Chút lưu lại

Go Back   Chút lưu lại > Quê Hương - Đất nước - Con người > Những nhà thơ lớn Việt nam
Trang nhà Phòng ảnh Thơ mới Download mViet Lưu bút

Những nhà thơ lớn Việt nam
Đây là nơi sưu tầm những bài thơ, bài viết về những nhà thơ lớn của Việt nam. Nếu bạn có bài viết, bài thơ nào của các thi sĩ đã thành danh và nổi tiếng xin gởi vào đây.

Trả lời
 
Thread Tools Display Modes
Old 26-05-2009, 08:13 AM   #1
Vũ Hữu Định và “Còn một chút gì để nhớ”
GRANDET GRANDET is offline 26-05-2009, 08:13 AM

Thêm đôi dòng về Vũ Hữu Định
và “Còn một chút gì để nhớ
Nguyễn Quang Tuệ

Mấy chục năm qua, cả ở trong và ngoài nước, đã có nhiều người viết về Vũ Hữu Định cùng bài thơ Còn một chút gì để nhớ của ông. Tác phẩm của Vũ Hữu Định, đặc biệt là sau khi được âm nhạc Phạm Duy chắp cánh, đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ, vô hình trung trở thành một trong những “lời giới thiệu” nhẹ nhàng mà sâu lắng về Pleiku.

Từ việc muốn tìm hiểu kĩ hơn về tác giả và bài thơ này, bước đầu chúng tôi đã sưu tầm, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu, và trong bài này xin cung cấp thêm một số thông tin về tác giả, tác phẩm nêu trên đến quí bạn đọc. Tư liệu chính sử dụng là hai cuốn sách: Còn một chút gì để nhớ (tập thơ, NXB Trẻ, 1996, 94 trang, 45 bài) và Thơ Vũ Hữu Định toàn tập (in năm 2006, ở nước ngoài, 242 trang, 118 bài).





Bìa sách: Thơ Vũ Hữu Định Tòan Tập và Còn Một Chút Gì Để Nhớ …



Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên Huế, từng sống nhiều nơi ở Tây Nguyên, lập gia đình và định cư tại Đà Nẵng. Ông làm thơ từ thập niên 1960, đăng báo rải rác. Trước 1975, Vũ Hữu Định là cán bộ xây dựng nông thôn; sau 1975, ông làm công nhân điện lực. Một đêm trăng tháng Giêng năm 1981, tại làng An Hải, bên bờ sông Hàn, Đà Nẵng, Vũ Hữu Định qua đời vì ngã từ trên lầu xuống, trong một cơn say cùng bè bạn.

Trong tập Còn một chút gì để nhớ, theo những người bạn cùng thời thì Vũ Hữu Định ra đi, đã để lại rất nhiều bài thơ chưa kịp in ấn thành tập - kể cả những bài khá nổi tiếng. Vì vậy, bạn bè ông viết tiếp: “Chúng tôi là những bạn bè, những người yêu mến Vũ Hữu Định góp lòng in tập thơ này như một nén hương tưởng niệm đến một con người tài hoa, lang bạt và có đời sống rất thơ”. Về nội dung thơ Vũ Hữu Định, trong cuốn sách Thơ Vũ Hữu Định toàn tập, người giới thiệu viết: “Thơ Vũ Hữu Định quay quanh các chủ đề: quê nhà, tình bạn, tình yêu trong khát vọng một không gian rộng rãi”.

Tên của tác phẩm này trong các cuốn sách được dẫn ở trên, đúng như chúng tôi đã viết - Còn một chút gì để nhớ. Chứ không phải như trong một số trường hợp, có người đã thể hiện khác với tiêu đề vốn có của nó, ví dụ: Một chút gì để nhớ hoặc Còn chút gì để nhớ…





Tương tự như trên, một vài câu, từ trong bài cũng có sự thể hiện không giống với những tài liệu mà chúng tôi hiện có. Có thể nêu một vài ví dụ (không viết hoa từ nào):

đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng


Chữ dăm thỉnh thoảng được viết thành năm, là không đúng. Hoặc:

nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

Từ “da” trong dòng thơ thứ hai là đúng, thay vì đôi khi được viết thành “nên” (nên em mềm như mây chiều trong).

Dòng cuối của bài thơ này, sinh thời được tác giả viết là còn một chút gì để nhớ để quên, như các tài liệu hiện có. Nhưng đôi khi đã được “chuyển” thành còn một chút gì để nhớ để thương.
Hai tập sách chúng tôi đang có trong tay cũng thể hiện sự không thống nhất vài từ ngữ (bên đồi và trên đồn) khi in lại bài thơ nổi tiếng nhất của Vũ Hữu Định viết về Pleiku.

Bản in 1996 tại Việt Nam:
mai xa lắc bên đồi biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.

Bản in 2006 ở nước ngoài:
mai xa lắc trên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên

Cuối cùng, cần nói thêm là văn bản Còn một chút gì để nhớ được trình bày trong các cuốn sách mà chúng tôi hiện có, có một vài điểm “lạ” về chính tả, cụ thể là sự viết hoa và dấu câu (không chỉ trong một bài này). Nếu không kể tiêu đề bài thơ (có bản in chữ in hoặc in hoa có bản in chữ thường) và từ “Pleiku” được viết hoa (ở dòng thơ em Pleiku má đỏ môi hồng), không có từ nào trong bài nào được viết hoa. Một điểm “lạ” nữa là bài thơ này không sử dụng bất kì dấu câu nào (không chấm, phẩy), kể cả cuối câu kết bài (đối với bản in 2006) và có duy nhất một dấu chấm câu ở vị cuối bài (đối với bản in 1996).

Pleiku là đô thị trẻ trên cao nguyên, mặc dù vậy, đây cũng là một trong những miền đất có sức hấp dẫn đối với nhiều bộ môn nghệ thuật. Bài Còn một chút gì để nhớ của Vũ Hữu Định (và bản phổ nhạc của Phạm Duy) có thể được xem là một trong những dấu ấn đáng kể về thơ ca của thành phố này trong vòng mấy chục năm qua. Cũng vì sự yêu mến nó, mà người ta đã vô tình hoặc cố ý tạo ra thêm một số “dị bản”. Đó vừa là một sự thú vị lại cũng vừa là “một chút”… rắc rối cho những “anh khách lạ” yêu thơ đã và đang sống tại thành phố Pleiku ngày nay.


N.Q.T


------
Nguyễn Quang Tuệ - Bảo tàng tỉnh Gia Lai,
0913 418 122; 098 8585 016; quangtuepku@gmail.com

__________________
Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

Chỉnh sửa lần cuối bởi GRANDET ngày 06-09-2009 lúc 06:09 AM.

 
GRANDET's Avatar
GRANDET
Senior Member
Join Date: Apr 2008
Bài viết: 1,400
Đã Cảm ơn: 137
Được cảm ơn: 498 lần/369 bài
Xem: 6262
Reply With Quote
Old 26-05-2009, 08:19 AM   #2
GRANDET's Avatar
GRANDET
Senior Member

 
Join Date: Apr 2008
Đã Cảm ơn: 137
Được cảm ơn: 498 lần/369 bài
Status:GRANDET is offline
 
GRANDET is on a distinguished road

Default




(phoxua.net)
__________________
Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......
Reply With Quote
Old 26-05-2009, 08:25 AM   #3
GRANDET's Avatar
GRANDET
Senior Member

 
Join Date: Apr 2008
Đã Cảm ơn: 137
Được cảm ơn: 498 lần/369 bài
Status:GRANDET is offline
 
GRANDET is on a distinguished road

Default

ĐỜI VẪN CÓ EM

Về một nơi nào ta vẫn có em
đường xa không đốt được ưu phiền
những con đường núi sâu hun hút
những phố đìu hiu không nhớ tên

ta ở đây sống giữa rừng sương
có bạn là chim không chút chán chường
có hoa không bán giăng đầy núi
có lũ vượn về chung thủy trên nương

ta vẫn có em, đời vẫn có thơ
ta đi quét lá đốt tương lai
thở hơi sương khói tình xanh ngát
không biết ngày mai - Ôi một mai

sao chẳng yêu như vượn yêu rừng
như hoa núi thở thả lừng hương
như chim vẫn hót trên cành mát
mà lại sầu phải khóc tương lai

ta chẳng về đâu đời chẳng có em
có em khi núi thở sương đêm
có em là mộng ru trăng ngủ
bên suối hồn sao hát nhạc rừng.



