắt lộ mà không có lông mày người lớn, tiếng nhỏ gọi là Dương Sai. Có quá nhiều thịt mà thiếu xương, lông mày rậm rạp lan xuống bờ mắt, chân tóc mọc thấp. Thiên thương hẹp, nhiều râu ria mà giọng nói khô khan ... đều được mệnh danh là Aâm Thác
- Mặc tuy lớn, nhưng sắc ảm đạm, thân hình tuy có vẻ nam tính mà bước chân lệch lạc ẻo lả như con gái thì gọi là Dương Sai. Thân hình nữ mà cử chỉ mạnh bạo cứng cỏi như Nam Giới thì gọi là Aâm Thác.
Tóm lại vấn đề Aâm Thác Dương Sai rất phức tạp, khó mà lĩnh hội toàn vẹn nếu không có kiến giải sâu rộng, quan sát tinh tế. Chương này chú trọng đặc biệt đến hai nguyên tắc căn bản của Dương Sai, Aâm thác như sau:
1. Đàn ông được coi là thuần Dương mà lẫn lộn cá tính phụ nữ ( bất kể phương diện gì : đi , đứng , ăn , nói ...) khá rõ thì gọi là chính dương sai .
2. Đàn bà được coi là thuần Aâm nếu pha trộn nam tính (dù về phương diện gì cũng vậy) quá lộ liễu thì gọi là Chính Aâm Thác.
Từ 2 nguyên nhân căn bảntrên, ta đi đến 4 hệ luận :
a)Bất kể nam nữ đều lấy đầu ,âm thanh,cốt cách tượng trưng cho Dương chất.Cho nên, không cần biết thân hình lớn hay nhỏ, điểm căn bản là phải lấy cốt cách trầm ổn ,vững chải, tiếng nói trong trẻo, rõ ràng có tiếng vang làm chính. Được như thế là cát tướng .
Tiếng khô khan, âm vận không có hoặc ngắn ngủi thì đầu thân hình lớn hay nhỏ đều không đáng kể gì vì đó là hung tướng ,tượng trưng hco Dương sai.
b)Bất kể nam nữ ,đều lấy khuôn mặt tượng trưng cho Dương,cho nên Ngũ nhạc nổi rõ nhưng không quá lộ liễu và thô bỉ ,râu tóc và lông mày thách nghi tương xứng là dấu hiệu cát tướng. Ngũ nhạc phá hãm ,râu ria lông mày quá đậm là hung tướng vò đó bị gọi la âm thác.
c)Thân hình to lớn khôi ngô mà khí phách nhỏ hẹp ,xử sự thô lỗ, âm hiểm tàn nhẫn, chấp nê tiểu tiết, không biết quyền biến ,đó la Dương không khống chế được âm nên gọi là Dương sai .
d) Người nhỏ mà xử sự xô bồ không có giới hạn khí phách cuồng ngạo chỉ biết tiến mà không biết thoái lui khi cần đó là Aâm không kiềm chế được dương nên gọi là âm thác.


Reply With Quote
Old 19-11-2010, 10:30 PM   #24
Uất Kim Hương's Avatar
Uất Kim Hương
Senior Member

 
Join Date: Nov 2009
Đã Cảm ơn: 4,189
Được cảm ơn: 3,170 lần/2,017 bài
Blog Entries: 27
Status:Uất Kim Hương is offline
 
Uất Kim Hương is on a distinguished road

Default

ỨNG DỤNG CỦA NGŨ HÀNG TRONG NHÂN TƯỚNG HỌC :

Dựa trên quan niệm triết lý Thiên địa ,vạn vật đồng nhất thể(trời đất vạn vật cùng 1 bản thể nguyên khởi), người Trung Hoa đã đem những lập luận của thuyết Aâm Dương Ngũ hành áp dụng rộng rãi vào lĩnh vực Nhân tướng học.
Người xưa tin rằng khi Aâm Dương phối hợp và chuyển hóa để sinh ra muôn vật thì cái linh khí nhẹ nhàng tinh khiết gọi là linh khanh bay lên để tạo thành trời cao ,phần nặng nề , ô trọc gọi là trọng trọc lắng xuống dưới tạo thành đất ,vật nào trong lúc hình thành hấp thu được nhiếu thanh khí thì bản tính linh mẫn, hấp thụ được ít thanh mà nhiều trọc thì bản tính ngu độn.
Con người là 2 trong muôn loài của tạo hóa nhưng nhờ có trí óc linh mẫn mà hiểu thấu được sự vận chuyển nhiệm mầu của tạo hóa nên tự cho là vật tối linh trong muôn vật (nhân vi vạn vật chi linh). Quan niệm trên đã có từ thời thượng cổ, Khổng Tử đã định nghĩa con người trong sách Lễ kí như sau :" Người là kết quả phối hợp Âm Dương tụ hội quỷ thần ,tụ khí của Ngũ hành mà hình dạng ,phẩm cách : Nhân giả Aán đường chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí dã". Vì là vật tối linh trong muôn loài, bao gồm tất cả khí thiên trong vũ trụ nên con người tự xếp mìnhngang hàng với hai thể lớn lhác của vũ trụ là Trời và Đất để trở thành:
Tam tài :Thiên, Địa ,Nhân.

