• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Thơ Luân Hoán

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Thơ Luân Hoán

    Tản mạn về tình thơ Luân Hoán


    Thơ của nhà thơ Luân Hoán đến với tôi thật tình cờ... và muộn màng... vì khi tôi vô tình lạc buớc vào «Trên vuông chiếu của Luân Hoán»... Thiệt là một khám phá bất ngờ đầy thú vị ! Đọc xong những dòng thơ ông viết, tôi có một cảm giác thân quen cho dù tôi chưa từng được một lần biết đến nhà thơ này. Có thể vì tôi thuộc thế hệ sau ông nhiều lắm.

    "mười sáu tuổi em tập làm thiếu nữ ...
    vai tóc thề áo lụa trắng bay bay
    quai nón đỏ ngậm hờ vành môi ướt
    vuông khăn thêu kín đáo xếp trong tay

    em đến lớp nắng theo đùa trên áo
    cặp che ngang ngực thơm ngát ngọc lan
    tay giở vở tưởng chừng như đệm nhạc
    hồn thanh xuân em lót xuống từng trang"

    Thi phong của thơ Luân Hoán nhẹ nhàng, trau chuốt như những dòng trên trong bài "Điều Bí Ẩn Bình Thường". Luân Hoán đã từng dạy học, nhưng ông có tâm hồn thi phú, có ai buộc tâm tư nhà thơ thôi đừng lãng mạn trong lời thơ đâu nhỉ:

    "tôi đứng lặng vài giây trên bục giảng
    giáo án thuộc lòng bỗng chốc lãng quên
    nét phấn lạc giòng, chữ run mặt bảng
    trở lại bàn hồn nghe đã lênh đênh

    thôi tôi hiểu ra rồi, em bé bỏng
    chẳng có gì mới lạ phải không em
    trái tim đựng bao nhiêu điều bí mật
    cũng chỉ là tôi đã chớm yêu em."
    (Điều Bí Ẩn Bình Thường- Luân Hoán)

    Thơ ông thuộc hệ phái thi ca lãng mạn diễm tình. Thơ ông có chiều sâu nhưng không kiêu kỳ. Nét độc đáo trong thơ ông là sự bình dị để diễn đạt trọn dòng tư tưởng của mình:

    "mỗi lần sắp sửa yêu ai
    tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
    tưởng như có triệu vi trùng
    ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình"
    (Triệu Chứng - Luân Hoán)

    Lời thơ chân thật mộc mạc như người dân xứ Quảng quê hương của ông, nhưng người đọc lại cảm nhận cái tràn trề của nhịp thở trong cuộc sống:

    "treo lòng lên mũi Chân Mây
    lim dim nghe tiếng lá cây trở mình
    thương em, khép nép ngồi rình
    mây vào lá lá ổ tình đề thơ
    trên tuyệt mù đỉnh hư vô
    ta chìm nổi giữa phất phơ bụi trần"
    (Mây Trắng Bay Nhiều Quá - Luân Hoán)

    Tôi lại có cảm giác được rằng dưới cái sống tầm thường ấy ẩn chứa cái đời tinh túy của thi nhân. Như ông đã tâm sự : "Thơ cũng như người yêu vậy, đi qua rồi, nhưng vẫn còn thở trong lòng đó mà...". Tôi xem bài trong trang Hồn Quê. Trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống Luân Hoán đều có thể sáng tác thơ được. Thành ngữ Việt Nam mình có câu "xuất khẩu thành thơ" thiệt rất hợp với ông:

    "lạ quá khi không mà tương tư
    đêm nay lại thức nữa, hình như
    có ai đổ rượu vào ngôn ngữ
    tôi nói ra toàn thơ rất thơ "
    (Thắc Mắc - Luân Hoán)

    Nhà văn Đỗ Quý Toàn đã nhận xét về người bạn mình vài dòng tâm tình:

    "Nếu kiếp sau trời cho tôi làm thi sĩ, tôi muốn được làm thơ tình như Luân Hoán. Sáng làm thơ. Trưa làm thơ. Tối trước khi đi ngủ cũng hãy làm thơ đã. Làm thơ khi thức dậy, để lót dạ. Làm thơ khi đứng đợi xe, để qua thì giờ...

    ... Thơ Luân Hoán mang lại cho tình yêu học trò nhiều điều mới lắm. Vì những bài thơ tình của Luân Hoán thật hơn, cụ thể hơn, lẩm cẩm ngu ngơ hơn tất cả những thi sĩ nổi tiếng trên. Nghĩa là học trò hơn. Thật sự học trò không khoác vô tình học trò một bộ áo của ngôn ngữ diễm lệ hay thêu dệt những tình tứ kiêu kỳ. Ngôn ngữ của Luân Hoán thật giản dị. Hình ảnh là hình ảnh bình thường của đời sống hàng ngày".

