Chút lưu lại

Go Back   Chút lưu lại > Quê Hương - Đất nước - Con người > Những nhà thơ lớn Việt nam
Trang nhà Phòng ảnh Thơ mới Download mViet Lưu bút

Những nhà thơ lớn Việt nam
Đây là nơi sưu tầm những bài thơ, bài viết về những nhà thơ lớn của Việt nam. Nếu bạn có bài viết, bài thơ nào của các thi sĩ đã thành danh và nổi tiếng xin gởi vào đây.

Trả lời
 
Thread Tools Display Modes
Old 27-02-2010, 01:30 AM   #1
"Tống biệt hành" của Thâm Tâm
CONHAKO CONHAKO is offline 27-02-2010, 01:30 AM

Tống Biệt Hành

Thâm Tâm

Nhà thơ Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Ông sinh năm 1917 tại Hải Dương, mất năm 1950. Thơ ông hay nói đến sự ra đi mà TỐNG BIỆT HÀNH là tiêu biểu.


Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong ?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng...

-Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say...

(1940)


Trên thivien.com có đăng 1 dị bản của Tống Biệt Hành

Tống biệt hành

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thẫm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Môt giã gia đình, môt dửng dưng.
Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí lớn không về, bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn đêm hôm trước
Bây giờ muà hạ sen nở nốt
Môt chị, hai chị cùng như sen
Khuyên nốt em trai giòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay
Trời chưa vào thu tươi lắm thay
Em nhỏ thơ ngây đôi mắt ướt
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay..

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật
Mẹ! thà coi như chiếc lá bay
Chị! thà coi như là hạt bụi
Em! thà coi như hơi rượu cay

Mây thu đầu núi, giá lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm
Ly khách ven trời nghe muốn khóc
Tiếng đời xô động tiếng hồn câm

THÂM TÂM 1940






Màu sắc Đường thi trong bài thơ "Tống biệt hành" của Thâm Tâm

Viết về đề tài rất quen thuộc và có nhiều bài thơ nổi tiếng nhưng vẫn tạo được cho thi phẩm của mình một màu sắc độc đáo, hấp dẫn thì không thể không nói đến nhà thơ Thâm Tâm với bài thơ Tống biệt hành. Đã có rất nhiều người khám phá vẻ đẹp lung linh muôn sắc màu của tác phẩm này. Xin góp thêm cảm nhận về Tống biệt hành nhìn từ góc độ cấu tứ mang màu sắc Đường thi trong việc thể hiện tâm trạng, tinh thần của đấng nam nhi thời đại mới thông qua cuộc tiễn đưa.

Một trong những đặc điểm của cấu tứ thơ Đường là các nhà thơ không bao giờ nói trực tiếp và nói hết ý mình mà chỉ dựng lên các mối quan hệ để độc giả luận ra ý tác giả.
Thâm Tâm đã kế thừa cấu tứ thơ Đường làm cho bài thơ đậm đà phong vị Đường thi nhưng lại ngời sáng tinh thần thời đại. Trước hết, tác giả tạo dựng mối quan hệ KHÔNG – CÓ ở bốn câu thơ mở đầu bài thơ để thể hiện tình người trong cuộc chia ly, tiễn biệt: không có sông nhưng có tiếng sóng ở trong lòng, không có bóng chiều nhưng có hoàng hôn trong mắt. Những hình ảnh đối lập đó đã diễn tả nỗi buồn tê tái của người đưa tiễn, ẩn chứa đằng sau đó là tâm trạng của người ra đi. Thâm Tâm đã tạo ra sự hiện diện của những cái không có bằng hàng loạt từ phủ định ("không đưa qua sông", "bóng chiều không thắm, không vàng vọt") nhưng liền sau đó lại đưa ra những câu hỏi tu từ.

Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Chính điều đó lại gợi cái có trong liên tưởng người đọc về hình ảnh "dòng sông", "hoàng hôn" đã trờ thành biểu tượng cho những cuộc chia ly. Trong thơ Đường, dường như cuộc tiễn đưa nào cũng không thể thiếu những hình ảnh đó:

Sổ thanh phong địch ly đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần.
(Trịnh Cốc – Hoài thượng biệt hữu nhân)
(Vài tiếng sáo theo gió vi vút, ở đình ly biệt buổi chiều hôm
Anh đi tới vùng sông Tiêu, sông Tương, tôi đi tới đất Tần)

Thỉnh quân thi vấn đông lưu thuỷ
Biệt ý dữ chi thuỷ đoản trường.
(Lý Bạch)
(Xin bạn thử dòng nước chảy về đông
Xem tình ý biệt ly và dòng nước bên nào ngắn bên nào dài)

Li tâm bất dị Tây giang thuỷ
(Hứa Hồn)
(Tình li biệt chẳng khác gì dòng nước sông)

Các nhà thơ cổ điển lúc viết thơ "Tống biệt" hay dùng thủ pháp đồng nhất tình cảm và cảnh, còn Thâm Tâm có cách thể hiện riêng: không tả cảnh nhưng lại gợi cảnh. Cái tài của tác giả là tạo nên sự liên tưởng, sự cộng hưởng nối liền cuộc chia ly hiện tại với cảnh cũ người xưa trong lòng độc giả. Chính vì vậy nhà thơ đã thành công khi thể hiện tình cảm muôn thuở của con người: "Bi mạc bi hề sinh biệt ly" (Không gì buồn bằng nỗi buồn chia ly) (Khuất Nguyên). Có lẽ Thâm Tâm đã gặp gỡ Huy Cận trong cách thể hiện này. Khi tác giả Tràng giang viết "Lòng quê dợn dợn vời con nước / Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà" đâu có ý phủ nhận "khói" để khẳng định nỗi nhớ nhà của mình da diết và thường trực hơn Thôi Hiệu:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?
(Thôi Hiệu – Hoàng Hạc lâu)

Ngược lại Huy Cận đã diễn tả nỗi nhớ quê hương da diết bằng cách cộng thêm nỗi buồn của người xưa.