Thấm nhuần triết lý trên,các nhà nhân tướng học từ đời Tống trở về sau ,coi con người là1 tiểu vũ trụvà bằng lối lý luận loại suy,tất cả quan niệm Aâm Dương,Ngũ hành lẫn các quan niệmkhác của đại vũ trụ đều được áp dụng vào tiểu vũ trụ. Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy Bộ vị của con người được gán cho các hình thái hay ý nghĩa của đại vũ trụ.Ngay cả nguyên tắc giải đóan của nhân tướng học cũng chịu ảnh hưởng sâu rộng của tríêt lí Thiên nhân tương dữ ( trời và đất có liên hệ với nhau).

a) Phân loại các màu da theo Ngũ hành:

Như đã nói ở trên ,năm màu ứng với năm Hành ,nhưng khi áp dụng vào nhân tướng học ,các màu đó biến thái rất nhiều và chịu ảnh hưởng của định luật thanh trọc chi phối để thành chính hay phá cách.
1-Sắc da thuộc Mộc (màu Xanh)
a) Chính cách : màu xanh lơ như da trời vào buổi sáng ,l úc ánh Thái dương chưa xuất hiện ,dáng vẻ tươi mịn nhưng không quá bóng bẩy như bôi dầu mỡ .Màu hợp cách như trên gọi là thiên sắc.

b) Phá cách : màu da xanh mét như vết thương bị đánh bằng roi gậy hay da xạm, khô cằn, là màu xanh phá cách ,tục gọi là tà sắc.

2-Sắc da thuộc Hỏa (màu hồng hay tía )
a) Chính cách :màu hồng hào như màu ráng chiều phản ứng mặt trời hay như sắc mặt cua người uống nhiều rượu ,hồng và sắc tươi mát mới gọi là thiên sắc.
b) Phá cách : hồng tươi pha đỏbầm như màu huyết dụ (ví dụ như các vết đỏ của mụn nhọt ) hay thô xạm là phá cách về màu da ( tà sắc ).
3-Sắc da thuộc Kim (màu trắng)
a) Chính cách : màu trắng ngà như màu ngọc trai và sáng sủa,tươi thắm gọi là thiên sắc.
b) Phá cách : trắng muốt như tuyết, bóng như lòng trắng trứng gà hay thô như màu của muối mỏ hoặc lốm đốm như má đàn bà dội phấn không đều, chỗ dày chỗ mỏng là phá cách (tức là tà sắc).
4-Sắc da thuộc Thủy (màu đen)
a) Chính cách : màu đen trong lĩnh vực nhân tướng học không phải màu đen tuyền như nguời Phi châu(nègre) mà là ngăn ngăm đen đều khắp khuôn mặt, nhuận trạch mới coi là thiên sắc.
b) Phá cách : màu đen mà trông có vẻ tối khám như hung khói.ảm đạm như mù lúc trời sắp mưa hay quá đen và thô như da nguời bị phơi nắng lâu ngày đều là tà sắc.
5-Sắc da thuộc Thổ (màu vàng )
a) Chính cách :vàng lạt và tươi như lông gà vịt mới nở
b) Phá cách : vàng sậm như củ nghệ, vàng xạm như lá úa, dáng vẻ khô xạm là các màu vàng thuộc tà sắc . Nói một cách tổng quát ,tà sắc là biểu tượng bất thường, dù la màu gì cũng vậy .Thông thường thì:
Tà sắc trắng chủ về buồn thương, về tình cảm và tang chế.
Tá sắc hồng chủ về lo lắng ,quan tụng.
Tá sắc xanh chủ về bệnh hoạn tổng quát.
Tà sắc đen chủ về chia ly, chết chóc (thường là bất đắc kì tử).
Tà sắc vàng chủ về suy nhược nội tạng.
b) Phân loại giọng nói theo Ngũ hành :
Tuy các âm giai Cung ,Thương, Giốc, Chủy, Vũ bị Ngũ hành hóa để trở thành các âm Thổ ,Kim, Mộc,Hỏa ,Thủy nhưng trong nhân tướong học , chúng chỉ dùng để chỉ các giọng nói tự nhiên hàng ngày nghĩa là chỉ có ý nghịa về âm sắc chứ không phải là
âm giai trong lĩnh vực âm nhạc. Aùp dụng nguyên tắc Thanh, Trọc vào lĩnh vực âm sắc ,người ta cũng phân ra giọng tốt và xấu trong mỗi Hành.
1- Giọng Kim (còn gọi là Thương thanh)
Nói chung, giọng kim êm mà không ướt ,rõ mà không khô ,âm điệu chắc chắn mà lớn ,tiếng vang truyền đi xa. Giọng kim chia
2 loại tùy theo âm lượng thanh trọc :
a)Giọng Kim chính cách : giọng nói sang sảng ,trong trẻo như tiếng khánh, khiến người nghe ý thức được âm lượng chắc chắn, đầy đủ, vững chải ,tiếng dội đi xa.
b) Giọng Kim phá cách : Aâm điệu vẫn có đặc tính hcung của Kim thanh nhưng giọng rè ,tẻ nhạt, không có tiếng vang tương tự tiếng phèn la.
2- Giọng Mộc (còn gọi là Giốc thanh)