    Nhà văn Song Thao trong bài «Quê hương, tình yêu trong thơ Luân Hoán» đã có nhận xét về thi sĩ Luân Hoán như sau:

    "Thơ Luân Hoán không thể là thơ không hay được. Nó như một hòn đá: nhìn bên ngoài tưởng như thô sơ, mộc mạc nhưng thật ra bên trong có chứa ngọc. Chất ngọc tinh tuyền vì nó được chắt lọc từ cuộc sống muôn vẽ muôn sắc. Hình như bất cứ trong hoàn cảnh nào cuộc sống Luân Hoán cũng có thơ được.Lúc vui lúc buồn, khi đắng cay, khi phẫn nộ, lúc tủi nhục, lúc hiên ngang, khi dịu dàng, khi hờn dỗi...mà thơ nào cũng mang cái giọng chất phác, duyên dáng nhưng tiềm ẩn bên trong là cái tinh quái, sắc sảo. Ðọc xong một bài thơ là mường tượng ngay ra được nụ cười của nhà thơ nằm đâu đó . Nụ cười có lúc ngọt, lúc bùi, lúc chua, lúc nồng nhưng cũng có lúc đắng lúc cay..."

    Luân Hoán là một nhà thơ có nhiều tình mà lại đa cảm. Hình như bất cứ một hình bóng giai nhân nào đi qua đời ông dù chỉ thoáng qua một ánh nhìn cũng để lại trong ông những áng thơ tình bất hủ. Nào là:

    "rập rình qua ngõ Minh Xuân
    liếc cho đỡ nhớ dải lưng lụa vàng
    nhìn nghiêng, nắng gác hành lang
    nhìn xéo, nắng giữ hai hàng sứ xanh
    long lanh mắt vượt qua thành
    vén màn hỏi nhỏ bức tranh treo tường..."

    Thi sĩ nghe tiếng nhạc dương cầm mà hồn phiêu lãng mười phương trên cành hoa chân dài. Phải chăng thi sĩ đã sống với hồn thơ bao la của mình:

    "âm thầm gởi tặng mùi hương
    lên bàn tay vài tiếng dương cầm buồn
    lòng tôi phiêu lãng mười phương
    bỗng về ở trọ trên trường túc hoa"

    hay tưởng như mình đang đến nhà thờ với lời xưng tội vẩn vơ trong lòng:

    "ngập ngừng qua ngõ Lâm An
    mưa dông hộ tống hai bàn chân thơ
    tưởng như đang đến nhà thờ
    thú lời xưng tội vẩn vơ trong lòng
    lỡ quên hái bậy nhành bông
    ngửa tay hứng giọt mưa trong ngỡ là
    cổ em chưa vướng vòng hoa
    chuỗi kim cương nước khác xa mọi người
    trông qua cổng, thấy em cười
    Chúa tha tôi tội yêu người sau lưng"

    Còn ý tưởng diễn tả phải lòng người đẹp khi ông viết lên nỗi tưởng nhớ váy thơ đang độ thong dong, nhớ người yêu mà chàng đạp xe khi bỗng phải lòng quên đi:

    "mon men qua ngõ Thu Hà
    dẫu lơi chân đạp cổng nhà cũng qua
    nắng chiều đang thở trên hoa
    hình như có bóng thướt tha vói nhìn
    quay đầu xe lại, khó tin
    nụ cười thơm ấy vô tình thật sao ?
    gáy ngà đỡ mái tóc cao
    rõ ràng có hạt bụi thao thức nằm
    váy thơ đang độ thong dong
    chiếc xe đạp bỗng phải lòng quên đi"

    Phải nói thơ tình của ông rất phóng khoáng, phóng khoáng từ tư tưởng đến từ vựng. Tôi đã đọc nhiều nhà thơ hải ngoại đã viết những vần thơ tình hào phóng như Việt Hải trong ý tưởng tương lòng:

    « Choàng vai ôm lấy yêu thương,
    Cho ta ngày cũ vấn vương tơ lòng,
    Nhớ em má thắm môi hồng,
    Nhẹ hôn tóc xõa bềnh bồng say mê,
    Tiếng cười như vỡ pha lê,
    Ái ân che khuất đường về chiều xưa,
    Gió lay khung cửa đong đưa
    Thân trao môi gửi say sưa tình nồng,
    Long lanh ánh mắt tỏ lòng,
    Cho anh sống lại giấc mộng chiều xưa. »
    (Phút Giây Chạnh Lòng - Việt Hải)


    hay khi thi sĩ dùng ẩn ý của mượn rượu sầu thơ, nỗi buồn cô liêu nhớ người yêu mà say tình hay say tửu đều có nét gần nhau trong ý thơ:

    « Chiều nay chợt nhớ em yêu,
    Tóc huyền óng ả mỹ miều thướt tha,
    Mắt tình tư lự tim ta,
    Dù say hay tỉnh chỉ là yêu em,
    Đêm nay say đắm đến thèm,
    Rượu chưa quá chén say mèm hồn ta,
    Hỏi trời có thấu tình ta ?
    Buộc ta xa cách chẳng thà tình say. »
    (Cơn Say Tình Ái - Việt Hải)


    Và một nhà thơ khác như Thái Tú Hạp, ông làm thơ trong tâm tưởng nhớ nhung người yêu, một tình yêu nhẹ nhàng, kín đáo được ươm trong thơ :

    «Thả mây cuối phố em qua
    Vừng trăng trên tóc quỳnh hoa chỗ nằm
    Lược là vô tận hỏi thăm
    Hương bồ kết nở trăm năm môi cười
    Hoa cam hoa bưởi ngậm ngùi
    Đã xa cố quận một đời viễn phương
    Bao giờ trầm ngát rừng hương
    Quế cay nồng tỏa suối nguồn thảnh thơi
    Ta về hát giữa lệ rơi
    Đại hồng chung điểm một thời xuân xưa"
    (Mê Hoặc Trầm Hương, Thái Tú Hạp)

    Tôi nhận thấy nét đặc điểm của Thái Tú Hạp là làm thơ tình, mà nghe như bao phủ cả tính chất "thiền" trong đó. Ví dụ trong bài sau đây:

    "Mai ta về giữa non cao
    Xé mây làm áo lụa đào cho em
    Nghiệp từ mấy thuở trần duyên
    Nắng thanh xuân đậu ngoài hiên ta bà
    Đưa nhau dạo giữa ngân hà
    Bỏ nhân gian lại chốn tà huy câm
    Mai sau tình vỡ hư không
    Có nghe tiếng hót tiền thân chim ngàn
    Từ trong thiên cổ tri âm
    Tiễn nhau xuống núi cưu mang kiếp sầu
    Mai về khép cánh biển dâu
    Giở trang vô tự trắng nhòa sắc không
    Chờ nhau dưới cội vô thường
    Soi tâm tư hiện một vừng trăng xưa"
    (Thanh Tịnh Khúc- Thái Tú Hạp)

    Những dòng thơ lục bát diễm tình của Việt Hải như những lời tự tình trong rực lửa nồng nàn say ý thơ. Cái lãng mạn trong thơ thi nhân cũng bóng bẩy như ánh sao rơi. Trong thơ Việt Hải tôi nhìn thấy nhà thơ này có rất nhiều thương nhớ, rất dễ thương nhớ và hình như thương nhớ tất cả. Giống như Percy Bysshe Shelley đã từng nói: "Mọi trìu mến đều trở thành vô nghĩa, Nếu môi ta chẳng có nụ hôn nàng"; Và thơ của nhà thơ Việt Hải đậm nét táo bạo, và đầy ấp những nụ tình hôn ngọt ngào.

    Trái lại, thơ tình Thái Tú Hạp thì lại rất bình yên, trọn vẹn, dù tràn đầy yêu thương, hiền lành, không đắm đuối say mê, không lãng mạn ướt át, không cuồng nhiệt và không táo bạo. Đọc thơ Thái Tú Hạp tôi thấy nhuốm một chút "thiền" rất vô vi. Cái tình cảm đó hạp trong tư tưởng thiền quán, và ý niệm thiền thì chuyên chở cả khối tình của nhà thơ.

    Với tôi Luân Hoán ở mức trung dung giữa chất thiền hiền hòa của Thái Tú Hạp và nét táo bạo của thơ Việt Hải. Nên thơ viết về tình yêu của Luân Hoán cho tôi có cảm giác như ông là một người khao khát tình yêu trong ý thơ bóng bẩy và có nhiều mộng tưởng. Dòng thơ ông nhất là những dòng lục bát ngọt ngào, đậm đà và trữ tình như những câu ca dao. Thơ ông khiến người đọc say ngây ngất mùi hương giấy trắng trinh nguyên học trò.