THƯỢNG NGUỒN

(Tặng Nguyễn Đình Dzu, một chiều nhớ Đại Ninh quay quắt)

thượng nguồn sương ngập bờ khe
màu lan của đất bốn bề gọi nhau
lá xanh như thuở ban đầu
lá vàng như thuở cùng nhau hẹn hò
anh nghe lá mục dặn dò
bước về nhè nhẹ mà mơ kẻo mà
một mai cách trở đường xa
nhớ non tưởng núi mặn mà phai đi
cỏ bên này suối xanh rì
cỏ bên kia suối vàng ghi chút màu
thuyền về đi chẳng được mau
nghe theo lũ quạ gọi màu chiều không
ngoảnh trời lá hé màu trông
bóng dương vượn hú rã lòng trong sương
đây khe nước mộng thượng nguồn
những hàng chuối níu màu sương trên ngàn
những lời cỏ gió mang mang
âm thanh của đá dội tràn tuổi thơ
vàng rẫy bắp nối xanh lơ
của khoai sắn rộng suốt bờ triền non
nghe con cá quẫy trong nguồn
nước xô đọng bóng linh hồn chiều đi

(phoxua.net)


_____________________________
__________________
Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

Chỉnh sửa lần cuối bởi GRANDET ngày 06-09-2009 lúc 05:29 AM.
Reply With Quote
Old 26-05-2009, 08:27 AM   #4
GRANDET's Avatar
GRANDET
Senior Member

 
Join Date: Apr 2008
Đã Cảm ơn: 137
Được cảm ơn: 498 lần/369 bài
Status:GRANDET is offline
 
GRANDET is on a distinguished road

Default

VŨ HỮU ĐỊNH,TÌNH CA LỠ VẬN
Đặng Tiến



Nhà thơ Vũ Hữu Định (1942-1981), từ 1972 đã xem mình như một người lỡ vận :

Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận
Hát âm u trong đêm tối một mình (tr. 65)

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh tại Thừa Thiên, sống nhiều nơi ở Tây Nguyên, lập gia đình tại Đà Nẵng và định cư tại đây. Làm thơ từ thập niên 1960, đăng báo rải rác. Năm 1975, đi học tập cải tạo một thời gian ngắn vì là cán bộ Xây dựng Nông thôn, rồi làm công nhân Nhà Đèn. Đầu năm 1981, tại làng An Hải, Đà Nẵng, anh qua đời vì say rượu té từ lầu một, cái chết còn gây nghi vấn. Sinh thời, anh không có tác phẩm xuất bản. Đến 1996 bạn bè mới đóng góp để nhà xuất bản Trẻ ấn hành thi tập Còn một chút gì để nhớ gồm 45 bài, lấy tên từ một bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc và thịnh hành một thời :

Phố núi cao phố núi đầy sương,
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn (tr. 5)

Hiện nay, sau khi tái bản thơ Nguyễn Bắc Sơn, Linh Phương, truyện ngắn Y Uyên, nhóm Thư Ấn Quán của Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn đã sưu tầm và in lại thơ Vũ Hữu Định để tặng biếu, không bán, trong tinh thần bảo lưu và truyền bá di sản văn học miền Nam. Chúng tôi đã có lần đề cao thiện chí này ; nay một lần nữa, xin công nhiên ca ngợi một việc làm tâm huyết.

Thơ Vũ Hữu Định lần này gồm 80 bài – chắc là còn thiếu – là một tập thơ hay, tài hoa, trong sáng, đáp ứng được sở thích đông đảo người đọc ; một tác phẩm có giá trị cao về mặt tư tưởng, tình cảm, nghệ thuật, lưu lại tấm lòng của nhà thơ quá cố, ghi tạc niềm thủy chung của bằng hữu, trong một hoàn cảnh lịch sử, xã hội nghiệt ngã và bạc bẽo.

*
Thơ Vũ Hữu Định quay chung quanh các chủ đề : quê nhà, tình bạn, tình yêu trong khát vọng một không gian rộng rãi. Trước khi đi vào các đề tài này, chúng ta nên biết qua thân thế tác giả, qua những bài thơ tâm sự, chủ yếu là „Bài thơ năm bốn mươi“, làm dịp tết Tân Dậu, 1981, trước khi qua đời, thơ „kiểm điểm“ vô hình trung thành thơ tuyệt mệnh, như bài „Di chúc“ của Nguyễn Khuyến :

Bốn mươi tuổi rồi đây
vợ năm con không no không đói

bốn mươi tuổi rồi
hai lăm năm uống đắng
(giỏi nghề rượu từ thuở mười lăm)
học hành thì lăng nhăng
thân tự lập thân từ năm bảy tuổi
không nhớ hết nghề đã trải
bán báo, đánh giày, ở đợ
đánh trống phòng trà, dạy học, làm thơ
phó giám đốc nuôi trẻ bơ vơ
còn cả chục nghề thôi không kể
ham đọc sách chẳng phải vì ham học
thần thánh trăm ông chẳng phục ông nào
ông nào cũng tốt
ông nào cũng tào lao
có lắm thánh nhân thì đời chỉ rối mù
nhiều triết học thêm tối mù đa sự

bốn mươi năm khoảng dăm lần tù… (tr. 86)

Trong bài „Ngựa hí đầu non“, ta còn biết thêm :

Sinh nhằm tuổi Ngọ, đêm vừa hết…
Mới hai tháng đã biết mùi bom đạn

1942, thời chiến tranh Nhật-Đồng minh. Lên bảy tuổi :

Đã theo mẹ đêm đêm qua xóm
xách đèn rao khoai sắn cầm hơi (tr. 67)

Trong bài „Cảm ơn người vợ“, 1972, ta được biết anh cưới vợ khoảng 1965 :

Bảy năm tình chồng vợ
bảy năm em hẩm hiu
lần nào em sinh nở
ta cũng phải vắng nhà
đứa đầu lòng tù tội
đứa thứ hai, đi xa (tr. 129)

Chúng ta không biết rõ anh tù tội vì việc gì, làm gì đến nỗi dăm lần tù. Theo chứng từ của bạn bè, Vũ Hữu Định là người cởi mở, vui chuyện, ưa rượu, ưa bạn, đàn giỏi hát hay, nhẹ trách nhiệm gia đình, vợ con đương nhiên là phải khó khăn. Và anh cũng thừa nhận điều đó :

Năm đứa con như năm hạt ngọc
Nếu không có em sao khỏi cát lầm
Còn anh thì cứ lông bông… (tr. 88)

Tháng 3/1973, nhà thơ Tường Linh có bài „Gặp lại Vũ Hữu Định“, ghi nhận hoàn cảnh của anh :

Thì ra ngươi chửa hết gian nan
Thôi hãy cầm như lửa thử vàng…

Chúng ta đã chấm phá được đôi nét chân dung Vũ Hữu Định. Chân dung ấy sẽ rõ nét hơn khi quần tụ bạn bè, trên chiếu rượu :

Nợ nần chưa thoát nổi
càng nợ, càng hăng vay
thiếu cái danh, nhưng không thiếu bạn bè
đi đâu cũng có phần rượu tặng. (tr. 85)

Trong mọi tình cảm, có lẽ tình bạn là mang nhiều âm sắc thời đại nhất. Đã xa rồi những „cố nhân“ trong thơ Đường, thơ Tống. Xa rồi giọng u hoài, trầm mặc của Nguyễn Trãi :

Bạn bè đất Việt ai thăm hỏi
nhờ nhắn : đời ta vẫn cỏ bồng

Hay giọng băn khoăn, xa xăm của Nguyễn Khuyến thăm hỏi bác Châu Cầu, lụt lội năm nay bác ở đâu, giọng nhẹ nhàng, thơ mộng của Huy Cận thương bạn chiều hôm sầu gối tay. Cũng đã xa rồi những „Tống biệt hành“, „Vọng nhân hành“ của Thâm Tâm. Tao loạn, thì đất nước đã trăm lần tao loạn. Nhưng chiến cuộc 1960-1975 mang một sắc thái đặc biệt, và tình bạn sinh tử thời này ngân vọng một âm hao riêng, trong chất bi phẫn nặng phần phi lý :

Trên non may có tình bằng hữu
tuổi trẻ đau chung một khúc ca
ôm nhau thức với vầng trăng lạnh
vượt lá tìm sao định hướng nhà.

Có những ngày đi trong núi thẳm
tuổi trẻ nhìn nhau, nhớ xóm thương làng
thở chung một tiếng nghe sầu cháy
tâm sự chuyền nhau điếu thuốc quan san

Cám ơn điêu đứng rừng sinh tử
cạm bẫy người giăng để giết người
tuổi trẻ gần nhau trong gió lửa
giữ dùm nhau những tiếng chim cười (tr. 45)

Bài „Chuyện người tuổi trẻ“ này, Vũ Hữu Định làm tặng nhà thơ Trần Dzạ Lữ, cùng một bài khác, mang rõ nét thời sự :

Ngày Huế giải phóng
mày lang thang trong Nam

xa nhau càng nghĩ càng thương
thằng bạn thơ cuộc đời bầm dập
trốn lính, đi lính, rồi thì học tập
thương ơi câu nói „ở răng cho vừa đời“

nghe nói mày về quê đi bán bánh mì
vợ giặt mướn cho nhà thương đẻ
rồi nghe nói mày đi Nam trở lại
quê không dụng nổi đôi vợ chồng thơ
năm năm rồi mày sống xa quê
ôi cái làng quê Nam Phổ Hạ
thời chiến tranh mày quay quắt mong về (tr. 42)

Hòa bình, thống nhất mà lại làm nhiều người xa quê – và xa nhau – hơn là chiến tranh, chia cắt. Bài thơ này làm khoảng 1980, bắt đầu bằng câu ca dao quen thuộc :

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

Ai hiểu sao thì hiểu.