Thâm Tâm phát hiện những nét đối lập mà thống nhất để tạo dựng hàng loạt mối quan hệ: bề ngoài – bên trong; con người giả - con người thực; dửng dưng, lạnh lùng - buồn bã, dằn vặt… để khắc hoạ tâm trạng, ý chí, khát vọng của li khách thông qua cảm nhận của người đưa tiễn.
Người ra đi (li khách) là con người khác thường, bề ngoài có vẻ dửng dưng với tất cả, vượt lên mọi trở lực riêng tư để thực hiện chí lớn.

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy,
Một giã gia đình, một dửng dưng…

- Li khách! Li khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Các từ ngữ "một", "giã", "không bao giờ", "đừng" cực tả cái rắn rỏi dứt khoát tưởng chừng không ai có thể ngăn cản quyết tâm của người ra đi. Người ấy ra đi có vẻ như là không hề vướng bận với một chút tình riêng:

Mẹ thà coi như chiếc là bay
Chi thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Dáng vẻ cương quyết của li khách, chúng ta đã từng bắt gặp ở tráng sĩ Kinh Kha, ở "Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt" trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Nhưng đến khổ thơ thứ ba qua sự hồi tưởng của người tiễn thì con người thật bị che đậy ở trên đã được bộc lộ.

Ta biết người buồn chiều hôm trước:
(…)
Ta biết người buồn sáng hôm nay:

"Ta biết" chứ không phải "ta thấy" tức là người ở lại hiểu được nỗi niềm sâu thẳm trong cõi lòng người ra đi. Nếu như "nước mắt như mưa" giúp ta nhận biết về con người thật ẩn chứa sau dáng vẻ bề ngoài oai nghiêm, hùng dũng của lính thú đời xưa thì ở bài thơ này ta nhận được con người thật li khách qua sự đồng cảm của người ở lại. Đằng sau cốt cách rắn rỏi, dửng dưng của đấng nam nhi ý thức được "Làm trai đứng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông" là cả chiều sâu nội tâm. Đó là những nỗi buồn day dứt, dằn vặt, xót xa của li khách trước tình cảm gia đình thiêng liêng. Ngay sau giọng thơ có vẻ dứt khoát, rắn rỏi và sự lặp đi lặp lại ba chữ "thà coi như" ở ba câu cuối bài thơ là sự xót xa, nghen ngào thầm lặng. Có một sự giằng xé nội tâm trong con người này: một bên là tình cảm, một bên là ý chí, khát vọng. Thâm Tâm đã xây dựng hình tượng nghệ thuật tương phản nhưng nhằm tô đậm sự thống nhất trong hành động, ý chí của li khách. Tạo dựng nên các mối quan hệ, nhà thơ dần dần hé mở cho người đọc nhận ra cái có ẩn chứa trong cái không, cái thực ẩn chứa trong cái hư và cuối cùng là hình ảnh một con người mang dáng dấp trượng phu được nhiều người ngưỡng mộ.

Thủ pháp gợi - một thủ pháp quen thuộc trong Đường thi đã được nhà thơ vận dụng để thể hiện khát vọng thực hiện chí lớn của li khách. Khi Thâm Tâm cực tả tình cảm tiếc thương, níu kéo của người thân chính là để cực tả ý chí không gì lay chuyển nổi của người ra đi. Tác giả còn tạo ra mối quan hệ tin – không tin để tô đậm thêm ý này. Người ở lại in đây là cuộc đưa tiễn thật nên mới có "sóng ở trong lòng", "hooàng hôn trong mắt" thế mà khi li khách đi rồi vẫn không tin là có thật: "Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!" . Câu thơ diễn tả sự bàng hoàng, ngỡ ngàng của người tiễn vì anh ta cứ tưởng là tình cảm của người thân có thể níu kéo li khách ở lại được. Làm sao có thể đành lòng trước cảnh mẹ già, cảnh chị gái "Khuyên nốt em trai dòng lệ sót" , cảnh em gái "Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay" ?... Điều đó cũng chỉ nhằm khắc hoạ thêm quyết tâm thực hiện một cuộc ra đi tự nguyện đầy lãng mạn với những khát vọng cao cả của li khách.

Kế thừa nhưng không lặp lại, Thâm Tâm đã tạo nên sức sống diệu kỳ cho Tống biệt hành. Đặc biệt, sự kế thừa, sáng tạo trong cấu tứ thơ Đường giúp cho tác giả thể hiện sâu sắc một cái nhìn đa chiều về "vẻ đẹp con người cao cả trong toàn bộ sự biểu hiện chân thật của nhân tính, đầy tinh thần nhân đạo" (Trần Đình Sử)

Thạc sĩ Hồ Thuý Ngọc GV. Khoa xã hội nhân văn - CĐSP Hà Tĩnh


Nguồn: Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ
__________________
----------------------------

Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

Chỉnh sửa lần cuối bởi CONHAKO ngày 27-02-2010 lúc 01:46 AM.

 
CONHAKO's Avatar
CONHAKO
Senior Member
Join Date: Jan 2010
Bài viết: 6,151
Đã Cảm ơn: 2,359
Được cảm ơn: 4,126 lần/2,493 bài
Blog Entries: 1
Xem: 20216
Reply With Quote
Old 27-02-2010, 01:52 AM   #2
CONHAKO's Avatar
CONHAKO
Senior Member

 
Join Date: Jan 2010
Đã Cảm ơn: 2,359
Được cảm ơn: 4,126 lần/2,493 bài
Blog Entries: 1
Status:CONHAKO is offline
 
CONHAKO is on a distinguished road

box_gift.gif

Đến với bài thơ hay: "Tống biệt hành" của Thâm Tâm



Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng...

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót (*).

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Trời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Mây thu đầu núi, gió lên trăng (**)
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn căm (***).