a)Chính cách : giọng trong trẻo ,có sinh khí, âm lượng tròn trịa ở xa vẫn nghe đượcrõ ràng, dù người nói chỉ vận dụng âm thanh một cách bình thuờng ,không cần gắng sức .
b) Phá cách : Giọng nói trong nhưng không có tiếng vanh vi 2âm lượng quá ít tương tự như tiếng tre mục bị bẻ gãy ,vừa dứt tiếng thì âm vang cũng tắt theo.
3- Giọng Thủy (còn gọi là Vũ thanh )
Giọng trong và nhẹ ,nhanh mà vẫn nghe được đầy đủ câu nói lâõn dấu giọng .Giọng Thuỷ chia làm hai loại :
a)Hợp cách :giọng có vẻ lành lạnh, tiếng nói nhanh ,không nuốt tiếng, không biến giọng, âm lượng vừa đủ chứ không vang xa như giọng Kim hay Mộc.
b)Phá cách : gịong nói thô thiển, tiếng nói quá nhanh thành thử câu nói bị nuốt tiếng ,âm lượng ít khiến người nghe không nghe đủ hết câu nói
4- Giọng Hỏa (còn gọi là Chủy thanh )

Tiếng khàn khàn như tiếng vịt đực, người sành âm điệu có thể nhận ra âm Hỏa tuy cao vút như bị uất nghẹn trong yết hầu ,làn hơi như bị nén xuống trước khi phát ra thanh tiếng chứ không được suông sẻ như giọng khác .Tùy theo tính cách thanh trọc
của âm lượng , ta phân chia thành 2 loại :
a)Hợp cách : giọng nói cao ,khan và gằn mường tượng như người đang giận dữ mà cố nên giọng mà nói.Tuy âm lượng vẫn đều hòa không vấp váp ,nhưng người rành phép thẩm âm vẫn phân biệt được tính cách nóng nẩy của âm điệu.
b)Phá cách : giọng khàn như người khô cổ sắp bị hết hơi, và gằn mạnh từng tiếng hay nhóm tiếng ,âm lượng không được liên tục va 2không có tiếng vang.
5- Giọng Thổ (còn gọi là Cung thanh )

Giọng Thổ âm thanh lớn, chậm rãi,nặng nề, trầm ngâm,vang khá lâu, tương tự như tiếng đại hồng chung của ácc chùa chiền .Dựa vào tính cách thanh trọc,trường đoản của âm luợng phát ra , ta phân biệt :
a) Hợp cách : tiếng lớn, giọng nặng nề, chậm chạp, trầm và ấm ,âm vang nhất so với giọng Kim,Mộc,Thủy và Hỏa cách xa 3 trượng mà vẫn nghe được rõ ràng khi người nói phát âm một cách tự nhiên.
b) Phá cách : giọng trầm nhưng trì trệ ,không lưu loát, tiếng quát quá nhỏ hoặc âm lượng hỗn tạp :to nhỏ xen kẽ lẫn hau hay có tiếng âm vang Nói chung ,âm điệu giúp chúng phân biệt được 5 giọng của Ngũ thanh ,còn âm
lượng cho phép ta được hợp cách hay phá cách của giọng nói.
c) Phân loại hình tướng theo Ngũ hành :
Xét về phương diện xếp loại các loại hình tướng điển hình từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây , kể từ thủy tổ y học Tây phương là Hippocrate đến Kretschemr... người ta đã đưa ra nhiều lối khác nhau nhưng không có lối xếp lọai nào vừa căn cứ vào các nét đặc thù của thân thể một cách tỷ mỷ vừa phối hợp theo một triết lý siêu hình như lối phân loại Ngũ hành hình tướng theo tướng học Trung Hoa.