Tình bạn, bao giờ cũng mang tính cách thời đại, xã hội. Tình yêu có không gian rộng rãi hơn : tiếng sét ái tình có thể giáng xuống bất cứ lúc nào và nơi nào. Tình bạn có thuở, có thì, có nơi, có chốn. Yêu nhau rồi mới ngồi vào chiếu ; ngồi vào chiếu rồi mới ra tình bạn. Bá Nha, Tử Kỳ cùng chiếu nhạc buổi Xuân Thu. Quản Trọng, Bảo Thúc cùng miếng đỉnh chung thời Chiến Quốc. Montaigne và La Boétie cùng phất áo giữa tòa án Bordeaux. Nguyễn Khuyến, Dương Khuê áo mão đồng khoa… Vũ Hữu Định, Trần Dzạ Lữ, Trần Hoài Thư, cùng nhiều bạn khác cùng gối đầu trên báng súng, tai nghe trực thăng, đại bác… Cơn binh lửa tạo ra và củng cố tình bạn. Cái quý là tình bạn còn lại sau cơn binh tàn, lửa tắt. Và quý hơn nữa, trong tình bạn ấy, sau khi chắt lọc tiếng trực thăng đại bác nhiễu nhương, còn lại tiếng đập cùng nhịp của những trái tim. Ấy là tình người. Tình yêu là định mệnh cá nhân ; tình bạn là cơ duyên thời đại. Cao quý thay lòng chung thủy giữa những tâm hồn tự nguyện, trong tình yêu cũng như tình bạn.

Vũ Hữu Định, người đã ra đi, tình còn ở lại.



*

Nói đến thời đại là nói đến quê hương. Vũ Hữu Định tha thiết với quê hương, dù anh sinh một nơi, sống một nơi và giữa hai nơi là những bước chân lang bạt kỳ hồ. Anh khẳng định :

Mùa lúa năm nay đòng đòng đã trổ
anh yêu mùa yêu đất yêu quê (tr. 29)

Nhưng quê anh nơi nào ?

Những con lạch anh chèo ghe thăm lúa
thả lưới giăng câu, mười mấy năm ròng

Cau với bưởi bây giờ thơm hương trái
em bên vườn da thịt có thơm không ? (tr. 28)

Vũ Hữu Định là „kẻ chợ“, dân thành phố ; ở đây anh thác lời „kẻ quê“, một nông dân mười mấy năm cày sâu cuốc bẫm, nhà mới thay tranh mong đón em về… Lời không thật nhưng tình thì thật.

Tình quê nơi Vũ Hữu Định, quyện với tình bạn và tình yêu là một khát vọng hạnh phúc trong nguồn cội. Quê hương của Vũ Hữu Định không chính xác như trong những „bức tranh quê“ mà ta đã gặp, những đồng chiêm trũng miền Vụ Bản, Nam Định của Nguyễn Bính, hoặc thôn làng sơn cước Hà Tĩnh trong thơ Huy Cận, hay làng Trung Phước dưới chân núi Quảng Nam trong thơ Bùi Giáng, Tạ Ký, Tường Linh. Nơi Vũ Hữu Định, quê hương làm tâm cảnh tượng trưng cho một giấc mơ. Giấc mơ Trở Về của đứa con biết mình lạc hướng, vì cơn lốc của lịch sử đã đành, nhưng cũng có phần cố tình lạc hướng. Phải hiểu như thế mới giải quyết được nhiều mâu thuẫn trong thơ anh.

Và hiểu rằng nỗi nhớ nhà thường xuyên ám ảnh anh, không giống với nỗi nhớ bất ngờ, bất chợt trong thơ Nguyễn Bắc Sơn đồng lứa :

Qua cầu Sông Lũy nhìn quanh quất
Nước đỏ cầu đen chợt nhớ nhà

Tình quê, đề tài cho nhiều bài thơ, có thể là nền thơ Vũ Hữu Định :

Mây còn bay nên đời còn mộng
tuổi trẻ ra đi sao lại nhớ nhà
ơi người tuổi trẻ sầu trong mắt
đêm trên rừng mộng gởi quê xa.

quê xa ta có em và mẹ,
nhớ ao bèo xanh bông tím thiết tha
nhớ người con gái bên hàng xóm
chiều thả thuyền vớt mộng nở hoa… (tr. 44)

Cảnh mơ hồ nhưng tình tha thiết. Quê xa đây là mộng tưởng. Vũ Hữu Định không được hạnh phúc có một làng chính xác để ca ngợi như Huy Cận, Bùi Giáng. Nhưng anh chẳng quan tâm đến điều đó :

Nghĩ ra thì ở đâu cũng vậy
ta vẫn là ta khinh bạc đắng cay.
có lẽ ta là thằng bất sá
cớ sao ở đâu rồi cũng bằng lòng
thả trôi cái sống cho đời dạt
mẹ buồn ta tóc trắng lưng cong (tr. 76)


Quê hương, nơi Vũ Hữu Định là niềm u hoài khôn nguôi, hướng về cõi hạnh phúc đã mất hay chưa đến, trong nghĩa „quê hương và lưu đày“ trong Kinh Thánh, hay Albert Camus.
U hoài bốc men cho những vần bay bướm :

Hoa dại ven đường gửi lại các em
Tiếng giã gạo gửi cho người mất ngủ
Trăng mười bốn gởi tâm hồn thiếu nữ
Trăng mười lăm gởi những kẻ yêu nhau

*

Tình sôi nổi, thiết tha nhất trong đời người có lẽ là tình yêu. Thơ tình yêu là lối thơ dễ làm và khó hay nhất. Một là vì đề tài lâu đời trở thành khuôn sáo, hai là người làm thơ tình khi thành thật thì chủ quan, đắc ý, tự nghĩ thơ mình là hay, hóa ra dễ dãi, trong khi người đọc bên ngoài, cho rằng lẩm cẩm. Thơ tình ngày nay, muốn thành công, phải giàu lượng trí tuệ và chất nghệ thuật ; nhưng thơ hoa mỹ lại mất nét thành thực đơn sơ. Mà tình yêu chính là cảm xúc đơn sơ.

Thơ tình Vũ Hữu Định gây cảm xúc vì chỗ tha thiết mà tự nhiên ấy :

Anh đang sống thiếu một phần thân thể
sống thiếu em nên anh thở không đều
thèm ngực trần, môi ngọt với tay yêu
đã trói chặt hồn trăm năm lãng tử



đã quen đau nên thấy được mặn mà
của tội lỗi mà anh kêu hạnh phúc
ôi vết chém đã qua thời đau nhức
đâm da non để thành sẹo muôn đời
anh thở đều để sống em ơi (tr. 31)

Hơi thở rạo rực đã phả vào bài „Tiếng dội của sương chiều“, 5 chữ nhẹ nhàng nhưng da diết, trong sáng mà hàm súc - một bài lý tưởng để phổ nhạc (câu này viết nhắn gửi Phạm Duy) :

Anh nằm đâu, ngồi đây
ngó nước nguồn reo vỡ
nước nguồn chảy bao năm
đá núi mòn dấu nhớ
anh nằm đây, ngồi đây
một mình anh vẫn thở
mười năm trong trắc trở
anh thở khác ngày xưa
nghe dội tiếng rừng mưa
nghe vang lời suối nhớ



anh nằm nghe lay động
đau của những nhánh cành
anh ngồi trong lá xanh
trên những hồn lá chết
tay anh nắm tha thiết
những chiếc lá còn tươi
thả xuống suối mà chơi
trôi đi còn tiếng dội… (tr. 33)

Nguồn thơ róc rách tuôn tuôn tự nhiên, u uẩn trong veo, thắm tươi đau đáu, trầm lặng ngân vang. Một bài thơ tình hiện đại, rõ nét nếu ta so sánh với „Tình quê“ đồng dạng của Hàn Mạc Tử, nửa thế kỷ trước. Đâu đó, trong Thân phận làm Người, André Malraux đã định nghĩa tình yêu là „cái phần mình thay đổi ở người kia“, nghe sâu sắc, nhưng trừu tượng. Vũ Hữu Định nói anh thở khác ngày xưa có cường điệu nhưng cụ thể, và xúc động. Thể ngũ ngôn ngắn hơi, ít để lại tác phẩm hay. Bài „Tiếng dội của sương chiều“ là một tác phẩm toàn bích.

Cùng một hơi thở - hơi thơ ấy còn có bài „Rừng hương mật“ đắm đuối. Cảm hứng tuôn tràn một mạch,ào ạt, sung mãn mà âm trầm, tao nhã. Thao thao tình cảm, thao thiết ưu tư :

Anh đang sống - đang thở đều rất lạ
Thở yêu em yêu đau đớn của đời
Anh cảm được phút của mùa đang đổi
Giây của sông dừng lại đợi chiều trôi
Ở đâu đó rừng của Thu ảm đạm
Uống chút hương hoa của suối mà say
Mây của nghìn năm mây vẫn là mây
Nhưng một buổi lạ như vừa mới có



Một ngày nào mặt trời kia rét lạnh
Máu đỏ trùng dương một lần chết cuối cùng
Giấc lạnh vang lời gió nhắn với rừng
Anh hối hả trở về mau cho kịp (tr. 82)

Nhịp thơ dập dồn, hình ảnh điệp điệp, ý tứ trùng trùng, tuôn tuôn từ một hồn ứ chứa bao nhiêu tình rừng thẳm. Do đó mà thơ tình Vũ Hữu Định ngày nay còn gây hào hứng.

Thơ tình, chứ không huê tình kiểu „áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc“. Thơ tình xưa nay thường khệ nệ đèo thêm phần thuyết lý, dạy đời : thơ Pháp từ Ronsard đến Aragon, thơ Việt từ Nguyễn Trãi „đầm ấm thì thương kẻ lạnh lùng“ đến Xuân Diệu „vội vàng lên với chứ“. Thơ Vũ Hữu Định mang sắc phơi phới, hồn nhiên, đớn đau mà vẫn tin đời - có lẽ do niềm tin ở trời đất, mà anh diễn đạt rất mãnh liệt trong bài tứ tuyệt :

Sướng quá, nâng ly, khà một tiếng
Mừng rằng sắc núi vẫn màu xanh
Đám mây bay thấp ngang nhà cỏ
Hương rượu nồng hơn mọi thứ tình (tr. 6)

Tâm giới hào sảng trước sắc giới ưu ái như trong đoạn thơ trên, được định hình trong một thi giới bao la, biển rộng trời cao. Thơ Vũ Hữu Định ít có giới hạn chật hẹp, nếu Pleiku phố xá không xa thì cũng được nấn rộng bằng sương mù, cây xanh, núi cao - và nhất là có em !