(1941)


"Tống biệt hành" là bài thơ nổi tiếng và được ưa thích nhất của Thâm Tâm. Có người không ngần ngại liệt nó vào một trong mười bài thơ tiền chiến hay nhất (1). Chục năm nay, "Tống Biệt Hành" cũng được xếp trong tuyển chọn năm mươi bài thơ trữ tình tiêu biểu của mười thế kỷ thơ ca Việt Nam (2).

Đề tài bài thơ là một trong hằng hà sa số những cuộc ly biệt được đưa vào "Thơ Mới" thời 1930 - 1945. Nhưng có lẽ trong văn học Việt Nam, trước và sau Thâm Tâm, không ai viết về chia ly đầy tính bi hùng, trữ tình và mãnh liệt đến như thế.

Đưa người, ta không đưa qua sông.

Từ bao đời nay, con sông, bến nước vẫn là địa điểm của những cuộc tiễn biệt. Chẳng những vì xưa kia, phương tiện giao thông chủ yếu của người dân quê là chiếc thuyền. Con sông còn như một ranh giới, một vành đai bao phủ và che chở mỗi vùng làng mạc. Mỗi người, khi qua sông, cũng là lúc rời bỏ quê hương cùng gia đình và người thân của họ. Chẳng phải là ngẫu nhiên khi dòng sông, con tàu đi vào tiềm thức mỗi người như một biểu tượng của giã biệt, xa cách. Trong thơ ca cũng vậy:

Anh Khóa ơi,
Em tiễn anh xuống tận bến tàu...
("Anh Khóa", Trần Tuấn Khải)

Biệt ly,
Sóng trên dòng sông,
Ôi còi tàu như xé đôi lòng,
Và mây trôi, nước trôi, ngày tháng trôi,
Càng lướt trôi.
("Biệt ly", Dzoãn Mẫn)

Nhưng lần này, tác giả không đưa bạn mình qua sông. Vào những năm cuối của thập kỷ ba mươi, khi Nguyễn Bính viết "Những bóng người trên sân ga", nhiều cuộc đi xa đã khởi đầu trên một bến xe, một sân ga nào đó.

Tuy thế hình ảnh con đò, bến nước trong văn chương và cuộc đời đã hằn sâu trong tác giả tự bao giờ, khiến anh phải thốt lên:

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Hỏi đấy, nhưng chỉ để bộc lộ nỗi lòng buồn bã pha chút vị ngây ngất của anh. Tiếng sóng ấy chưa đến độ như "tiếng đời xô động, tiếng hờn câm" ở đoạn kết, nhưng đã tựa như tiếng đàn khuấy động những cung bậc bi phẫn giữa người đi và kẻ ở.

Đã hay rằng "người" buồn đấy, còn "cảnh" ra sao? Buổi chiều ấy, dù "không thắm, không vàng vọt", nhưng "đầy hoàng hôn trong mắt trong", và có thể rất đẹp đấy. Nhưng nó vẫn đượm vẻ gì man mác vô định. Có điều, vào lúc ấy, nào ai còn để ý đến cảnh vật bên ngoài. Họ mải "giã gia đình" và "dửng dưng". Đối với tác giả, chỉ còn người đi là tồn tại, anh chỉ "đưa người ấy", ngoài ra mọi thứ khác nào có nghĩa gì.

Cuối cùng thì giờ phút chia tay cũng phải đến. Người đi hùng dũng lắm, hăng hái và hăm hở lắm:

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!

Anh thề thốt thật ghê! Người đọc không biết anh đi đâu, anh làm gì. Chắc sự nghiệp của anh lớn lắm. Có gì làm ta nhớ lại chàng Kinh Kha vào Tần qua sông Dịch lạnh tê tái, khảng khái làm hớp rượu, rồi bước thẳng không quay đầu lại:

Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn.
(Gió hiu hiu chừ, sông Dịch lạnh ghê,
Tráng sĩ một đi chừ, không bao giờ về.)

Ta thấy anh đi khí thế thật đấy, nhưng sao cô đơn quá! Đi thì cứ đi, nhưng nào có rõ tương lai:

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

Anh lên gân vậy thôi, chứ thực ra, anh thương mẹ lắm. Và khi đi, nào phải anh không day dứt. Anh còn chị, còn em. Những người chị "như sen" và người em "ngây thơ đôi mắt biếc", đâu muốn anh đi. Hẳn nhà anh nheo nhóc và cực nhọc lắm, anh đi rồi, ai lo?

Tất nhiên, chí trai bốc đồng, anh tỏ ra quyết tâm lắm. Nhưng dễ thấy đó chỉ là vẻ bề ngoài. Kỳ thực, lòng anh thật mềm yếu. Anh đã buồn, chắc là từ lâu, chứ đâu phải chỉ từ "chiều hôm trước" với "sáng hôm nay".

Và cảnh sắc bầu trời mùa hạ sang thu ấy thật đẹp. Anh nhất quyết phải từ giã gia đình, bạn bè trong khung cảnh ấy sao? Đích của anh nào có chắc chắn gì? Đâu phải anh không có những day dứt, ràng buộc bịn rịn?

Nhưng rồi anh vẫn dứt áo ra đi. Đi lúc nào mà người tiễn chẳng hay:

Người đi! Ừ nhỉ? Người đi thực!

Như một cơn mơ, lúc bừng tỉnh chẳng còn gì. Anh đã đi, đi thực. Làm người ở lại đắm trong nỗi thẫn thờ. Cuộc đời sao như tỉnh, như mơ! Đành phải chịu!

Tất cả dẫn đến một cao trào. Nhịp thơ trở nên gấp gáp, rắn rỏi, mãnh liệt, nhưng đượm vẻ chua chát và bi phẫn:

Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạtbụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Anh muốn quên lãng đi mọi thứ. Quên đi cho hết nỗi sầu. Như người lữ khách trong "Chiều" của Hồ Dzếnh. Nhưng thử hỏi: có quên được không?

Mây thu đầu núi, gió lên trăng,
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.