1-KHÁI LUẬN VỀ NGŨ HÀNH HÌNH TƯỚNG :
Mộc Kim Thủy Hỏa Thổ chính liệt phá.
Bàn về các loại hình tướng căn bản của con người , nhà tướng học nổi danh về đời nhà Tống là Ma Y đã nói: " con người hấp thu linh khí của Aâm Dương trong vũ trụ mà thành hình tướng . Vì bẩm sinh thọ khí của Trời Đất mà có tinh thần nên hình tướng không thể vượt qua khỏi phạm vi của Ngũ Hành . Cho nên trong năm Hành : Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ ( tượng trưng cho nămđặc chất của vũ trụ ) mà có được hình tướng đúng cách cục thực sự của một hành thì dẫu không quý cũng được hưởng phúc lộc.
" Ngũ hành hình tướng tuy chia ra gầy mập, ngắn dài nhưng lại cần phối hợp với ngũ sắc để làm căn bản .Khi bàn về sự thanh trọc của hình hài , tinh thần , vũ khí đều dựa vào các điểm cất yếu sau đây:
- người hình Mộc nói chuung thân hình diện mạo đều cao gầy, mắt và lông mày thanh tú , da xanh
- Người hình Kim nói chung thâân hình diện mạo vuông vức , mặt mày sáng sủa , sắc da trắng.
- Người hình Hỏa nói chuung thân hình diện mạo đều thiên về dưới to trên thon nhọn, sắc da đỏ hồng.
- Người hình Thổ nói chuung thân hình diện mạo đầy đặn , thịt xương rắn chắc.
- Bởi vậy , khi bàn về hình tướng theo Ngũ hành ta cần xem hình tướng kẻ đó thuộc về hành nào để biết có hợp cách cục hay không"
- Hợp ở đây theo quan niiệm của Ma Y là toàn thể thân mình , diện mạo thịt xương , các bộ vị , màu da , giọng nói có hoàn toàn đúng chính cách hay liệt vào phá cách .
- Tướng pháp bàn về n࣓m loại hình tướng Kim , Mộc , Thủy , Hỏa , Thổ , nhưng ta cần phải biết là trong mỗi hành tự nó D9ã bao hàm cái nguyên lý sai biệt phi thường , biết khái quát về mỗi hành chưa đủ vì ngay trong một loại hình tướng cũng có loại này khác bởi lẽ mỗi hành được phân chia thành nhiều thứ bậc khác nhau.
- Bàn về Kim , ta thấy có r&##7845;t nhiều loại Kim, chẳng hạn có lọai kim ròng được luyện trong lò , co loại Kim lẫn lộn với đất cát, lại có kim cặn bã đọng lại ở thành nồi luyện.
- Bàn về hành Mộc , ta th𓏽y nào là loại tùng bách quanh năm xanh tươi , nào là loại gỗ quí , sống hàng ngàn năm , cao hàng trăm trượng, dùng làm cổ trụ , mào là loại kỳ hoa dị thảo để trang trí chốn cung đình , cũng như có loại thảo mọc hoang dã chỉ để làm củi chụm phân bón...
- Bàn về hành Thủy cần phải phân biệt các loại nước suối thanh khiết , từ các cao phong hiển tuấn đổ xuống có loại nước trường giang đại hải , lại có nước đục do đường mương cống rãnh đổ ra.
- Bàn về hàng Hỏa thì th𓉭y có loại lửa mặt trời , không đâu là không chiếu rọi tới , có loại lửa trong lò lớn hừng hực nóng bỏng , có loại lửa lập lờ cũng có loại lửa âm ỉ do đám củi ướt , cỏ mục tạo nên.
- Bàn về hành Thổ cũng vvậy , có loại đất tinh thanh do sơn hà kết tụ lại rắn chắc và phong phú , có loại đất phù sa do đá vụn , cát bùn bồi đắp , có loại đất do cây cối mục nát hòa với tro bùn mà thành , Bởi vậy , Ma Y tổ sư đã nói:" Tướng tuy bàn về Ngũ Hành nghĩa là lấy Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ làm căn bản , nhưng cái lý ảo diệu chính là ở chỗ mỗi hành có những thứ bậc tốt xấu khác nhau , Cho nên có gốc rễ chưa đủ ta cần phải lấy sự thanh tú cua mày mặt , sự ngay ngắn rõ ràng của mũi miệng , sự sáng láng của tinh thần , sự rộng rãi của khí vũ làm cành nhánh , hoa lá thì mới diễn đạt được hết cái tính uyên thâm của Ngũ hành hình tướng.