Nơi Vũ Hữu Định tình yêu, tình bạn, tình quê, quyện vào niềm nhớ đất thương trời mêng mang mênh mang mênh mang.

*

Hình ảnh tạo tính nhất quán cho tập thơ, xuyên suốt, tiếp dẫn các bài thơ, tự rừng núi đến thôn quê, ao bèo, thửa ruộng, lũy tre, mái nhà, là con chim.
Một mặt chim là tri âm, chia sẻ tâm sự và ước mơ :

Có lẽ con chim rừng bữa nọ
Hát với anh là chia sẻ ngọn nguồn (tr. 74)

Chim là một ẩn dụ đa hiệu. Hình ảnh thị giác, nó là không gian gần mà xa, cảm nhận thính giác, tiếng chim là thời gian dội vào tim, có khi hẹn hò hoan lạc thủy chung :

Con chim bỏ đi có bận quay về
Cất tiếng hát chào niềm vui của gió (tr. 108)

Có khi nhắc thân phận hiện thực chơ vơ :

Con chim lạ lùng năm nọ của tôi ơi
Hóa mấy kiếp mà sao tôi vẫn vậy (tr. 110)

*
Thơ Vũ Hữu Định là điển hình cho thơ trữ tình hiện đại. Nó không gai góc, thách thức ; ngược lại, nó kết thân, đằm thắm, quen thuộc. Lay động người đọc bằng tình cảm trong sáng và thiết tha, bằng nét tài hoa vô tội.

Đây là đoạn cuối trong bài thơ „Kiểm điểm“, Vũ Hữu Định làm 1981, trước khi vĩnh biệt trần gian :

Ta đang nhớ thuở sông dài núi rộng
đường thênh thang của một gã giang hồ
ta đang thèm đi để học làm thơ
chờ ta đến xin nhớ phần rượu tặng (tr. 89)

Câu thơ tuyệt mệnh thu gọn không gian, cuộc đời, tâm tình, hoài bão văn chương và những khát vọng chưa nguôi của Vũ Hữu Định.

Trên chiếu rượu vui ít buồn nhiều hôm nay, bạn bè, trong và ngoài nước, luôn luôn giữ phần rượu tặng, cho Định.

Định ơi,



Orléans, ngày 25/2/2006

http://www.blaisepascaldanang.fr/spip/article.php3?id_article=166

ĐặNG TIếN
__________________
Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

Chỉnh sửa lần cuối bởi GRANDET ngày 06-09-2009 lúc 05:27 AM.
Reply With Quote
Old 26-05-2009, 08:30 AM   #5
GRANDET's Avatar
GRANDET
Senior Member

 
Join Date: Apr 2008
Đã Cảm ơn: 137
Được cảm ơn: 498 lần/369 bài
Status:GRANDET is offline
 
GRANDET is on a distinguished road

Default

Ði tìm Vũ Hữu Ðịnh ở Mỹ
Trần Hoài Thư

Trong một căn phòng rộng mênh mông của thư viện Đại học Cornell New York, đầy kệ ngăn san sát, nơi chứa đựng những di sản về văn hóa của toàn thế giới, có ai ngờ một tạp chí như Tiếng Ðộng, tiếng nói của Ban đại diện Ðại học xá Minh Mạng vào năm 1971, hay Trước Mặt do Phan Nhự Thức chủ biên trước 1975 ở Quảng Ngãi lại nằm giữa kệ sách. Ai có thể ngờ tập san Bộ Binh của khóa 23/24 Thủ Ðức vào năm 1966 lại được đóng bìa cứng, có mặt tại đây. Cũng thật không thể tưởng tượng có những nội san của các trường trung học, đại học miền Nam trước đây được cất giữ. Ðó là những ví dụ để nói lên sự giữ gìn và bảo tồn văn hóa nhân loại của một đại học Hoa Kỳ. Nó không có màn kỳ thị, không kẻ thắng người thua. Không trả thù. Không kết án nọc độc để rồi đốt hủy… Nó chẳng cần phân biệt hay ưu đãi ai. Sách nào cũng được bảo bọc tối đa, bìa cứng, chữ nổi. Nếu là tạp chí quá cũ thì được bỏ vào hộp carton, cột dây cẩn thận.

Không những chỉ có căn phòng rộng mênh mông này để cất giữ di sản văn chương miền Nam mà còn có cả một tòa nhà khác nằm riêng biệt ngoài vòng đai của khuôn viên đại học cũng chứa các tạp chí và sách báo của miền Nam, loại ngoại cỡ. Nơi này, có những tập như Khởi Hành đóng bộ, hay nguyệt san Ðời, hay những bộ nhật báo Chính Luận, Tin Sáng, Ðiện Tín v.v… Nhưng đừng mang ra ngoài hay xé. Coi chừng tiếng hú báo động đấy.

*Nơi đây không có ngăn riêng dành cho nhà văn lớn hay nhà văn nhỏ. Không người nổi tiếng hay kẻ vô danh. Bên cạnh tập thơ của Tố Hữu là tập truyện của Nguyễn Mạnh Côn. Những tập sách mỏng của nhà xuất bản Quân Giải phóng nằm cạnh những tác phẩm của Cục Chỉnh huấn Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Sách của kẻ chiến thắng nằm bên sách của phe chiến bại. Bên cạnh một cuốn sách đóng bìa công phu, phụ bản nhiều màu, tranh bìa của họa sĩ tên tuổi vẽ, là một tập sách nghèo nàn, đơn sơ, đến tội nghiệp. Chỉ có kẻ đọc mới có quyền thẩm định và lựa chọn. Cho dù cuốn sách có mạ vàng, giấy loại hoa vân, bìa cứng hay cho dù tranh bìa được vẽ bởi một họa sĩ hàng đầu đi nữa, cũng không thể thu hút quyến rũ được hắn.

Riêng tôi, tôi chọn Vũ Hữu Ðịnh.

Thứ nhất là anh thuộc thế hệ chúng tôi. Dù sinh thời, anh chưa có một tác phẩm nào xuất bản, nhưng không vì thế mà thơ anh lại không được nhiều người ưa thích. Riêng bài thơ “Còn một chút gì để nhớ” đã đi vào tâm trí chúng tôi không ít thì nhiều, thời ấy.

Nói đến Vũ Hữu Định là nói đến một người bạn giang hồ, và những cốc rượu bốc cháy. Có người trách anh bỏ bê gia đình, vợ con để theo tiếng gọi của những phần rượu tặng. Có lẽ những bài thơ về rượu này khá phổ biến, nhưng họ làm sao hiểu được nỗi lòng của Ðịnh và lý do tại sao anh lại phải xa người mẹ bệnh tật, xa vợ con, xa quê.
Từ ba năm làm lính biên trấn mà Ðồn cheo leo đón gió/Bốn mùa phên mây che/ Ðất trời đây một cõi/Nhốt đời chưa cho về /đến những tháng năm luân lạc, chấp nhận làm một người con bất hiếu, một người chồng một người cha không chu toàn trách nhiệm, để được sống, để được tiếp tục làm thơ, tiếp tục dâng hiến cho đời, cho người đọc những bài thơ đẹp, hay, để đôi lứa càng thương yêu nhau, để Pleiku càng đi vào trong tim của chúng ta, bằng tóc em mướt và mắt em ướt, để bọn trẻ chúng tôi thời ấy, cả tháng không thấy đàn bà, không thấy cả một tờ tạp chí, được an ủi rằng may mà có em đời còn dễ thương… trong khi đêm ngày tai như muốn bục màng nhĩ vì trái pháo và tiếng trực thăng cùng những núi đồi vây hãm khó có thể thoát được ra ngoài.

Hãy hiểu nỗi lòng của Ðịnh. Hãy thương lấy Ðịnh qua những dòng tâm sự đành đoạn não nùng khi anh viết về người vợ của anh:

Lần nào em sinh nở
ta cũng phải vắng nhà
tháng này em sinh nở
ta lại trên đường xa
…cám ơn người vợ khổ
chiều nay ta khóc thầm
uống những giọt rượu đắng
ngày xa quê long đong

Trách anh hay trách hoàn cảnh, thời thế ?

*

May mà có em đời còn dễ thương…

Vâng. Nếu cảm ơn thành phố ấy có em, thì cũng cần phải cảm ơn Vũ Hữu Định của chúng ta nữa.

*Ðể rồi từ đó, những chuyến đi đi về về thư viện Đại học Cornell, Library of Congress, dặm dài thăm thẳm, qua đồi, qua đèo trập trùng, để chúng tôi nói với lòng, chúng tôi đi tìm Vũ Hữu Định đây. Rồi những chồng tạp chí cũ mà người phụ trách mang đến cao ngất, cứ lật và cứ lật miệt mài. Nơi nào có cõi thơ anh trú ngụ? Tạp chí nào, số nào, để có thể mượn mà tìm ra dấu vết thơ anh? Trang giấy nào có tên Vũ Hữu Ðịnh dù chỉ một hai dòng, nhất là ở giữa xứ lạ quê người mà việc sưu tập di sản văn chương miền Nam chỉ biết trông cậy vào các thư viện Mỹ?