    Đọc thơ ông tôi hoài niệm về một thiên đường ký ức, về cái thuở mộng mơ thơ ngây với những chuyện tình vu vơ, với những dòng lưu bút thơm màu mực tím mồng tơi, với những bài thơ chép tay vội vàng, những tà áo trắng duyên dáng, những hàng phượng đỏ, những cái bâng khuâng trìu mến, những hờn dỗi, những nôn nao hẹn hò đợi chờ, những hân hoan nồng thắm. Nhà thơ Mạc Phương Đình đã nhận xét về thơ Luân Hoán như sau:

    "Trong thơ anh, ngòi bút tài hoa bay bổng, uốn lượn theo cảm xúc, chắp cánh cho từ ngữ đi vào từng ước muốn của bày tỏ, gởi nó đi theo dòng tình, nhịp nhàng như những nốt nhạc chính xác trên cung bậc. Cũng với nhũng con chữ tầm thường trong hàng ngày giao tiếp, Luân Hoán đã chọn lựa, đã sắp xếp chúng đúng vào những vị trí, để biến chúng thành những dòng thơ tuyệt diệu..."

    "em từ bụi chuối bước ra
    ánh trăng làm nũng chao qua ống quần
    niềm vui giấu dưới bàn chân
    vỡ theo sợi gió lâng lâng ngậm ngùi"
    (Trăng đêm nở hoa- Luân Hoán)

    Thơ ông viết dùng ngôn từ giản dị, bình dân, dễ cảm thông, rất hồn nhiên dí dỏm. Thơ như rất gần gủi với cuộc sống. Cõi thơ tình Luân Hoán sao thật mênh mông, phong phú.

    "cho dù sông nước mông mênh
    chắc chi đủ rộng như lòng đang yêu
    em đi khép nép trong chiều
    hai bàn tay đánh dập dìu gió bay"

    Cái yêu trong thơ của Luân Hoán là những mối tình xuyến xao, trong nét e ấp, rụt rè, e thẹn, rất dễ thương:

    "ta đứng tựa trong hành lang lớp học
    trên lầu cao nhìn xuống mộng bâng khuâng
    lòng cúi theo từng ngọn tóc phân vân
    hôn rất nhẹ trên tóc thề đen nhánh
    môi em đỏ sao hình như quá lạnh
    răng trắng thơm níu giữ lấy hồn ta
    lưỡi rót thương tình rót mật đậm đà
    ta nương náu bên em bằng mộng tưởng
    bởi quá yêu nên ta giàu tưởng tượng"
    (Trong Sân Trường Bữa Ấy)

    Và với những lời tỏ tình tha thiết nóng bỏng của cậu thư sinh vừa mới chớm yêu:

    "Em yêu dấu, hỡi con chim trúng đạn
    Rơi về đâu trong cõi sống mênh mông
    Ta vẫn còn đây mái tóc bềnh bồng
    Dù sương gió ươm đôi giòng bụi trắng
    Lời chìm nổi những ba cay bảy đắn
    lòng vẫn xanh như cỏ dại thong dong
    trái tim ta vẫn rộng rãi thư phòng
    có em ngủ muôn đời trên vần điệu
    ta mai mốt dù tài danh mệnh yểu
    đã nhờ em tồn tại với thời gian
    hỡi em yêu thăm thẳm cánh phượng hoàng
    có đậu lại trong sân trường bữa ấy..."
    (Trong Sân Trường Bữa Ấy)

    Chữ tình trong thơ Luân Hoán là những đoản khúc giao cảm của huyền thoại tình yêu giữa hư và thực, giữa những chuyện tình có thật và không có thật. Trái tim thơ của anh nhung nhớ lửa yêu thương. Cái tương tư trong thơ anh là những nỗi nhớ nhung đầy mộng ảo trong chuyện tình không có thật:

    "chẳng nhớ nhờ đâu quen các em
    một đôi bạn nhí nặng chân tình
    má môi chưa thoảng mùi son phấn
    mưa nắng vừa ươm những nhánh tình

    vào mỗi cuối tuần thường kéo nhau
    lang thang đội nắng gió lên đầu
    ô mai, me, cốc...ta tập nhấm
    nuốt cả nụ cười, chớp mắt nâu
    .................................
    đã vụt bay rồi hai cánh chim
    ta yêu tha thiết cả hai em
    chẳng qua vụng tính hơn thân phụ
    đành gối thơ nằm trắng mấy đêm"
    (Chuyện Tình Không Có Thật)


    Đọc những dòng tiểu sử về nhà thơ Luân Hoán, tôi được biết trong tình yêu, nhà thơ đã sống trọn vẹn cho người bạn đời mà ông đã để ý khi nàng vừa vào ngưỡng cửa của tuổi ô mai:

    "ta đến trọ nhà em từ thuở
    em chưa qua hết tuổi mười ba
    bút mực thơm từng ngọn tóc đuôi gà
    miệng liếng thoắng vụng về như con sáo
    hoa cỏ dại mọc đầy trong túi áo
    gót chân hồng không mệt mỏi nhảy giây
    trái mù u chuyền thẻ chạy quanh tay
    cười với hát, ăn quà, vòi vĩnh mẹ
    chừng nấy việc dắt dìu em nhè nhẹ
    dạo vòng vòng trong thế giới ngây thơ."