2-ĐẶC TÍNH CỦA NĂM LOẠI HÌNH TƯỚNG CƠ BẢN :

Căn cứ vào Ngũ hành , tướng học Trung Hoa đã xếp loại con người thành năm hạng điển hình gọi là Kim hình , Thổ hình, và Hoả hình . Mỗi loại trên lại chia thành chính cách , liệt cách và phá cách.
Hình Kim :
Đặc điểm khuôn mặt : các nét chính của khuôn mặt đều gần như ngay thẳng , tạo thành hình vuông hay chữ nhật khá rõ ràng .
Đặc điểm thân hình : vóc dáng trung bình về cả bề ngang lẫn bề cao , xương thịt cân phân , sắc da trắng.
KIM HÌNH CHÍNH CÁCH:
- Thân thể tay chân tròn lẳn , rắn chắc , các bộ vị chính yếu của khuôn mặt như cằm , trán , tai, miệng và đầu... đều có dáng vuông vức ( gọi là Ngũ phương).
- Sắc da trắng ngà , tư&ơi mát.
- Tiếng nói sang sảng, gi𓐥ng cao vừa phải, âm lượng ấm cúng và có tiếng vang.
- Về cá tính , điểm n𓁅i bật ở người Kim , về mặt đạo đức là sự tôn trọng đạo nghỉa ( có thể theo quan niệm riêng của họ). Người Kim rất có thể là kẻ tàn nhẫn, mưu trí nhưng tất cả những xảo thuật cũng như mọi phương tiện khác nhau đều được hướng theo mục tiêu Nghĩa hiểu theo quan niệm riêng của Người hình Kim.
Tóm lại, nói một cách tổng quát , tất cả các bộ vị của người hình đều ở mức trung bình về kích thước và rất ngay ngắn . Nói khác đi , hình thể và khí sắc phải tương xứng , thần khí trong sáng nhưng điều hoà , không quá lạnh lùng.
KIM HÌNH LIỆT CÁCH :
- Đầy đủ đ𓐏c tính tổng quát của hình Kim , nhưng xương thịt bất quân xứng ( hoặc xương nhiều hơn thịt , hoặc thịt nhiều hơn xương).
- Đầy đủ đ𓐏c tính của hình Kim về khuôn mặt nhưng quá cao hoặc quá lùn.
- Gịong Kim rè hoặc sắcc Kim trắng bóng.
- Ngón tay quá dài , quá ngắn ho𓀧c quá lớn, đầu ngón tay lại tròn hoặc nhọn.
- Thần sắc tẻ lạnnh.
- Mày râu tóc da ảm đạm , thiếu sự sáng sủa.
- Không đủ tướng Nggũ phương bại cách.

KIM HÌNH PHÁ CÁCH :

- Có tướng Ngũ phưonng mà Tam đình , Ngũ nhạc bất quân xứng hoặc lệch lạc.
- Có khuôn mặt vuông hoặc ch&ữ nhật mà Ngũ quan thiếu ngay ngắn hoặc thiếu phối hợp.
- Khuôn mặt hình Kim mà các b𓒁 vỉ của khuôn mẵt không có dạng hoặc đường nét vuông vức.
- Mắt không có chân quang , gi𓐥ng thuộc hành khác , thuộc loại xung khắc và phá âm
Khi bị liệt cách nặng hoặc phá bị phá cách thì tướng học gọi đó là trườnh hợp chỉ có Kim hình chứ không có Kim tinh. Do đó , các đặc tính tốt đẹp của hình Kim bị giảm thiểu hoặc không còn áp dụng cho các loại có khuyết điểm đó nữa.
a) Hình Mộc :
Đặc điểm tổng quát của khuôn mặt : nhìn một cách khái quát , đặc tính dễ nhận thấy về khuôn mặt của người Mộc là có dạng trái lê lật ngược ( Gíap Mộc) hoặc hình tam giác nhọn lật ngược (Aát Mộc), màu da hơi xanh. Đặc điểm thân hình : thân thể Người Mộc phát triển bề cao rất rõ , còn bề ngang lại kém phát triển . Do đó , thân mình , tứ chi , cổ đầu , ngón tay đều thon dài. Người Gíap Mộc thì thân thể quá mản mai , lưng gù , tay cong , đi đứng rụt rè ẻo lả.
MỘC HÌNH CHÍNH CÁCH :
- Khuôn mặt có hình dạng tráii lê lật ngược , nét mặt gân guốc khoẻ mạnh , sắc da hơi xanh đen.
- Thân hình , tứ chi , cổ và ngón tay đều thẳng tuột và thon dài ( Tướng Ngũ trường).
- Các bộ vị chính yếu ccủa khuôn mặt như lông mày ,tai, mũi , miệng đều hẹp, dài và thẳng thắn . Đặc điểm nổi bật của người hình Mộc chính cách là mày thanh , mắt sáng , môi hồng , chỉ tay nhỏ và nhiều , khí thế vững vàng lanh lợi.
- Về cá tính , điểm n𓁅i bật nhất của người Mộc chính cách là đức Nhân theo chiều hướng Mộc Nhân Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân .Làm gì, nhận xét ai , người có tính mộc thường tự đặt mình vào tâm trạng và hoàn cảnh kẻ khác . Bởi vậy, kẻ có Mộc tính thường dễ dàng thông cảm với tha nhân , không đòi hỏi ở kẻ khác quá nhiều nhưng chính vì vậy mà thường có tính khinh thế ngạo vật.