Nhưng chúng tôi tin hương hồn anh sẽ phù trợ việc làm của chúng tôi, hà hơi tiếp sức chúng tôi vượt tất cả những trở ngại khó khăn. Ðể rồi những lần lên đường vào bốn giờ sáng, khi đêm bưng bít cùng tuyết rơi mịt mùng. Và những lần trở về, một mình trong đêm, giữa xa lộ đầy ánh đèn xuôi ngược, hay qua dốc đèo hiu quạnh, có khi lạc qua một thị trấn quờ quạng tìm lối ra, không phải đi năm phút đã về chốn cũ mà đi một phút đã về chốn cũ, mắt lão như không thấy đường nhưng lòng thì vui thật là vui. Bởi vì mỗi lần trở về là những bài thơ Vũ Hữu Định làm bạn đồng hành, nằm bên cạnh, để cho mình quên cả nhọc mệt, mà nhấn mạnh bàn đạp gia tốc…

Tập thơ này là một tập thơ được may mắn. Với tổng số 80 bài (tập thơ in trong nước chỉ có 45 bài), nó không phải bị nộp lưu chiểu hay phải qua giấy phép xuất bản nào để phải chịu cắt xén hay thay đổi cho phù hợp với chế độ đương đại. Sách dày 170 trang, gồm 2 phần. Phần đầu Dẫn nhập và phần hai là thơ sưu tập. Riêng lần xuất bản này, chúng tôi “chơi sang”: Bìa sách được in bằng lọai nhũ kim (gold metallic and golden foil), và giấy toàn là loại đặc biệt. Chỉ dành tặng nếu có yêu cầu. Không bán. Xin nhắc lại, dành để tặng khi có yêu cầu. Ðể chứng tỏ cùng Ðịnh là đám bạn bè tuổi ngựa của anh dám chơi đẹp, chơi sang và chơi hết mình vì bạn!

Chúng tôi xin được để tập thơ này bên cạnh phần rượu tặng trong ngày giỗ thứ 25 của anh.



*Phụ lục: Thơ Vũ Hữu Định



Rừng Hương Mật
Tặng Diệp Mậu

Anh đang sống, đang cảm nhiều chuyện lạ
Những chuyện trăm năm mà tưởng như vừa
Một ngọn gió của đời đã thổi
Bay hồn anh trong bóng nắng hồn mưa
Một chút gió trên rừng hay dưới biển
Tới từ đâu sao lại báo tin mưa
Hôm qua ngó vầng trăng cuối tháng
Mọc giữa chiều xanh của buổi giao mùa

Anh cảm động nhớ một thời si dại
Yêu là yêu em bằng tấm lòng xưa
Anh đang sống - đang thở đều rất lạ
Thở yêu em yêu đau đớn của đời
Anh cảm được phút của mùa đang đổi
Giây của sông dừng lại đợi chiều trôi
Ở đâu đó rừng của Thu ảm đạm
Uống chút hương hoa của suối mà say

Mây của nghìn năm mây vẫn là mây
Nhưng một buổi lạ như vừa mới có
Gió là gió mà sao anh ớn lạnh
Men ở đâu mà anh đã ngất ngây
Ngày anh về, hôm anh cất chân đi
Nghe được tiếng của con đường anh bước
Em có xa như một đời kiếp trước
Anh thấy gần nên cảm được trầm hương
Anh ở trên rừng cũng sống trọn nguồn thương
Ra giữa biển tình cũng như biển mặn
Một ngày nằm nghe đất trời cay đắng
Sấm vang lên, mưa giận dữ trên rừng
Nước của nguồn đi mạnh bạo cuồng hung
Tiếng bi thiết trong mạch nguồn nức nở

Anh đang sống – anh đang nghe anh thở
Cảm được tinh của cả đất trời
Lúc bắt đầu anh chỉ có em thôi
Nay có hết núi mây rừng với biển
Những đồng nội mấp mô màu trác tuyệt
Một hôm nao cảnh cũ lạ vô cùng
Của đất trời là Xuân Hạ Thu Đông
Anh có cả em nên giàu cảm lụy

Anh đang sống và anh đang thấy
Nước trên sông khi chảy khi dừng
Lúa trên đồng kể chuyện với sao sương
Những đá tảng nghìn năm nay nói chuyện
Những con đường anh đi và anh đến
Bờ Trùng Dương bến hẹn với Bình Nguyên
Những nẻo rừng trạm gió sơn xuyên
Thân ái với màu rêu trên vách cổ
Những củi mục của rừng thân rất nhỏ
Kể với anh về thay đổi của đời
Một chiều vàng bên suối mộng rong chơi
Anh soi thấy anh hình dung đã lạ
Mắt rực rỡ ngó chiều bay tơi tả
Vượn hú sương chim kêu bạn não nùng
Suối cạn mòn, nước đã ra sông
Ở nơi đó anh lạc hình mất ảnh
Một ngày nào mặt trời kia rét lạnh
Máu đỏ trùng dương một lần chết cuối cùng
Giấc lạnh vang lời gió nhắn với rừng
Anh hối hả trở về mau cho kịp

Anh đang sống một ngày tha thiết
Nghe âm vang đồng nội rừng già
Mỗi bước đi về nghe thật thiết tha
Hồn ứ chứa bao nhiêu tình rừng thẩm
Mỗi bước chân anh đất trời lằng lặng
Mắt sáng như sao tiếng nói như đồng
Anh bước về để thấy một hừng đông
Có mặt Nguyệt thay mặt Trời hiển hiện

17-10-73



Tiếng dội của sương chiều



lạnh trong rừng thu xanh
anh vô nằm trong cỏ
nơi những ngày xưa kia
em đã ngồi ở đó
anh nằm đây, ngồi đây
nghe rừng thu nhắc nhở
tiếng dội của sương chiều
làm xanh đau sắc cỏ

lạnh trong rừng thu xanh
em là con chim nhỏ
đậu trên nhành hoa leo
hát mấy lời ngẩn ngơ
anh nằm đây, ngồi đây
ngó nước nguồn reo vỡ
nước nguồn chảy bao năm
đá núi mòn dấu nhớ
anh nằm đây, ngồi đây
một mình anh vẫn thở
mười năm trong trắc trở
anh thở khác ngày xưa
nghe dội tiếng rừng mưa
nghe vang lời suối nhớ
anh như còn nặng nợ
với cây cỏ rừng già
anh vẫn còn thiết tha
nơi em nằm buổi nọ

lạnh trong rừng thu vang
lá thu vàng cũng rụng
anh nằm nghe lay động
đau của những nhánh cành
anh ngồi trong lá xanh
trên những hồn lá chết
tay anh cầm tha thiết
những chiếc lá còn tươi
thả xuống suối mà chơi
trôi đi còn tiếng dội
anh nằm đây, ngồi đây
mưa của rừng đã tới
những hạt rơi nhức nhối
trên những lá vàng non
và những lá héo hon
rụng như lòng anh rụng

lạnh trong rừng thu mộng
ôi giấc mộng dài đời
lạnh cả mùa thu tươi.


Nguồn: Thư Quán Bản Thảo, tập 23 tháng 4. 2006, chủ đề Tưởng nhớ Vũ Hữu Ðịnh, phổ biến trong vòng thân hữu, không bán. Ðịa chỉ: P.O Box 58 South Bound Broo

http://nghiathuc.wordpress.com/2006/04/02/136/#more-969

TRầN HOÀI THư
__________________
Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

Chỉnh sửa lần cuối bởi GRANDET ngày 06-09-2009 lúc 05:26 AM.
Reply With Quote
Old 26-05-2009, 08:35 AM   #6
GRANDET's Avatar
GRANDET
Senior Member

 
Join Date: Apr 2008
Đã Cảm ơn: 137
Được cảm ơn: 498 lần/369 bài
Status:GRANDET is offline
 
GRANDET is on a distinguished road

Default

Chẳng Hay

Chiều dựng mùa đông mây xám ngắt
núi cao trời thấp có ta về
giang hồ đâu có ai phong ấn
mà nghĩ từ quan trở lại quê

Ta đi, xưa gió đưa vài dặm
ta đi, xưa mưa ướt vừa căm
quê nhà ngoảnh lại mờ trong gió
hình như không đủ buồn trong lòng

Ta đi, có những ngày trú quán
lòng mốc tình khô như lá bay
ngồi quán suốt ngày trông thiên hạ
ta có sầu không ta cũng chẳng hay

Ta đi, có những ngày khô héo
chẳng nhớ quê nhà, chẳng muốn về
mẹ, chị, đàn em như bóng khói
nương với đời ta quay quắt trong mê

Ở đâu rồi cũng đời vất vưởng
chiều lặng lòng câm dạt phố người
khi không ta có đời lang bạt
đời học trò xưa khép cánh hổ ngươi

Chiều nay không hẹn ta lại về
mùa đông dài vẫn níu chân quê
ta về gió đón phong sương lạnh
ta về, mưa đón ta về quê

Thôi chẳng về chi thôn xóm quạnh
nhà xưa giờ chắc cũng điêu tàn
đứng đây đường cái quan bên núi
ta cũng đã trầm lòng mê mê

Chiều dựng mùa mưa bên vách núi
chiều neo sương khói buổi ta về
mẹ, chị, đàn em không có mộ
thăm ai? thăm ai? ta về quê



Đêm Mưa Thiếu Rượu Nhớ Lý Hạ

Lý Hạ xưa say bằng huyễn mộng
ta nay say bằng rượu pha cồn
cảm đau thân thế người trong sử
rượu đắng cay mà sao thấy ngon