Thời gian qua đi. Bóng hoàng hôn không còn nữa. Cơn lạnh và bóng tối trùm lên mỗi bước anh đi. Lúc ấy, người lữ khách còn lại một mình. Âm thầm. Lặng lẽ. Cái đích vẫn xa vời. Và nhuệ khí xưa đâu còn nữa. Anh muốn bật khóc, muốn gào lên tức tưởi:

Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm...

Chẳng biết lúc ấy, anh trách ai? Trách mình, hay trách cuộc đời cay nghiệt?

*

Ông Hoài Thanh trong "Vài suy nghĩ về thơ" (3) đã thú nhận khi viết "Thi nhân Việt Nam", ông rất khoái "Tống Biệt Hành". Chẳng những vì "điệu thơ gấp gáp. Lời thơ gắt. Câu thơ rắn rỏi, gân guốc. Không mềm mại, uyển chuyển như phần nhiều thơ bây giờ" (4), mà chủ yếu bài thơ mang phong vị "bâng khuâng khó hiểu của thời đại". (5)

Không rõ "Tống Biệt Hành" có gì "khó hiểu"? Nhưng rõ ràng khi đọc, tôi thấy thật "bâng khuâng". Vẻ trầm hùng, cổ kính của bài thơ cùng những hình ảnh "mong manh, ghê rợn, như những nhát dao xiết vào tâm hồn, tưởng là rất nhẹ hóa ra lại rất nặng" (6) gây nên một ấn tượng thật mạnh và sâu đến người đọc.

Ít năm trước đây, nhà thơ Lương Trúc (7), một người bạn của Thâm Tâm, có tiết lộ rằng "Tống Biệt Hành" là bài thơ Thâm Tâm viết tặng ông khi ông đi hoạt động. Tạm cho là như vậy. Ở vào hoàn cảnh bấy giờ (1941), hành động cách mạng của những thanh niên độ tuổi hai mươi như họ, có thể coi là một sự dấn thân đầy mạo hiểm. Nó mang hình ảnh các tráng sĩ thời xưa, vào cuộc chiến "lạnh lùng theo trống dồn" ("Chiến sĩ vô danh", Phạm Duy), với lòng hăng hái thiêng liêng "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" ("Tây Tiến", Quang Dũng). Và cũng chẳng khác gì mấy hình ảnh thật đẹp và oai hùng của lứa văn nghệ sĩ đầu tham gia kháng chiến, nửa thập kỷ về sau:

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội,
Những phố dài xao xác hơi may,
Người ra đi đầu không ngoảnh lại,
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.
("Đất nước", Nguyễn Đình Thi)

... Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa
Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng
Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng
Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm
Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm
Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa
Mái đầu xanh hẹn mãi tới khi già
Phơi nắng gió và hoa ngàn cỏ dại
Theo tiếng gọi của những người Hà Nội
Trở về
Trở về chiếm lại quê hương!
("Ngày về", Chính Hữu)

*

Cuộc đời Thâm Tâm thật ngắn ngủi. Ông viết chưa nhiều (8). Cái chết cướp ông đi ở tuổi 33. Ông đã lao vào cuộc chiến đấu của dân tộc một cách nhiệt thành. Từng là biên tập viên tạp chí "Tiên phong" (1945-1946) rồi thư ký tòa soạn báo "Vệ quốc quân", ở Chiến dịch Biên giới (1950), Thâm Tâm bị sốt rét nặng trong lúc không có thuốc men. Vô phương cứu chữa, ông bị bỏ lại trong một căn nhà sàn tại bản Nà Po cùng một người liên lạc. Anh này là người duy nhất có mặt khi ông qua đời và xin được bà con dân bản một mảnh vải trắng để làm khăn tang (8).

Cái chết của Thâm Tâm thật bi thảm. Nhưng nó cũng thật đẹp và bi hùng ở khía cạnh một tráng sĩ nơi sa trường. Đẹp và bi hùng như "Tống Biệt Hành" của ông vậy!

H. Linh



Chú thích:
(*) Có bản chép là "dòng lệ xót".
(**) Có bản chép là "giá lên trăng".
(***) Khổ cuối bài thơ thường không được biết đến. Theo "Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95" (Hà Nội, 1989), trong một bản in "Tiểu thuyết thứ Bảy" (1940) có đoạn này.


Giới thiệu tham khảo:
1. Vũ Quần Phương: Thâm Tâm và "Tống Biệt Hành" ("Quân đội Nhân dân", 1990).
2. "Văn hóa Việt Nam tổng hợp 1989-95" (Hà Nội, 1989).
3, 4, 5. "Tuyển tập Hoài Thanh", tập 2 (Hà Nội, 1983).
6. Vũ Cao: "Tản mạn dọc đường văn học" ("Văn nghệ Quân đội" tháng 6-1988).
7. Tên thật Phạm Quang Hòa, sinh năm 1915. Xin xem thêm bài của Hoàng Tiến: "T.T.Kh. là ai?" ("Nhân dân Chủ nhật" ngày 16-7-1989).
8. Sinh thời, thơ Thâm Tâm chưa được in thành tập. Mãi đến năm 1988, tập "Thơ Thâm Tâm" sưu tầm một số thi phẩm tiêu biểu của ông mới được ấn hành.
9. Theo Từ Bích Hoàng: "Cách mạng kháng chiến và đời sống văn học", tập 1 (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Hà Nội 1985).