    Tình yêu của ông dành cho hiền thê rất sâu đậm và mặn nồng:

    "lãnh thổ thơ tôi, một cõi Em
    hàng trăm chánh thất, chỉ một tên
    và không cung nữ, không hoàng hậu
    lộng lẫy trong cùng một dáng Em"
    (Mời Em Lên Ngựa)

    Tuy thơ sáng tác bay bướm nhưng ông là người nặng tình nghĩa thủy chung của đạo lý phu thê:

    "chiều hôm nay ngồi vơ vẩn trông mưa
    em ngoài hiên lại vọc nước như xưa
    ta bỗng thấy em vẫn là con gái
    em có biết em vẫn còn trẻ mãi
    bởi vì ta còn mãi mãi yêu em..."
    (Chiều Mưa - Luân Hoán)

    Luân Hoán trân quý sự hiền thục của vợ mình và biết ơn người bạn đời tri kỷ trăm năm đã bao năm chịu thương chịu khó đồng cam cộng khổ chia xẻ ngọt bùi đắng cay cảm thông cho chồng. Để nhà thơ chợt nhận thấy rằng nàng của Thơ muôn thuở của ông vẫn là Phước Ninh hiền dịu kiêu sa của thuở nào, vẫn mãi mãi yêu dấu trong mộng và trong thực :

    "tôi yêu em, tôi chỉ nói với riêng em
    tôi chỉ muốn một mình em đập chén
    trong hồn tôi chếnh choáng cơn say
    chuyện chi phải ngợi ca từng ngọn lá
    bởi nhờ em đời đã đẹp lâu rồi
    và hơn nữa, tôi thiếu tài giả dối
    không ngụy trang, che giấu những riêng tư
    và thấy muôn đời " tình tôi vẫn thuộc về em"

    Cổ sáp ong vẫn thường đeo thánh giá
    tôi nhủ thầm : em ngoan đạo, từ tâm
    muốn vói tới ngôi trời, tôi xem lễ
    Chúa của tôi là em ở trong lòng...."
    (Chúa Tôi- Luân Hoán)


    Tôi bỗng nhớ đến chuyện tình nổi tiếng mà tôi hằng yêu thích "Dr. Zhivago", đến tác giả Boris Pasternak và nguồn thi hứng và cảm hứng của ông, người tình văn chương Olga Ivinskaya. Và Luân Hoán cũng có một Phước Ninh giúp ông hoàn thành nghiệp thi ca. Thơ có sắc thái riêng của nó, khi đọc lên người ta có thể hiểu được tâm sự lòng của tác giả. Tôi có đọc đâu đó một nhận xét rất xác đáng của thi hào Valéry "Những cõi thơ thuần chất giống như lửa, loài người chỉ có thể đi qua, không thể lưu trú tại đây được. Mà cũng chỉ có một ít người đặc biệt được quyền đi qua chốn ấy thôi. Những người đặc biệt ấy chính là các thi nhân".

    Đúng vậy, thi nhân Luân Hoán đã đưa chúng ta vào một vườn thơ ngát hương bách hoa dị thảo của ông. Trong thế giới Đường Thi có một danh tài thi quỷ Lý Hạ, trào lưu thi ca lãng mạn tiền chiến có một Vũ Hoàng Chương, và những dòng thơ diễm tình hiện đại không thể nào thiếu được những đóa Tình thư diễm tuyệt của Luân Hoán. Cám ơn ông đã dẫn tôi vào một thế giới huyền thoại quyến rũ muôn màu muôn sắc của tình yêu.

    "trộn chút tình ta vào trong bột giặt
    vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau
    vải còn đượm mùi thịt da em thơm ngát
    tay bùi ngùi như đang vuốt ve nhau
    trông thau nước đục lờ những cáu bẩn
    ta bỗng thương lớp bụi nổi màng màng
    chúng là những nhọc nhằn em gánh chịu
    nuôi chồng con dài năm tháng gian nan"

    Cũng xin cám ơn nhà thơ đã cho tôi thấy được cái đẹp mỹ miều của ngôn ngữ Việt Nam, giản dị, tầm thường nhưng lại chất chứa đầy thi vị thi ảnh hữu tình:

    "vòi nước nhỏ chảy qua từng thớ vải
    như chảy vào trong cùng tận lòng ta
    em có thấy giọt lệ ta thầm nhỏ
    và tan trên màu vải những thiết tha?

    hơn bốn mươi lần đầu ta tập giặt
    để tiêu xài cho bớt chút thời gian
    thân nam tử ở trong thời mất nước
    sao trói nơi này lẩm cẩm kêu than?