MỘC HÌNH LIỆT CÁCH :

Liệt cách là có khá đủ những nét chính của hình Mộc thuần túy nhưng phạm vào các khuyết điểm sau:
- Tai và cánh mũi quá mỏng. - Lông mày quá đậm và thô ho&##7863;c quá lạt mà nhỏ tuy rằng vẫn có chiều dài quá mắt.
- Thân hình và tứ chi quá khẳ;ng khiu mà lại cong quẹo,lưng gù tay hay chân lệch lạc
- Cằm quá dài và nhọn, quai hhàm quá hẹp.
- Giọng nói yếu ớt ,khôông có âm lượng.
- DÁng điệu uỷ mị,, e lệ như con gái ,sắc da xanh mướt.
MỘC HÌNH PHÁ CÁCH :
Đi ngược lại các đặc điểm đặc thù của hình Mộc thì gọi là phá cách .Phá cách bao gồm các đặt điểm sau : - Thân hình lùn mập ,cổ ngắn, tứ chi ngắn,ngón tay thô,chỉ tay mờ và ít.
- Hói đầu hay quá ít tóc và khhông có râu ria.
- Lông mày sợi thô ngắn, hay đậm mà lại mọc úp xuống hay nghịch lên chứ không xếp xuôi theo chiếu từ đầu mắt tới đuôi mắt.
- Mũi ngắn ,trũng xu𓐩ng,chủân đầu nhỏ nhon ,thân mũi trơ xương hay môi dày.
- Nước da vàng vọt .hkô xạm hay có màu tím.
- Râu tóc màu hung hay vàng khè.
- Mắt không có thần quang ,màày không có tú khí.
- Có tướng Ngũ trư&##7901;ng mà Ngũ quan không phối hợp điều hòa.
- Giọng trầm và rè.
Người Mộc chính cách gọi là Giáp Mộc ,Mộc hình liệt cách ahy phá cách thường gọi là Aát Mộc . giáp Mộc chuẩn về trí tuệ quý hiển còn Aát Mộc chủ về non yểu hay lận đận về công danh gia vận.
b) Hình Thủy : (Thũy hình nhân)
Đặc điểm tổng quát về khuôn mặt : Mặt tròn trịa ,ngũ quan đầy đặn,ít xương nhiều thịt, cằm xệ và có 2 nấc,cổ ngắn và mập mạp. Da ngăm đen. Đặc điểm thân hình : Thân mình tròn mập ,nặng nề ,vai tròn, thịt bệu ,dáng dấp đi dấp đứng chậm chạp có vẻ trì trệ.
THỦY HÌNH CHÍNH CÁCH :
Đầu tròn, mặt tròn và lớn hợp đúng tướng Ngũ viên (đầu tròn, mắt tròn,mặt tròn và cằm tròn trịa).Hơn đâu hết ,người Thủy đúng cách thượng thừa phải có "Tứ đậu" hợp cách,Người Thủy đúng cách thượng thừa phải có Tứ đậu hợp cách (tai mũi miệng mắt) Thủy tính nghĩa là : Tai phải tròn ,có Thùy châu rất rõ ,Luân quách phân minh nhưng dẻo dai.
- Mắt phải lớn và hပi lồi ,có thần quang.
- Mũi phải có gián đài ,&đình úy phân minh ,lỗ mũi che kín,chuẩn đầu lớn và tròn.
- Miệng phải rộng , môii phải dày, có Lăng Gíac phân minh và trên dưới cân xứng.
- Thân hình phát triển bề ngaang một cách rõ ràng nhưng dưới trên cân xứng.
- Thân hình phát triển bề ngaang cách rõ ràng nhưng dưới trên phải cân xứng trầm ổn.
- Tay chân ngắn hơn thân mình tròi trịa mập mạp ,xương lẳn, mỡ nhiều ,dáng vẻ có nặng nề nhưng không có vẻ mệt mỏi.
- Sắc da ngăm đen nhტng tươi nhuận.
- Giọng nói trong trẻo ,ti𓀯ng nói lanh lẹnhưng không nuốt và có âm vang.
- Động tác khóang đ𓉋t ,bước chân nhẹ nhàng, khí sắc thanh thản.
- Lông mày ngắn nhưng sợ;i mịn và bóng bẩy.
- Đặc tính trí tuệ tr𓁉i yếu nhất của Thủy hình đúng cách là khôn khéo ,mềm mỏng ,giỏi giao tiếp.
THỦY HÌNH LIỆT CÁCH :
- Đầy đủ các đ;iều kiện về hình thức của hình Thủy nhưng thịt da quá mềm(tục gọi là béo bệu), gân xương quá nhỏ.
- Đầy đủ các đ;iều kiện về hình thức của Thuỷ giữa thanh âm nhưng không phải loại Thủy thanh chính cách.
- Có tướng Ngũ viên nhᅐng Tứ đậu không được sáng sủa đầy đủ hay thuộc loại trọc.
- Có Thủy hình tương ૕ối nhưng hội đủ điều kiện Ngũ viên, chẳng hạn môi quá mỏng ,tai quá nhỏ ,v..v..
THỦY HÌNH PHÁ CÁCH :