Lý Hạ yêu người mà hóa quỷ
ta yêu người nên nghèo rớt mồng tơi
đêm mưa thiếu rượu thương người cũ
ngâm vài câu Lý Hạ, rợn người

thời đại thánh thần đi mất biệt
còn lại bơ vơ một giống sầu
rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn
nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau

mưa nhức, mưa như cuồng, tức thở
thịt rồng đâu ? nem phượng ở đâu ?
đũa ngọc, chén vàng đâu mất cả
mắm ruốc, me chua cũng cháy hết sầu

mời nhau một chén đêm huyền sử
Lý Hạ đâu ? - còn ta đâu ?
cứ tưởng nằm kề bên họ Lý
gác chân nhau nói chuyện biển dâu
ma quỷ sợ tâm hồn ướt rượu
gối chai không mà thương nhớ nhau


Kỷ Niệm

con đường đất có màu xanh bữa nọ
cây bên đường màu lá lục hôm kia
con chim bỏ đi có bận quay về
cất tiếng hát chào niềm vui của gió

anh ra đứng sau hè nghe để ngó
không thấy chim mà thấy tiếng kinh chiều
vui trong lòng anh đã bước chân theo
em có nói là em không trở lại

hôm em nói em đi buồn biết mấy
anh có nghe bên đường tiếng chim kêu
con chim chi buồn chết cả buổi chiều
từ bữa đó anh nhớ đường ra ngõ

con đường đất bàn chân từ thuở nhỏ
một ngày vô bốn bận đi về
cây bên đường, cỏ bụi, hàng tre
quen đến nỗi không nhớ gì tha thiết

hôm em đi anh bắt đầu thấm mệt
thấy trường xa con đường ngại đi về
mắt anh nhìn lên đọt ngọn tre
dõi mấy bụi tìm con chim nhỏ

con chim nhỏ có nằm trong vạt cỏ
bữa hôm nay anh mới thấy cỏ vàng
con chim đời nào lại sống trong hang
anh vô cớ soi tìm trong đụn đất

tuổi mười một anh biết mình đã mất
một cái chi không nên ảnh thành hình
cho tới bây giờ hết tuổi học sinh
râu đủ bộ vẫn còn ngơ ngẩn mãi

con chim nhỏ có bao giờ trở lại
em năm nay không biết mấy con rồi
con chim lạ lùng năm nọ của tôi ơi
hóa mấy kiếp mà sao tôi vẫn vậy


Đò Ngang

Cứ ngồi ngó mãi ra sông
Trông con đò khách giữa giòng lại qua
Ai về, ai bước chân ra?
Có ai về ở cùng ta chốn này
Quê hương mộng dữ bao ngày
Đã xanh phơi phới màu cây cổng làng
Chạnh lòng ngó chuyến đò ngang
Tiếng kêu sương gió dặm đường quạnh hiu
Tiếng kêu của những buổi chiều
Tiếng kêu mái quán ngày xiêu dốc rừng
Đi, về. Lòng quá bâng khuâng
Nơi đây quê thấp nhớ rừng quê cao.



Thời Tiết

cơn bão lớn về bình nguyên giục gĩa
run theo cây mùa lúa rạp buồn rầu
cát bụi lộn đường bay tản về đâu
khung cảnh dựng mùa nguyên sơ man dã

con sông nước về tràn mọi ngã
thuyền bè đi, đi mất tự bao giờ
những bến chiều tấp nập mộng ban sơ
đã hun hút trong triều lên trắng xoá

làng hôm trước bây giờ trông cũng lạ
màu muôn năm đã khác lối đi rồi
những cánh chim tai ách cuộc đời
đã bay chập chờn rao cơn mộng dữ

chiều ngấm lạnh màu hoang liêu rất cũ
mây đi đâu, trời chỉ một màu tro
gió vi vu ầm ỉ khúc nhạc buồn
đã réo rắc sầu gian nan phủ tới

người em gái của buổi nào nắng mới
con đường đi em có biết đi đâu
có dắt theo hình ảnh một con trâu
em ngất ngưởng hát khúc tình đang lớn

những quang gánh đem theo hồn của mọn
con gà con, con lợn nhỏ, thằng cu
bước tới quay lui chập choạng sa mù
mắt có ngước tìm người trôi theo nước

nẻo vô núi đường lên cao rậm rịt
ngậm mà nghe con gió đẩy nhau về
những lưng còng đau đớn nợ phu thê
mắt ráo hoảnh sững hai bàn tay trắng

người bó gối nghe phút vừa im lặng
dế run theo mạch chuyển trận mưa nguồn
mai mốt đi về đồng trắng phơi xương
bay lên núi lũ trâu bò ngơ ngác

mẹ có đứng vỗ tay cười nên nhạc
hoà âm theo réo rắt trận cuồng phong
cha có say sưa vững dáng trời trồng
hồn lộn lạo theo xác nhà xác ruộng

gió xê dịch màu tang thương đêm xuống
nước đem lên con trăng đỏ lộn hồn
con trăng lưỡi liềm nhạt nét chiều hôm
mới thoáng hiện mà sao màu đã khác

ở trên núi trên rừng đi lưu lạc
thấy trăng lên con nai nhỏ vội mừng
đi men về bờ suối cũ bâng khuâng
đám cỏ mộng đã thơm mùi đất mới

dòng suối chảy đã nghe chiều vời vợi
dần lan xa hơi của chuyện đổi dời
con nai buồn nhưng cũng vội tin vui
cứ thoang thả, rừng hôm nay đã vậy

qua trôi giạt của cuồng phong hồng thủy
ruộng hôm nay đã thay lốp phù sa
làng hôm nay đã thay lại nếp nhà
thêm mồ mã thêm những đường mới mở

con sông nọ một bên bồi bên lở
lở bao nhiêu thay mất bến đò đi
bồi bao nhiêu có nên ruộng đồng lì
đứng mãi mãi cho lúa mùa được mọc

bao nhuêu kẻ nhìn ra sông để khóc
bao người vui vì thửa ruộng vừa bồi
chuyện ruộng đồng cũng là chuyện buồn vui
năm ba tháng cây quen màu đất mới

năm ba tháng người quen đời thay đổi
cỏ đã xanh trên mồ mã chưa già
lũ trai làng đã thèm khát đi xa
chuyện ly biệt thay chuyện mùa nước lụt

chuyện cô phụ có hai hàng nước mắt
gượng mà vui đưa tiễn bước người đi
làng, xóm, thôn, ngày vội nối ngày
trống gọi mõ, đêm sáng đèn gọi lửa

từ bữa đó, trẻ không còn nhớ nữa
người già quên vì không muốn đau thương
mùa nước đôi khi mấp mé lên đường
già thì sợ, trẻ con mừng khấp khởi

mưa mãi sai mùa, gió sai chiều tới
lũ chim tai ách quen lối tìm về
những bóng chim mù bay dợm trong quê
nhiều giấc ngủ một đêm mà bạc tóc

chuyện làng xóm, chuyện tiếng cười tiếng khóc
nắng sớm, mưa trưa, chiều bão không ngờ
sương của mùa nguyên thủy rất đơn sơ
đã có lúc mù quê nghe dễ sợ

tuổi bé dại không biết mình đang thở
lớn khôn ra tiếng thở cũng rụt rè
bạc tóc, ngập ngừng theo nẻo hồn quê
chuyện thời tiết nghe ra già trước tuổi

------------------------------------------------

Đứng Giữa Đồng Không

một bầy sáo nhỏ qua sông
một em tôi đã cầm lòng đi xa
như con sông nhỏ thật thà
sớm hiu hắt tạnh, chiều sa mưa nguồn

một bầy sáo đã đi luôn
một em tôi đã để buồn lại đây
con chim quyên đã lạc bầy
xuống sông vọc nước đợi ngày xế ngang

một bầy sáo nhỏ bay hoang
một em tôi đã bỏ làng đi xa
tôi ngu ngơ giữa chiều tà
em đi để lại mình ta giữa đồng

(dactrung.net)
__________________
Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

Chỉnh sửa lần cuối bởi GRANDET ngày 06-09-2009 lúc 05:23 AM.
Reply With Quote
Old 26-05-2009, 06:50 PM   #7
GRANDET's Avatar
GRANDET
Senior Member

 
Join Date: Apr 2008
Đã Cảm ơn: 137
Được cảm ơn: 498 lần/369 bài
Status:GRANDET is offline
 
GRANDET is on a distinguished road

Default



MỘT NGÀY CỦA GÃ THẤT TÌNH

em còn bóng mà tăm thì đã mất
em ở nơi nào,anh vẫn đi theo

khi ngó lại bốn bên là núi lở
trùng dương xanh sóng dữ đã lên bờ
em thì suốt mấy mùa nay chẳng gặp
xuân riêng đời hao hụt hồn thơ

khi ngó lại sông bên bồi bên lở
thời gian nay mới biết dở dang
em thì có bao giờ em hiểu được
đông lao đao mùa lá nọ bay vàng

khi ngó lại anh đã già rất lạ
tóc chưa hết xanh lưng mỏi mắt khờ
thời con buớm là hồn anh bay lượn
em có bao giờ hiểu lúc anh mơ

khi ngó lại ngọn đèo buổi sớm
em có đi qua con đường núi thật buồn
ta cảm ơn em đã đành bội bạc
mà hồn ta nay tắm được trong sương

khi ngó lại suối nọ còn tuôn chảy
nước nở hoa khi gặp đá dạm lời
anh đứng sững bên bờ đau hồn cỏ
con bướm giang hồ lả cánh bay rơi

rằng đá sỏi cũng đau như là nước
anh biết mây cũng một chút muộn phiền
đất có lúc cũng vô tình đau đớn
và anh đây ngày nọ thấm cơn điên

rằng có lẽ con chim rừng bữa nọ
hát với anh là chia xẻ ngọn nguồn
chim đã bay anh còn đứng lại
một đời anh đứng lại mà thương

đêm hun hút, đêm sâu,ngày chẳng cạn
đêm trăng lu sóng vỗ mạn đò
anh như một chiếc thuyền neo lại bến
sóng với thuyền thầm thĩ chuyện buồn xo

sáng khi đứng trên đèo cao cũng nhớ
chiều anh đi theo con suối ngoằn ngoèo
em còn bóng mà tăm thì đã mất
em ở nơi nào,anh vẫn đi theo.