    đời không giữ giùm ta hai chân đứng
    có lẽ nào vô dụng mãi hay sao
    giặt giũ làm thơ đọc vài trang báo
    hai mươi bốn giờ thường trực chiêm bao"

    Tôi nguyện chúc cho dòng thơ diễm tình của ông vẫn mãi mượt mà, vẫn như con sông, con suối chảy mãi không ngừng, cho ngọn lửa yêu thương luôn thắp sáng con tim người thi sĩ, và sự mẫn cảm của hồn thơ ông luôn được tuyệt vời.

    "tình theo chữ thở trăm lời
    hồn theo tình mở một trời nguyệt hoa
    làm thơ là để lân la
    chui từ cái nhớ chui qua cái buồn
    làm thơ là để bình thường
    cái ta cứ thích đứng đường ngó em
    làm thơ là để lênh đênh
    trên dòng rảnh rổi chợt quên mất mình
    làm thơ là để làm thinh
    im nghe ta tự tỏ tình với ta "


    Viết tại Paris,
    Bích Phượng Paris
    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 02-03-2011, 12:39 AM.
    ----------------------------

    Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.
    Similar Threads
  • #2

    Những Mỹ Nhân Trong Thơ Luân Hoán

    Thiếu Nữ trong tranh - Luân Hoán






    Những Mỹ Nhân Trong Thơ Luân Hoán


    Trần Huiền Ân

    Ðọc thơ Bà Huyện Thanh Quan ta thấy thiên nhiên ở đó rõ ràng là thiên nhiên tái tạo. Như cảnh qua Ðèo Ngang, cũng cây cỏ hoa lá, vài chú tiều, mấy nóc nhà, nhưng cơ hồ như ta đang ngắm một bức tranh thủy mặc, ta có cảm tưởng như Bà Huyện Thanh Quan tả bức tranh vẽ Ðèo Ngang chứ không phải tả cảnh thực Ðèo Ngang. Cảm nhận của ta đã bị cái “phong cách Thanh Quan” dẫn dắt từ cõi Thực sang cõi Mộng.


    Ðọc mấy bài “Thiếu nữ trong tranh” của Luân Hoán thì ngược lại. Anh dẫn ta đi từ Mộng sang Thực. Từ Mộng, là vì những thiếu nữ mà Luân Hoán miêu tả đâu phải là người, khác với cả những nữ hồ ly, nữ yêu quái trong truyện Liêu Trai. Khi nói với độc giả phu nhân này là con chồn tu luyện bao nhiêu năm, tiểu thư nọ là con ma chết tự đời nào. Bồ Tùng Linh bảo rằng đó là phu nhân có thực, tiểu thư có thực, họ đang sống kiểu sống của họ, con chồn đã tu luyện thực, con ma đã từng chết thực. Vậy mà, khi đọc dù có yêu thích hay lo sợ ta cũng biết chắc đây là chuyện “nói láo mà chơi nghe láo chơi”.

    Trong lúc ấy Luân Hoán nói rõ những thiếu nữ kia chỉ là là thiếu nữ trong tranh, họ hoàn toàn là Mộng được Luân Hoán tái tạo qua nét bút của sáu họa sĩ ai cũng nghe danh. Luân Hoán bảo : “ Tôi tả con người trong tranh vẽ của Ðinh Cường, Hồ Thành Ðức, Khánh Trường, Nghiêu Ðề, Nguyên Khai, Thái Tuấn” , thế nhưng qua thơ ta thấy họ là nhân vật Thực, người Thực.
    Những nhân vật này có đủ hai phần Thể Xác và Linh Hồn. Ðây là Thể Xác.
    Với Ðinh Cường :
    màu gối màu, sống thảnh thơi
    có tinh, có huyết, có đời sống riêng

    Với Hồ Thành Ðức :
    em chằng chịt những sợi gân
    thênh thang như suối như sông phiêu bồng

    Với Khánh Trường :
    búp gân tím, thỏi thịt hồng
    mở bồng ngũ giác quan lồng lộng bay

    Với Nghiêu Ðề :
    môi hờ hững ngậm sợi thơ
    thân thơm dải lụa mắc vào hư không

    Với Nguyên Khai :
    mượn thân thể ngựa phiêu bồng
    đạp lên ngàn ngọn gió lồng về đâu