Nguồn: Nhịp cầu thế giới - Hungary.
__________________
----------------------------

Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.
Reply With Quote
Old 27-02-2010, 02:14 AM   #3
CONHAKO's Avatar
CONHAKO
Senior Member

 
Join Date: Jan 2010
Đã Cảm ơn: 2,359
Được cảm ơn: 4,126 lần/2,493 bài
Blog Entries: 1
Status:CONHAKO is offline
 
CONHAKO is on a distinguished road

box_gift.gif

Thâm Tâm




Tác Giả - Tác Phẩm


Tên thật là Nguyễn Tuấn Trình. Sinh 12-5-1917 tại Hải Dương. Mất ở Cao Bằng năm 1950. Thâm Tâm viết không nhiều, ông mất sớm, cả đời thơ chưa được hai mươi bài. Nhưng nếu chọn mười bài tiêu biểu của thời kỳ Thơ mới, chắc chắn có Tống biệt hành. Trong kháng chiến chống Pháp, khi nền thơ còn nhiều chập chững, bài thơ Chiều mưa đường số năm đã là bài thơ hay, vững vàng về cốt cách lẫn tình cảm.

Thơ Thâm Tâm mang cốt cách cổ điển, đẫm khí vị bi phẫn giang hồ của một thời đã xa trong lịch sử ở ta hay ở một chân trời khơi gợi những Tần Hán xa vời. Giọng thơ rắn rỏi, tức tưởi. Ông có ba bài viết theo thể hành bộc lộ rõ nhất giọng thơ này Can trường hành, Tống biệt hành, Vọng nhân hành. Hãy xem nhà thơ lãng mạn Việt Nam thời Thơ mới múa bút bên sông Hồng kiểu Kinh Kha múa gươm bên sông Dịch:

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu "nhất khứ hề"
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê

Trong tình cảnh người mất nước, mất luôn tự do của chí làm trai, Thâm Tâm thường trực một ý chí phá bỏ thực tại bằng mộng giang hồ:

Đất trời rộng quá. Tôi không chịu
Cắm chặt sông đây một cánh bè,
Bằng cơn phẫn chí:
Đau tình không xót bằng đau nghĩa
Tay gầy cũng ném chén vô tri.

Khá nhiều lần Thâm Tâm ném chén trong tiệc rượu. Phẫn chí trong cơn say vì đã cố nén một cơn òa khóc trong lúc tỉnh.

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể
Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng.

Thân kiếp chơi vơi trong cõi phi thời gian, dĩ vãng không có, hiện tại cũng không mà tương lai thì mịt mù sương khói.

Hôm qua không có, hôm nay mất
Ai rú trong trời tám hướng sương

Những câu thơ bi phẫn của Thâm Tâm hay lắm vì đó là tình cảm chín nhất của hồn ông. Bi phẫn một chủ thể tài tử:

Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sỹ
Mềm môi nốc cạn một vò men
Bi phẫn nhiều khách thể xót đau:
Chim nhạn chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp chân voi còn lận đận
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ... chửa một về.

Rồi cả chủ thể lẫn khách thể đều bi phẫn, ấy là Tống biệt hành:

Người đi, ừ nhỉ người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.

Trong cả nền thơ thời ấy không ai có giọng bi phẫn "chín" như Thâm Tâm, kể cả Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, hai bạn thơ "áo bào gốc liễu" đồng điệu với ông. Cái "chín" ấy trước hết là ở cái giọng, gồm cả âm lẫn điệu của câu thơ, sau nữa là ở một loạt hình ảnh, hình ảnh thường có tính biểu tượng cao, gợi nhiều liên tưởng lãng mạn, và cuối cùng là ở ngôn ngữ, ngôn ngữ có hơi cổ xưa và nhiều tương phản, cực đoan. Hãy nghe:

Ngậm lời tráng khí, chim bằng ốm
Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già
Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng
Mưa rào mặt cát, gợi ly ca
Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta

Nhiều lần Thâm Tâm cười ngạo "cái chí lớn" của mình Chí lớn không đầy một tấc gang. Cười ngạo để giấu nỗi sầu thất bại:

Say ngùi ta đốt tương tư thảo
Bóng khói qua mây lại nhớ mình

Ngay cái mộng ra đi vào năm 1944, thì chí dù đã quyết mà lòng cứ lạnh tê. Ước ao trận gió nổi lên để giũ đi tất cả, nhưng vẫn phải mượn hơi rượu cho khí thế. Khoan nói đến nhận thức chính trị và tình hình thời cuộc, chỉ biết cái tạng cảm xúc của Thâm Tâm là vậy. Nó là cảm xúc lãng mạn. Nó có nguồn gốc từ hiện thực đời sống nhưng khi phát triển nó tựa nhiều lên tưởng tượng, nó cần hư ảo và hoang đường. Đọc loại thơ này đừng sóng nó vào hiện thực sự kiện, đừng lấy sự kiện cụ thể để cắt nghĩa cảm xúc. Làm thế là chặt cánh bay của thơ, hơn thế lại là thơ lãng mạn.

Phải chăng vì tính chất bi phẫn khao khát đổi thay, khao khát cất cánh ấy mà gặp cách mạng, Thâm Tâm sớm đứng vào hàng ngũ, thơ ông từ lãng mạn chuyển sang cách mạng khá êm thấm. Bài thơ Chiều mưa đường số Năm là một ví dụ. Vẫn một giọng thơ nội tâm đắm đuối, bài thơ mưa nhưng gợi được cảm giác ấm trong lòng người, giọng bi phẫn đã thành giọng yêu thương. Bài thơ viết năm 1946, năm 1950, Thâm Tâm mắc bệnh trên đường đi chiến dịch rồi mất. Người đọc không được thấy hết sự phong phú của hồn thơ ông trong chặng mới. Ở giai đoạn trước, ông nhập cuộc muộn, ở giai đoạn sau, ông lại ra đi quá sớm.

Ngót hai chục bài thơ cho một đời thơ tài năng như vậy, có một chất cảm xúc lạ, và riêng như vậy, quả chưa phát tiết được bao nhiêu. Phần tiềm lực còn nhiều quá, thật tiếc!