TƯỞNG TƯỢNG

ngồi tưởng tượng mùa chim bay trốn gió
anh nhớ anh buồn lúc thấy em đi
anh nghe lũ chim gọi đàn bay mất
gió bay theo đem lạc dấu xuân thì

ngồi tưởng tượng lúc đàn chim sợ hãi
ngó chớp bên đông báo gió mùa hung
anh giục giã lòng anh lẩn quẩn
thấm cơn mưa,nghe được giọt não nùng

em để lại chút hương nào phảng phất
anh tìm quanh đây một chút nghìn năm
nghe nồng mặn như môi vừa gặp lại
là mùi hương em gửi đến tự nghìn trùng

nẻo em bước, đường em đi,chốn tới
một chốn nào xa anh cũng thấy gần
đời để lại cho anh ngoài ô cửa
một hình mây,bóng núi,tin sông

ngồi tưởng tượng rằng em đang vẫy gọi
trên đồi tranh gió ngược bước anh về
em khóc rũ tóc lẩn màu sắp tối
đường anh đi gió dạt bước lầm mê

anh ở lại ngó trời qua ô cửa
chợt biết tin mây, ý gió,lòng mùa
anh ở lại sống những ngay thui thủi
ngày hôm nay nghe như một ngày xưa



(nguyenmienthaoblogspot)
__________________
Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......

Chỉnh sửa lần cuối bởi GRANDET ngày 06-09-2009 lúc 05:21 AM.
Reply With Quote
Old 30-05-2009, 03:00 AM   #8
GRANDET's Avatar
GRANDET
Senior Member

 
Join Date: Apr 2008
Đã Cảm ơn: 137
Được cảm ơn: 498 lần/369 bài
Status:GRANDET is offline
 
GRANDET is on a distinguished road

Default

Có những bài thơ, tôi đọc của Vũ Hữu Ðịnh mà mường tượng ra những cảm giác của chính mình. Có những cảnh ngộ, đã trải qua trong đời sống, bây giờ, đọc trong thơ Vũ Hữu Ðịnh, như sống lại trong ký ức.

Như, bài thơ “Những ngày long đong”:


“trưa ngủ đậu - chiều đi - đêm đợi

mai lang thang, mốt biết về đâu

ngày với tháng cứ đùn như mối

tháng với ngày qua như một bãi mù

đi ra khỏi nơi anh tạm trú

đứng một nơi đâu không định trong lòng

ngã bảy xe người chia bảy ngã

có ngã nào đi riêng của anh đâu

đi ra khỏi nhà sơ quen tạm ngụ

một đêm đau lưng mắt mở trừng trừng

đi ra khỏi là ra đi với nhớ

để chiều về đâu? Ngơ ngác bâng khuâng...”


Phải, tôi đọc thơ Vũ hữu Ðịnh để nhớ lại những ngày xa xưa thuở ấy. Lúc lang thang vơ vẩn ở Sài Gòn năm 1980 sau khi được thả về. Sau đó, tham gia tổ chức một chuyến vượt biển không thành ở Bến Tre và bị công an tỉnh lên tận Sài Gòn hỏi thăm. Túng cùng, khi chiều về đêm xuống đạp xe đi mà không biết mình đi đâu. Có lúc, như một nhân vật của kiếm hiệp Kim Dung mà than thở một mình. Than ơi, trời thì cao, đất thì rộng mà ta thì không chốn nương thân. Câu hỏi tối nay biết ngủ đỗ nơi đâu cứ hoài trong tâm trí. Mình có nhà có cửa mà sao phải lạc loài như người vất vưởng không nhà. Có bữa, mướn chiếu ngủ tạm ở bến xe, để nghe những người chung quanh chửi rủa thời thế, hay những cô gái giang hồ đêm khuya kể lể tâm sự bọt bèo mình. Tôi khám phá ra một điều ngủ đêm ở bến xe lại an toàn hơn bất cứ một nơi chốn nào khác. Nếu tạm trú tại nhà mấy người thân, thì chỉ một lần, bởi cả gia đình người thân ấy cũng sẽ hồi hộp chờ tiếng gõ cửa xét nhà kiểm tra hộ khẩu và cả đêm thức trắng trong lo sợ. Thôi thì đành tối tối, tới bến xe, ngủ lẫn lộn với những hành khách chờ xe đò hoặc những anh tài xế xe vận tải hay những chị buôn hàng chuyến, để chờ một chuyến đi sắp tới cho qua những ngày bị truy nã, săn đuổi...

Ðọc những câu thơ, tự nhiên sao bồi hồi. Nhớ lại, một thời gian qua, đã tới hai mươi mấy năm mà sao như trước mắt. Tôi thấy mình đạp xe lang thang giữa con phố đông người với mây đen ùn lên phía chân trời của thành phố Sài Gòn đang lên đèn. Tôi nghe lại những câu vọng cổ, than thở buồn hiu trong đêm mưa dầm rả rích khi mình cuộn tròn trong manh chiếu ở hiên nhà cạnh những người vô gia cư từ kinh tế mới trở về, lăn lóc, tang thương.

Ðọc những câu thơ sao thấm thía:


“trong đám đông anh lại càng cô độc

bởi một nơi đâu cũng ăn tạm ở nhờ

sợ cả lời chia vui thành thật

bạn bè thì đông sao anh vẫn bơ vơ

buổi tối xe lam muộn màng ế khách

lại tới một nơi không hẹn không tìm

anh đi ngược lại con đường xe chạy

mỗi bước chân rời mỗi nhịp đau tim

thành phố lặng là khi nghìn tiếng động

không xô tan được khối lòng sầu

chân anh bước, mắt chỉ nhìn phía trước

tai nghe hoài một câu hỏi về đâu.”


Thời gian ấy, sao cố quên mà vẫn còn hằn nhớ. Cái tâm cảm của một người cô đơn trong cái xô bồ náo nhiệt của chỗ đông người lại càng làm tăng thêm cường độ nỗi buồn. Thời thế ấy, sao buốt xót. Kỷ niệm ấy sao ngậm ngùi. Cầm tập thơ Vũ Hữu Ðịnh trên tay, mặc dù chưa bao giờ gặp mặt và cũng không hề quen biết mà sao tôi có cảm giác vô cùng thân thuộc. Không biết có phải vì có lúc, mình cũng đồng cảm với cái tâm sự của một người lỡ vận “Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận. Hát âm u trong đêm tối một mình.” Hình như, với thi sĩ tác giả “Còn một chút gì để nhớ”, đêm tối lúc nào cũng là cái phông thẳm sâu của kiếp người, của những bước chân đi không bao giờ đến đích.

Bài thơ về phố núi Pleiku của Vũ Hữu Ðịnh với nhạc Phạm Duy đã tạo một thành phố nhỏ nơi xó rừng thành một nơi chốn đầy huyền thoại, vừa lãng mạn vừa bi tráng. Ở đây, có những chuyện về Bà Chúa Rừng linh thiêng, có những mối tình y như tiểu thuyết của những người lính trận và những cô gái giang hồ. Thời chiến tranh cực độ, phố núi là nơi dưỡng quân của những chàng G.I. từ mặt trận biên giới trở về và cũng là nơi mà các nàng kiều nữ từ khắp nơi đổ về kiếm tiền.Và, cũng chính nơi đây, là nơi nghỉ phép của những chàng lính chiến từ biên trấn. Rượu, ăn chơi, nhảy nhót, cho quên sầu để rồi trở lại chiến trường, ở đó có những mối tình giang hồ nhưng cũng có những mối tình lãng mạn trong trắng.

Ở đó, cũng có con đường Trịnh Minh Thế rợp bóng cây dầu, cây sao, những giờ đi học hay tan học tung tăng những tà áo trắng nữ sinh trong cái mù sương buổi sáng hay nhạt nắng buổi chiều. Pleiku, “phố xá không xa nên phố tình thân. Ði dăm phút đã về chốn cũ...” Con đường Hoàng Diệu từ rạp Diệp Kính đến Bưu Ðiện, chỉ vài phút đi lên đi xuống để cho đời còn mơ còn mộng, còn thấy hạt nắng dễ thương, hạt mưa tuy buốt lạnh nhưng lại ấm lòng vì đôi mắt em. Dù nơi đây suốt năm là mùa đông tháng giá nhưng má đỏ môi hồng em làm ấm mùa xuân. Và:


“xin cảm ơn thành phố có em

xin cảm ơn một mái tóc mềm

mai xa lắc trên đồn biên giới

còn một chút gì để nhớ để thương.”