    Với Thái Tuấn :
    tóc tơ lả ngọn thướt tha
    vành khăn trăng bọc sóng tà áo lơi
    Thân thể – tinh huyết – gân cốt – da thịt – tóc tơ – môi miệng. Ta đã có đủ một Con Người.
    Ðây là Linh Hồn :
    sắc màu hít thở rong chơi
    hồn đông phương lộng lẫy đời tóc tơ
    (Ðinh Cường)
    sắc nhan em chẳng là em
    em là nhan sắc trái tim con người
    (Hồ Thành Ðức)
    em từ giọt máu lớn khôn
    em từ bát ngát tâm hồn sáng trăng
    (Khánh Trường)
    dẫu từ đường nét hiển linh
    nghìn năm em vẫn một mình khói sương
    (Nghiêu Ðề)
    tượng hình nhật nguyệt lên ngôi
    và em từ trái tim người bước ra
    (Nguyên Khai)
    Và thi sĩ của chúng ta:
    mơ hồ tôi mộng thấy tôi
    sống trong thi tượng một đời của em
    (Thái Tuấn)
    Tôi nhớ đọc trong cổ văn, Bài ca đề bức tranh sơn thủy của Ngô Dung, mấy câu cuối :
    ‘Kinh niên hồ điệp phi bất khứ
    Lũy tuế đào hoa kết bất thành
    Nhất phiến thạch
    Sổ châu tùng
    Viễn hựu đạm
    Cận hựu nùng
    Bất xuất môn đình tam ngũ bộ
    Quan tận giang sơn thiên vạn trùng’
    Thấy giống hoàn cảnh bản thân hiện tại. “Không ra khỏi cửa năm ba bước. Xem hết non sông muôn dặm xa”, chẳng phải đi đâu, chỉ bằng mấy vần thơ Luân Hoán tôi đã được chiêm ngưỡng dung nhan và tiếp xúc với các mỹ nhân. Họ thoát hồn từ trong tranh qua con đường thơ của Luân Hoán đến với cuộc đời. Họ khác với các danh tướng, chẳng những đã không bạc đầu mà vượt qua vòng sinh diệt để trường tồn.

    Tôi cũng có làm thơ, nhưng thơ không vui, tình không đẹp, cuộc đời không được nhìn dưới con mắt sáng, cũng không có lăng kính màu. Ðể bù lại những chỗ yếu ấy của mình tôi đọc thơ Luân Hoán để yêu thương cùng thiên hạ.

    Trần Huiền Ân
    ----------------------------

    Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

    Comment

    • #3

      ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi CONHAKO View Post
      Thiếu Nữ trong tranh - Luân Hoán






      Những Mỹ Nhân Trong Thơ Luân Hoán


      Trần Huiền Ân

      Trong lúc ấy Luân Hoán nói rõ những thiếu nữ kia chỉ là là thiếu nữ trong tranh, họ hoàn toàn là Mộng được Luân Hoán tái tạo qua nét bút của sáu họa sĩ ai cũng nghe danh. Luân Hoán bảo : “ Tôi tả con người trong tranh vẽ của Ðinh Cường, Hồ Thành Ðức, Khánh Trường, Nghiêu Ðề, Nguyên Khai, Thái Tuấn” , thế nhưng qua thơ ta thấy họ là nhân vật Thực, người Thực.
      Những nhân vật này có đủ hai phần Thể Xác và Linh Hồn. Ðây là Thể Xác.
      Với Hồ Thành Ðức :
      em chằng chịt những sợi gân
      thênh thang như suối như sông phiêu bồng

      Với Khánh Trường :
      búp gân tím, thỏi thịt hồng
      mở bồng ngũ giác quan lồng lộng bay

      Với Nguyên Khai :
      mượn thân thể ngựa phiêu bồng
      đạp lên ngàn ngọn gió lồng về đâu

      Người họa sỉ này Mít thường hay gặp lắm ( Quán ăn Gia Hội Hay tiệm Coffee Factory ở Westminster... Bửa trước có gặp chị Nancy là vợ của nhà thơ Hoàng Vũ ; không biết có phải anh Hoàng Vũ chủ diễn đàn nhà ta nữa không hè???
      Tôi khám phá ra bí mật của đại dương khi suy niệm về một giọt sương mai.

      Comment

      • #4

        PPS Thơ Luân Hoán


        NGƯỜI ĐẸP SAIGON THẬP NIÊN 60-70 (Luân Hoán thực hiện)




        HẠT BỤI KỶ NIỆM (Luân Hoán thực hiện)



        CẦU AO (Luân Hoán thực hiện)
        Đã chỉnh sửa bởi Visaolaithe; 12-07-2011, 08:05 PM.