VŨ QUẦN PHƯƠNG
__________________
----------------------------

Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

Chỉnh sửa lần cuối bởi CONHAKO ngày 27-02-2010 lúc 02:24 AM.
Reply With Quote
Old 27-02-2010, 02:35 AM   #4
CONHAKO's Avatar
CONHAKO
Senior Member

 
Join Date: Jan 2010
Đã Cảm ơn: 2,359
Được cảm ơn: 4,126 lần/2,493 bài
Blog Entries: 1
Status:CONHAKO is offline
 
CONHAKO is on a distinguished road

box_gift.gif

Nhớ “Chiều mưa đường số 5” của Thâm Tâm

Trương Tham

Chiều mưa đường số 5


Chiều mưa đồng rạ trắng
Đất tề sông quạnh vắng
Ngồi kín dưới nhà gianh
Nghe gió lùa ắng lặng

Chiều mưa đường số 5
Đôi mắt sao đăm đăm
Chứa cả trời mây nặng
Miền Việt Bắc xa xăm ?
Ôi núi rừng thương nhớ
Rét mướt đã hai năm!

Chiều mưa ngàn hoa nở
Hoa phới bay mùa xuân
Bếp sàn gây ngọn lửa
Chén trà ngát tình dân

Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân
Mẹ già không nói nữa
Nước mắt nhìn rân rân...
Ôi đâu rồi sơn nhân
Đâu rồi anh du kích

Chiều mưa manh áo rách
Vác súng vượt lên đèo
Giao thông qua mũi địch
Đâu rồi “nhình” với “a”
Tiếng cười reo khúc khích
Đón chiến sĩ quay về
Sau trận đi phục kích
Chiều mưa giã gạo mau
Chầy tập đoàn thình thịch

Ôi núi rừng thẳm sâu
Trung đội cũ về đâu
Biết chăng chiều mưa mau
Nơi đây chăn giá ngắt
Nhớ cái rét ban đầu
Thắm mối tình Việt Bắc

(Thâm Tâm)
Lời bình:

Chuyện nào rồi cũng kết thúc, nhưng sau khi kết thúc rồi còn gì gửi lại cho những năm tháng tiếp theo, đó mới là điều đáng nói. Gần sáu mươi năm trôi qua mà đọc lại Chiều mưa đường số 5 của Thâm Tâm vẫn thấy ấm áp bồi hồi. Một số tuyển thơ, một số người giới thiệu bài thơ cho rằng bài thơ được sáng tác 1946. Nhưng theo Nguyễn Tuấn Khoa (con trai của nhà thơ) thì bài thơ được viết năm 1948 trong một chuyến công tác vùng địch hậu Liên khu III. Trong bài thơ nhà thơ có viết: Ôi núi rừng thương nhớ / Rét mướt đã hai năm, cũng như nhiều chi tiết khác thì e rằng bài thơ được viết năm 1948 mới đúng.

Bài thơ phảng phất như thể ngũ ngôn cổ phong mà đặc sệt một không khí của thơ ca kháng Pháp. Từ đất tề sông quạnh vắng đến hình ảnh người du kích với manh áo rách vác súng vượt lên đèo... với tiếng chày tập đoàn giã gạo rập ràng trong chiều mưa nơi rừng núi... Những gì trong những hình ảnh bình dị ấy cứ tỏa lên làm sống dậy không khí của một thời. Đã có bao bài thơ viết về mưa nổi tiếng: Buồn đêm mưa của Huy Cận. Trời mưa ở Huế của Nguyễn Bính ...

Thâm Tâm có cách viết riêng độc đáo của mình. Hình như khi nào chưa phát hiện được điều gì mới mẻ độc đáo nhà thơ không làm thơ. Cho nên thơ Thâm Tâm để lại không nhiều mà mỗi bài đều gửi lại những suy nghĩ tình cảm, giọng điệu khó quên. Từ một chiều mưa giá lạnh, hoang vắng đến rợn người trên đất tề đã làm thức dậy những ấn tượng về những chiều mưa nơi núi rừng Việt Bắc giữa tâm hồn nhà thơ. Một chiều mưa xuân: Chiều mưa ngàn hoa nở... Một chiều mưa mẹ già tiễn bộ đội hành quân: Chiều mưa lùa các cửa... Rồi Chiều mưa giã gạo mau ... Những chiều mưa có khoảng cách về không gian, thời gian được gọi về kết lại thành một bài thơ hoàn chỉnh giống như những hạt ngọc mến thương kết lại với nhau thành xâu chuỗi. Mỗi chiều mưa là một nỗi nhớ thương về cảnh về người nơi chiến khu kháng chiến. Chiều mưa nào cũng có những phát hiện tinh vi. Trong chiều mưa xuân “ngàn hoa nở”, “hoa phới bay mùa xuân”. Hồn xuân từ ngàn hoa nhẹ nhàng bay lên lan tỏa cả núi rừng chỉ gửi lại chút hương tình nồng ấm nơi chén trà với ngọn lửa vừa “gây” trên bếp sàn. Bà mẹ tiễn bộ đội hành quân “chiều mưa lùa các cửa”, như sự trống vắng ở trong lòng. Rồi trong lặng lẽ hiện lên “nước mắt nhìn rân rân”. Có nỗi nhớ đằm xuống, có nỗi nhớ âm thầm cất lên thành lời: Đâu rồi anh du kích... Đâu rồi “nhình” với “a”... Đơn vị cũ về đâu...