- Mặt tròn đầy nhưnng Tư đậu không hợp Thủy cách.
- Hợp Thủy hình thần hôôn sắc ám , cước bộ hoặc nặng nề hoặc rối loạn.
- Tứ đậu tươngg phản về tính chất hoặc hình dạng.
- Có Thủy hình mà không có Th𓔇y sắc hoặc Thủy âm.
- Khuôn mặt thuộc Thủy nhưng Ngũ quan , Tứ đậu lệch lạc hoặc thân hình không đúng Thủy cách, chẳng hạn mặt mập người ốm, thân trên mập thân dưới thon...

c) Hình Thổ: ( thổ hình nhân)

Đặc điểm khuôn mặt : khuôm mặt hoặc bầu dục hình tròn trông tương tự như hình Thủy nhưng các Đặc điểm thân mình :tương tự như Thủy hình nhưng người Thủy mập mỡ , người Thổ mập thịt , vai rộng , mông to, bụng ngực tương đồng , dáng đi mạnh mẻ vững vàng.
THỔ HÌNH CHÍNH CÁCH :Thổ tín Thổ trong
- Vai lưng rộng , thẳng , tròn đầy.
- Chân tay to lớn , chắc ch&##7855;n , tứ chi ngắn hơn thân mình và không lộ gân xương.
- Toàn thân có tướng Ngũ hậu ( đầu cổ lớn và vững , tai lớn , dầy, có thùy châu tròng và Luân quách phân minh , mặt tròn nhiều thịt, trông chắc chắn , chân tay tương xứng với thân mình và chắc chắn , vững chãi)
- Mắt có dạng dài , không sâuu, không lộ.
- Bề rộng lông mày ở m&ức trung bình , bề dài tối thiểu phải bằng chiều dài của mắt.
- Tam Đình Ngũ nhạc ભầy đặn , điều hòa đắc thế.
- Sắc da vàng nhuận.
- Tiếng nói lớn chậm rããi, ấm và ngân vang như đại hồng chung.
- Đặc tính trội yế;u nhất của người Thổ là thủ tín.
- Người Thổ chính cách kkhí sắc không tạp , tinh thần không loạn , cử chỉ đĩnh đạc có tiết độ, lâm sự vẫn giữ được thần thái an tĩnh. Nếu đầy đủ tất cả các đặc thái trên mà hình thể nặng nề , tâm mưunsâu sắc thì gọi là Thổ trọng .Chỉ có Thổ trọng thuần túy mà không có Mộc chất thì rất khó phát đạt.
THỔ HÌNH LIỆT CÁCH :
- Có đủ đặc tính hìình thể của Thổ nhưng ngũ quan có một quan quá nhỏ hoặc không đúng Thổ cách hoàn toàn.
- Đầy đủ Thổ hình mà khí phách hẹp hòi , độ lượng nông cạn , âm hiểm tiểu tiết thì liệt về Thổ tính
- Đầy đủ diệnn mạo Thổ mà thân mình trên to dưới nhỏ mất thế quân bình.
- Đầy đủ diệnn mạo , hợp Thổ cách mà bước chân phiêu hốt như người yếu gân xương.
- Đầy đủ Thổ cách về diện mạo mà tiếng nói quá nhỏ , quá cao.
- Qúa nhiều râu tóc hoặc qua ít râu tóc mặc dầu hoàn toàn hợp Thổ cách , hoặc sắc da thuộc Thổ loại tà sắc.
- Tướng Thổ trọng mà lại thiếu Mộc chất.