Rời phố núi, để hát bài Biên trấn ca. Thơ, là tiếng hú vọng lên thinh không về đến quê nhà. Thơ, là tia nhìn tha thiết xuyên qua rừng qua núi, về một nơi chốn nào sắt se kỷ niệm. Thơ, những vần thơ làm xao xuyến không gian.


“...Chiều có ta đứng mãi

Ðịnh hướng phương trời quê

Chim bay về biển Bắc

Gió bạc hồn sơn khê

Ba năm đồn biên trấn

Hai mươi năm giang hồ

Chuyện kể hoài bữa rượu

Thuốc chẳng tàn cơn mê

Ðồn cheo leo đón gió

Bốn mùa phên mây che

Ðất trời đây một cõi

Nhốt đời chưa cho về...”


Có người nói thơ Vũ hữu Ðịnh ít có bóng dáng chiến tranh. Nếu có, chỉ là những nét thoảng mờ không rõ nét. Nhưng, trong suy nghĩ riêng mình, tôi lại thấy bất cứ bài thơ nào của ông cũng đều thấp thoáng hình ảnh của một thời đại chinh chiến. Cái tâm tư bất an, cái nỗi niềm thời bom đạn, những huyễn mộng và đau xót hòa chung, bàng bạc trong ngôn từ, của một thời đại mà bất hạnh thành quen thuộc và hạnh phúc lại hiếm hoi.

Bài “Trên đoạn đường quê em,” như một lời phẫn nộ:


Lửa rực đỏ treo trăm đường sinh tử

Trong đêm cay, đêm địa ngục hãi hùng

Mẹ thét tìm con tóc dài điên dại

Xiêu vẹo giữa đường chết đuổi sau lưng

Lửa đã cháy đường ra quê em

Lửa đã cháy một đoạn lòng của mẹ

Ôi cái chết có còn chăng lý lẽ

Có lý lẽ nào đã giết anh em

Ðường ra quê em trăm ngàn cay đắng

Lửa hạ đạn gào trăm tiếng kêu la

Những dòng máu vô tình vô tội

Ðã chảy lên nhau thành suối chan hòa

Lửa Quảng Trị lửa rượt về Mỹ Chánh

Rải những thây người gục giữa đồng khô

Những dòng máu đã thấm tràn mạch đất

Có làm tương lai con cháu huy hoàng?”


Ghét chém giết, nhưng vẫn phải tham dự chiến tranh, ôi tấm lòng tuổi trẻ sao sắt se buồn:


“trên non may có tình bằng hữu

tuổi trẻ đau chung một khúc ca

ôm nhau thức với vầng trăng lạnh

vượt lá tìm sao định hướng nhà

có những ngày đi trong núi thẳm

tuổi trẻ nhìn nhau nhớ xóm thương làng

thở chung một tiếng nghe sầu cháy

tâm sự chuyền nhau điếu thuốc quan san

Cám ơn điêu đứng rừng sinh tử

Cạm bẫy người giăng để giết người

Tuổi trẻ gần nhau trong gió lửa

Giữ giùm nhau những tiếng chim cười.”


Có lẽ những bài thơ hay nhất của Vũ Hữu Ðịnh, theo tôi, là những bài thơ viết về thời lang thang giang hồ của ông. Có khi ông luận chuyện đời, một chút triết lý, một chút cám cảnh thương thân. Có khi, ông phác họa lại tình cảnh mình, đối chiếu giữa cái có và cái không, cái chân thực và cái giả ngụy:


“ ... bạn bè bảo ta thằng giả trá

thằng làm thơ “tẩu hỏa nhập ma”

ta chỉ biết cười trong im lặng

có một lời nào ta nói chưa ra

hôm xưa ta vốn thằng hay nói

chuyện văn chương giống chuyện đàn bà

chuyện anh em chết ngày đôi đứa

nói mãi không cùng chẳng tận xót xa

có lúc cay môi mềm tiếng rượu.”


Thi sĩ tự họa chân dung, của một lời thê thiết bỏ nhau, của những lúc hất bỏ đi những gì thơm hương những gì mơ mộng nhất:


“bỏ người ta vẽ chân dung

bỏ người ta thấy trùng trùng cõi xa

bỏ ta

ta vẽ đời ta

bỏ nhau ta vẽ ngựa già ngủ im

bỏ ngày xưa

bỏ trái tim

ta lang bạt tự kiếm tìm xót đau

bỏ đời rồi bỏ đời nhau

bỏ trăng chết lạnh bỏ sầu khói sương

bỏ rừng tuổi lá thơm hương

bỏ sông để gió làm buồn sóng chao

bỏ người tôi bỏ đời nhau.


Ðiệp khúc “bỏ người, bỏ đời, bỏ ta, bỏ rừng, bỏ trăng, bỏ sông,” như những lời than oán, như những tiếng gọi về. Buồn, một nỗi đau tận cùng, nhưng, sao trong ngôn ngữ, có phảng phất một chút gì chịu đựng, như số phận đời đã phải cam chịu, đã phải buông xuôi...

Tình yêu, có lúc là những cơn mộng, của giây phút kiếm tìm nhưng chẳng bao giờ gặp gỡ trong đời. Vũ Hữu Ðịnh làm thơ tình, giữa thiên nhiên hiền hòa nhưng sao trong lòng như đã chớm một niềm đau, bàng bạc:


“vẫn nằm mộng thấy bàn tay em vẫy

nên chi anh đi ngơ ngẩn kiếm tìm

có buổi chiều ngồi ngó mãi ra sông

có buổi tối qua những đường quen cũ

có đêm thức ngó lá dừa buông rủ

những lá dừa kia đã có linh hồn...


Làm thơ về Huế, để nhớ lại những đứa bạn thời xưa. Nói với bạn, mà sao như nghe nói với quê cha đất tổ nỗi niềm của mình, của những người con làng phải xa rồi lại trở về, chịu những cảnh khó khăn của một thời đại đầy đổi thay bất trắc. Thơ gửi Trần Dzạ Lữ, gửi theo một cảm xúc buồn về đất nước quê hương:


“...tôi có nhiều người bạn Huế

thường nói với nhau về Huế của mình

xa thì thương ở gần dễ giận

đi xa Huế dẫu đời lận đận

nhưng còn Thành Nội trong tim

nhưng còn hình ảnh núi Ngự sông Hương

cái huyền thoại nghe buồn dễ sợ

Duận ơi! Cuộc sống có bao giờ dễ thở

ai có bạc chi mình cứ níu xóm làng

tau vẫn nhớ hoài năm tháng lang thang

mày cứ nhắc làng quê Nam Phổ Hạ...”

em ơi!...”


Chết lúc bốn mươi, có lẽ cuộc đời người làm thơ ngắn ngủi. Phần rượu tặng của đời chàng có lẽ là những giọt đắng tân toan. Chàng ra đi khi đất nước trong những ngày cực kỳ khó khăn, khi chế độ với chính sách kinh tế chỉ huy, ngăn sông cấm chợ, triệt hạ tư sản lôi xã hội xuống cấp tột cùng. Vũ Hữu Ðịnh qua đời vào đầu năm 1981 tại An Hải, Ðà Nẵng. Ông từ trần vì say rượu té từ trên lầu xuống, một cái chết mà theo nhiều người kể lại thì còn nhiều nghi vấn.

Ðọc thơ Vũ hữu Ðịnh, thấy nỗi ngậm ngùi. Và lại càng thấy công việc in lại tập di cảo “Thơ Vũ Hữu Ðịnh” của các anh Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn là một việc nên làm.

Nó chẳng những là một nén hương tưởng niệm mà còn làm sống lại một thời kỳ văn học thật nhiều trăn trở thật nhiều thời đại tính mà những người lãnh đạo trong chế độ đương thời muốn xóa bỏ và triệt hủy.


Nguyễn Mạnh Trinh
__________________
Bạn Gần Không Tới........Bạn XA Chưa Về.......
Reply With Quote
Trả lời

Bookmarks

Những Chủ Đề Tương Tự
Đề tài Người gởi Chuyên mục Trả lời Bài viết cuối
MẮT ĐÊM Khỉcon Những dòng thơ mới 191 26-10-2011 06:59 PM
"Huynh đệ quán" mat_toet_3000 Vườn Thơ Đối Đáp 127 05-09-2010 12:44 AM
Cocktail cho tình yêu - Trần Thu Trang, truyện dài nhé Truyện 10 05-05-2009 11:52 PM
Chiến Tranh Hòa Bình - Thái San ttv2007 Truyện 0 03-04-2009 08:41 PM
Tâm linh là gì? Như thế nào? Từ đâu? Tại sao? hoangvu Tử Vi - Khoa Học Huyền Bí 1 21-03-2009 10:00 AM



Hiện thời số người đang xem chủ đề này là: 1 (0 Thành viên và 1 Khách)
 
Thread Tools
Display Modes

Quyền Hạn Gởi bài
Bạn không được quyền gửi bài mới
Bạn không được quyền gửi trả lời
Bạn không được quyền gửi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đangTắt

Chuyển nhanh đến

Múi giờ GMT -7. Hiện tại là 08:07 AM.


Chút Lưu Lại không chịu bất cứ trách nhiệm gì về nội dung bài đăng của tất cả Thành viên.
Nhóm Điều Hợp có toàn quyền chỉnh sửa, xóa bỏ, dời chỗ bài đăng, hay khóa tên Thành viên mà không cần giải thích lý do.

Powered by vBulletin® Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2014 @ www.chutluulai.net. All rights reserved.
Vietnamese Language by www.mvietx.org.