Mỗi câu hỏi là một ấn tượng, một nỗi mến thương thắm thiết trong lòng. Từng câu hỏi làm hiện lên những con người thân thương mà hình bóng như được tạc vào trong những chiều mưa. Là người du kích Chiều mưa manh áo rách/ Vác súng vượt lên đèo/ Giao thông qua mũi địch, đầy ấn tượng về những gian khổ, mà anh dũng quật cường. Phía sau câu hỏi bật lên tiếng cười trong trẻo đón bộ đội trở về trong chiến thắng. Nhìn thấy mưa rơi xuống trong chiều, nghe tiếng chày giã gạo mau... nhà thơ như dành cả tâm hồn để cảm nhận mến thương cuộc sống. Những chiều mưa được kết lại làm hiện lên bức tranh đời thường trong cuộc sống kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc bấy giờ. Gian khổ, rét mướt, nhưng ấm cúng nặng tình nặng nghĩa. Tất cả đã trở thành ấn tượng mến thương không phai trong tâm hồn nhà thơ. Với Chiều mưa đường số 5 thơ Thâm Tâm đã thực sự bước vào thế giới thơ ca của một thời đại mới: Thơ ca kháng chiến chống Pháp. Cũng như những bài thơ thất ngôn ngũ ngôn nổi tiếng của mình, nhà thơ có lối gieo vần rất riêng góp phần tạo nên giai điệu riêng của thơ Thâm Tâm, nhà thơ thường sử dụng những thanh trắc cao hoặc những thanh trắc không cao không thấp tiếp nối với những phù bình thanh. Cứ như thế nối tiếp trong suốt bài thơ. Rồi bất chợt một thanh trắc thấp như rơi xuống cắm sâu vào cảm giác khó quên. Lối gieo vần ấy khi như đưa vút lên, khi gợi ra cảm giác chơi vơi bồng bềnh, khi thì như giọt sương gieo nặng xuống tâm tư, để lại một dư ba khó tả. Như gặp lại một vầng trăng cũ, mà ánh trăng vẫn rạng rỡ, ấm cúng lạ lùng bởi cái tình, cái nghĩa sâu đậm dành cho cuộc sống con người.

Chiều mưa đường số 5 là một bài thơ hay của nền thơ kháng chiến chống Pháp. Năm 1940, Thâm Tâm viết Tống biệt hành, tiễn một người bạn quyết tâm giã biệt gia đình ra đi vì chí lớn trong đời... Mấy năm sau nhà thơ lại lên đường đi vào cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Không hiểu người bạn của nhà thơ đưa tiễn ngày ấy có trở về hay không? Còn nhà thơ mãi mãi nằm lại trên một nẻo đường kháng chiến. Ông qua đời ở Việt Bắc, mảnh đất mà ông từng ấp yêu thương nhớ những chiều mưa. Nhà thơ đã đi và đã đến.

Quy Nhơn tháng 8/2006
__________________
----------------------------

Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

Chỉnh sửa lần cuối bởi CONHAKO ngày 27-02-2010 lúc 02:40 AM.
Reply With Quote
Old 27-02-2010, 02:46 AM   #5
CONHAKO's Avatar
CONHAKO
Senior Member

 
Join Date: Jan 2010
Đã Cảm ơn: 2,359
Được cảm ơn: 4,126 lần/2,493 bài
Blog Entries: 1
Status:CONHAKO is offline
 
CONHAKO is on a distinguished road

box_gift.gif

Can trường hành

Thâm Tâm

Trăm giàn lý đỏ đã lên hoa
Tâm sự như in cảnh ác tà
Đạo nghĩa hoài đêm chơi bạn quý
Thân hình hậu gửi kết duyên ma
Ngậm lời tráng khí chim bằng ốm
Chuyện lúc thương tâm, gái điếm già
Gió thốc hàng hiên, lười viễn mộng
Mưa rào mặt cát gợi ly ca
Phiếm du mấy chốc đời như mộng
Ném chén cười cho đã mắt ta
Thà với mãng phu ngoài bến nước
Uống dăm chén rượu quen tay thước
Cái sống ngang tàng quen bốc men
Thù với hào hùng chí thiếu niên
Vỗ vai sang sảng giọng Bình Nguyên
Chàng là bậc trẻ không biết sợ
Đôi mắt hồng say sao Hoả lên
Múa lưỡi đánh tan ba kẻ sĩ
Mềm môi nốc cạn một vò men
Mấy lần thù trả thân không chết
Khắp xóm giang hồ khét họ tên
Vợ con thí tất cho thiên hạ
Yêu rất ban ngày, ghét rất đêm
Thi với người nằm say bóng liễu
Thi với người chờ mong kẻ rượu
Lòng thênh thênh nhẹ gió thu sơ
Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ!
Hay đâu kẻ vũ đất Lương Yên
Một sớm nghe bùng cơn gió lên,
Xách gói sang Nam không hẹn lại
Chỉ hiềm chẳng đụng đến cung tên!
Ngươi chẳng thấy
Thao thao Hồng Hà vạn thuở chảy
Nước mạnh như thác, một con thuyền
Ta lênh đênh hoài sầu biết mấy!
Ngươi chẳng thấy
Lồng lộng Tây hồ xanh như thu
Giai nhân, danh sĩ đua ngao du
Cùng ta tri kỷ không ai ở
Vì đời ta cũng không an cư
Ngươi chẳng thấy
Vì đời ta buồn như thế đấy
Cho nên tri kỷ tếch phương trời
Chén rượu ngồi suông vắng cả người!

Hôm nay lại nở hoa lý đỏ
Trong rượu vân vân... bao vết cũ
Người chẳng thấy rằng hoa như tím
Hoa nát lòng ta đau vạn thuở.

(1944)


__________________
----------------------------

Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.
Reply With Quote
Old 27-02-2010, 02:48 AM   #6
CONHAKO's Avatar
CONHAKO
Senior Member

 
Join Date: Jan 2010
Đã Cảm ơn: 2,359
Được cảm ơn: 4,126 lần/2,493 bài
Blog Entries: 1
Status:CONHAKO is offline
 
CONHAKO is on a distinguished road

box_gift.gif

Vọng nhân hành

Thâm Tâm


Thăng Long đất lớn chí tung hoành
Bàng bạc gương hồ ánh mắt xanh
Một lứa chung tình từ tứ chiếng
Hội nhau vầy một tiệc quần anh
Mày gươm nét mác chữ nhân già
Hàm bạnh hình đồi, lưng cỗi đa
Tay yếu đang cùng tay mạnh dắt
Chưa ngất men trời hả rượu cha
Rau đất cá sông gào chẳng đủ
Nổi bùng giữa tiệc trận phong ba
Rằng: "Đương gió bụi mờ tơi tả
Thiên hạ phải dùng thơ chúng ta!"
Thơ ngâm giở giọng, thời chưa thuận
Tan tiệc quần anh, người nuốt giận
Chim nhạn, chim hồng rét mướt bay
Vuốt cọp, chân voi còn lận đận
Thằng thí cho nhàm sức võ sinh
Thằng bó văn chương đôi gối hận
Thằng thư trói buộc, thằng giã quê
Thằng phấn son nhơ... chửa một về!

Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch
Ta ghét hoài câu "nhất khứ hề"
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
- Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về.

(1944)
__________________
----------------------------

Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.
Reply With Quote
Old 27-02-2010, 02:49 AM   #7
CONHAKO's Avatar
CONHAKO
Senior Member

 
Join Date: Jan 2010
Đã Cảm ơn: 2,359
Được cảm ơn: 4,126 lần/2,493 bài
Blog Entries: 1
Status:CONHAKO is offline
 
CONHAKO is on a distinguished road

box_gift.gif

Ngậm ngùi cố sự

Thâm Tâm

Lảo đảo năm canh lệ mấy hàng

Ngậm ngùi cố sự bóng lưu quang

Cuối thu mưa nát lòng dâu bể

Ngày muộn chuông đau chuyện đá vàng

Chán ngắt gia tình sầu ngất ngất

Già teo thân thế hận mang mang

Thẹn cùng trời đất mòn xuôi ngược

Chí lớn không đầy một tấc ngang

__________________
----------------------------

Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.
Reply With Quote
Old 27-02-2010, 02:51 AM   #8
CONHAKO's Avatar
CONHAKO
Senior Member

 
Join Date: Jan 2010
Đã Cảm ơn: 2,359
Được cảm ơn: 4,126 lần/2,493 bài
Blog Entries: 1
Status:CONHAKO is offline
 
CONHAKO is on a distinguished road

box_gift.gif

Tráng Ca

Thâm Tâm

Sinh ta, cha ném bút rồi
Rừng nho tàn rụng, cho đời sang xuân
Nuôi ta, mẹ héo từng năm
Vắt bầu sữa cạn tê chân máu gầy
Dạy ta, ba bẩy ông thầy
Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi
Nhà ta cầm đợ tay người,
Kép bông đâu áo, ngọt bùi đâu cơm?
Chông gai đổi dại làm khôn
Ba vòng, mòng sếu liệng tròn lại bay…
Bông hoa chu giáp vần xoay
Cánh vàng non nửa đài gầy tả tơi…
Chữ nhân sáng rực sao trời
Đường xe mở rộng chân người bước xa…
Bọn ta một lớp lìa nhà
Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng
Hây hây tóc óng từng vòng
Gió nào là gió chẳng mong thổi lùa !
Trường đình phá bỏ từ xưa
Đất này sạch khí tiễn đưa cay sè
Bốn phương tản mát bạn bè
Nhớ nhau hẹn quả mùa hè gặp nhau
…Rầm trời chớp giật mưa mau,
Lửa đèn chấp chới, khói tàu mù u
Bốn phương đây bạn đó thù
Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu
- A, cơn thảo muội bắt đầu,
Tuổi xanh theo gió ngậm câu dặm dài
Thét roi lượng sức ngựa tài
Coi trong cuộc rối tìm người chờ mong…
Trai lận đận, gái long đong
Chờ mong khắc khoải nản lòng dăm ba:
Nẻo về gốc mẹ cỗi cha
Thuyền ai nặng chở món quà đắng cay !
Từng nơi xống áo trùng tay
Gió thu thổi bạc một ngày lòng son;
Từng nơi cơm trấu, áo rơm
Mưa xuân nhuốm tái mấy cơn mặt vàng
Vượn kêu ruột buốt trên ngàn
Nhưng thôi ! Sao việc dã tràng lầm theo?
Nện cho vang tiếng chuông chiều
Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình
Thở phù hơi rượu đua tranh
Quăng tay chén khói tan thành trời mưa
Dặm dài bến đón bờ đưa
Thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau
Kia kìa lũ trước dòng sau
Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương

Thâm Tâm
1944


__________________
----------------------------

Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.
Reply With Quote
Trả lời

Bookmarks

Những Chủ Đề Tương Tự
Đề tài Người gởi Chuyên mục Trả lời Bài viết cuối
Trí huệ là gì? tamlinhhoc Tử Vi - Khoa Học Huyền Bí 0 30-10-2009 06:30 AM
Các vì sao chiếu mệnh từ Thái Dương hệ, và các yếu tố thiên nhiên. GRANDET Tử Vi - Khoa Học Huyền Bí 2 25-09-2009 07:49 AM
Biệt thự ma ám -Pierre Bellemare GRANDET Truyện 0 05-09-2009 08:15 PM
Tình yêu hoangvu Tùy bút - Ký - Phiếm luận - Biên khảo 0 15-08-2009 08:35 AM
Sống Chỉ Một Lần -Mai Thảo GRANDET Truyện 10 19-07-2009 04:39 AM



Hiện thời số người đang xem chủ đề này là: 1 (0 Thành viên và 1 Khách)
 
Thread Tools
Display Modes

Quyền Hạn Gởi bài
Bạn không được quyền gửi bài mới
Bạn không được quyền gửi trả lời
Bạn không được quyền gửi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

BB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đangTắt

Chuyển nhanh đến

Múi giờ GMT -6. Hiện tại là 08:42 AM.


Chút Lưu Lại không chịu bất cứ trách nhiệm gì về nội dung bài đăng của tất cả Thành viên.
Nhóm Điều Hợp có toàn quyền chỉnh sửa, xóa bỏ, dời chỗ bài đăng, hay khóa tên Thành viên mà không cần giải thích lý do.

Powered by vBulletin® Copyright ©2000 - 2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Copyright © 2014 @ www.chutluulai.net. All rights reserved.
Vietnamese Language by www.mvietx.org.