THỔ HÌNH PHÁ CÁCH :

- Không phải thanh Thổ ho𓐏c sắc Thổ.
- Các bộ vị căn bả;n như Mũi Tai Miệng không hợp với Thổ cách
- Diện mạo Thổ mà thân mình không phải thuộc Thổ cách.
- Khí ám sắc trệ.
- Không có đủ các đ𓌩c tính Ngũ hậu mà lại còn bị khắc phá bởi các Hành khác.
d) Hình Hỏa : ( hỏa hình nhân)
Đặc diểm khuôn mặt : Khuôn mặt giống như hình tam giác ( đầu thon dài , Thiên đình hẹp nhọn , Hạ đình nảy nở ) , râu tóc ít , các bộ vị quan trọng trên khuôn mặt đều lộ , sắc da hồnh hào.
Đặc điểm thân mình : Thân vóc trung bình , thường thì xương thịt quân phân, vai thon , hông nở , chân tay gân guốc nhưng quắc thước tự nhiên.

HỎA HÌNH CHÍNH CÁCH :

- Tam đình tuy bình đẳng nhưng mỗi Đình đều phảng phất những nét thon nhọn phía trên hoặc dưới.
- Có tướng Ngũ lộ (( lộ mi , lộ nhãn , lộ sỉ , lộ tỵ , lộ nhi ) nhưng lộ mà trọc trung hữu thanh.
- Râu ria tuy ít nhưng mềm m&##7841;i tươi tắn.
- Điệu bộ lanh lẹ , linh hoạt tuy bồn chồn nóng nảy mà vẫn giữ được tiết độ , tháo vát , không tháo thứ.
- Sắc da hồng hào khoẻ mạnh
- Chân tay tuy gân guốc nhưng không cong quẹo.
- Khí sắc không tạp , tinh thhần không loạn , dù có nằm lâu cũng giử dđược tư thế ổn định.
- Phẩm tính đặc thù c𓁗a Hoả hình là giữ được Lễ ( ở đây nghĩa là ự tiết chế được phản ứng dù trong lúc cuồng nộ)

HỎA HÌNH LIỆTCÁCH :

- Diện mạo , thân hình đ;úng Hỏa cách mà sắc và âm thuộc loại tà sắc , tà thanh.
- Không hội đủ tư&##7899;ng Ngũ lộ hoặc có tướng Ngũ lộ mà thuộc loại trọc ( nghĩa là không có thần hoặc tú khí ẩn tàng sau các bộ vị lộ đó).
HỎA HÌNH PHÁ CÁCH :

- Tam đình Ngũ nhạc bất quân xứng.
- Miệng rộng môi dầy , mày thanh mắt sáng nhưng không lộ và luân quách phân minh lại có Thùy châu , mũi cao và thẳng chứ không lộ.
- Râu tóc nhiều và xanh đen.
- Người mập mà da loại trắng hoặc xanh.
- Hoả hình không thuần túy hooặc pha lẫn các hình của các Hành khác xung khắc với Hỏa.
Reply With Quote
Trả lời

Bookmarks

Những Chủ Đề Tương Tự
Đề tài Người gởi Chuyên mục Trả lời Bài viết cuối
Bản Tuyên Ngôn Quốc Nhân Quyền ThienQuang Giáo Dục 0 27-04-2010 11:45 AM
NGHI ÁN LỆ CHI VIÊN - CONHAKO Tùy bút - Ký - Phiếm luận - Biên khảo 1 17-04-2010 07:08 PM
Câu chuyện dài về "đầy tớ" và nhân dân human Chuyện Đông - Chuyện Tây 0 17-04-2010 12:33 AM
Gà ô tử mỵ -- Vũ Ngọc Tiến GRANDET Truyện 0 08-09-2009 09:24 AM
Nguyệt Hạ Lão Nhân (Nguyệt Lão) anchau Tùy bút - Ký - Phiếm luận - Biên khảo 0 02-09-2009 09:45 AM



Hiện thời số người đang xem chủ đề này là: 1 (0 Thành viên và 1 Khách)
 
Thread Tools
Display Modes

Quyền Hạn Gởi bài
Bạn không được quyền gửi bài mới
Bạn không được quyền gửi trả lời
Bạn không được quyền gửi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đangTắt

Chuyển nhanh đến

Múi giờ GMT -7. Hiện tại là 11:21 AM.


Chút Lưu Lại không chịu bất cứ trách nhiệm gì về nội dung bài đăng của tất cả Thành viên.
Nhóm Điều Hợp có toàn quyền chỉnh sửa, xóa bỏ, dời chỗ bài đăng, hay khóa tên Thành viên mà không cần giải thích lý do.

Powered by vBulletin® Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2014 @ www.chutluulai.net. All rights reserved.
Vietnamese Language by www.mvietx.org.