        Comment

        • #5

          PPS Thơ Luân Hoán






          THẢ THƠ VÀO TRANH KHỎA THÂN (Luân Hoán thực hiện)




          THƠ TÌNH DÁN Ở NGÃ TƯ (Luân Hoán thực hiện)




          ĐÀNẴNG, MỘT THỜI DẤU YÊU (Thơ Luân Hoán, nhạc và hát Nhật Ngân)

          Comment

          • #6

            PPS Thơ Luân Hoán





            SAIGON, KỶ NIỆM VỤN (Luân Hoán thực hiện)




            ĐÒ EM VẪN CHỞ NGUYỆT HOA (Luân Hoán thực hiện)




            NỤ HOA CHO NGƯỜI EM HỘI AN (Luân Hoán thực hiện)


            Comment

            • #7

              PPS Thơ Luân Hoán





              TRONG SÂN TRƯỜNG BỮA ẤY (Luân Hoán thực hiện)


              [YOUTUBE][5v-3U6wCHaU&feature=related/YOUTUBE]

              THƠ TÌNH TRONG CẶP HỌC SINH (Luân Hoán thực hiện)




              NGŨ HÀNH SƠN (Luân Hoán thực hiện)

              Comment

              • #8

                LUÂN HOÁN NƠI CÕI NGƯỜI NGƠ NGÁC

                LUÂN HOÁN NƠI CÕI NGƯỜI NGƠ NGÁC

                Đầu năm 1985, Luân Hoán đến bờ tự do làm thân tị nạn, đã đưa theo Hơi Thở Việt Nam được xuất bản năm 1986, như một thông-điệp báo cho đồng loại biết phần nào tin tức quê nhà, nào tù đày, hãi sợ, bi cảnh, cuộc đời xáo trộn, đổi thay tận cùng của bất ngờ quay cuồng của con Tạo. Nhà thơ tiếp tục làm thơ nơi xứ người và hình như xuất hiện chính thức trên tạp-chí Văn thời Mai Thảo (số 35, 5-1985). Những tuyển tập xuất-bản sau đó, ngoại trừ đôi tập chủ trì ca ngợi tình yêu, phần lớn nói lên tiếng lòng của con người sống lưu xứ, của con người bị bứng ra khỏi đất sống, không lựa chọn. Sống lưu đày là sống trong nỗi nhớ triền miên. Nơi vùng đất mới, hình như chỉ có thời gian và không gian của ký ức, của hồi tưởng với những địa danh, nhân danh, thời danh, v.v. - những mốc điểm của một khởi hành hoặc của một trang lịch-sử !


                Nỗi nhớ quê nhà

                Ngay trong tuyển tập thơ đầu sáng tác ở hải ngoại, Luân Hoán đã nói nhiều đến những nỗi nhớ quê nhà. Nỗi nhớ chiếm một phần (tr. 119-150) của tập Ngơ Ngác Cõi Người (San Jose CA : Nhân Văn) xuất-bản năm 1989. Ở đây, nỗi nhớ có tên những khuôn mặt bạn bè thân yêu cùng một lúc với nỗi nhớ nhà, nhớ nước :

                " người ơi người ơi người ơi / ta còn hay mất bên trời lưu vong " (Cúi Mặt Chào Đà Nẵng, tr. 9,11).

                Hay : "hỡi ơi bạn bè cũ / lận đận chạy về đâu / bỏ mình ta ngơ ngác / vơ vẩn nhớ đau đầu"; " nhớ gì đâu, nhớ nhớ / thương gì, mà thương thương / trái tim ta đã rớt / ở bên trời quê hương " (Gọi Tên Bạn Bè, tr 58-9).

                Đến Đưa Nhau Về Đến Đâu (Los Angeles CA : Sông Thu, 1989), sống ở Montréal, xứ người, nhà thơ từ lựa chọn trở thành nạn-nhân của mơ. Lưu đày đồng nghĩa với mộng mị cho nhẹ kiếp người! Kẻ lưu-vong dễ chuốc căn bệnh ngỡ ngờ, mới trông ngoại hình đã đoán kẻ ấy xuất thân nơi mô:

                "Có phải em là Công Tằng Tôn Nữ ...
                vừa liếc qua ta đã nhận ra ngay
                đôi mắt Huế hữu duyên vì biết háy
                nét đài trang trong dáng nhíu lông mày

                (...) môi muốn hỏi mắt muốn chào nhưng ngại
                em nghiêm trang kiểu cách một thời xưa
                quanh quẩn ngó rồi dòm ta đánh giá
                thằng cha này sao nhớn nhác khó ưa? ..." (Gặp Một Người Nghi Rất Huế, tr. 68)

                Nhưng không phải ai cũng gặp may như Luân Hoán!

                Rồi Cảm Ơn Đất Đá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài (Houston TX : Kinh Đô, 1991) gồm 53 bài nỗi nhớ đi theo những địa danh đất nước, những "cõi ta" nhà thơ đã sống hoặc đã đi qua. Nơi đây, nhà thơ buông lời cảm ơn bằng lục bát mà tất cả các tựa trong tập đặc biệt cũng là hai câu sáu tám.

                Đà Nẵng, nơi chôn nhau cắt rún của thi sĩ, với những địa danh Hòa Khánh, Chợ Mới, Cổ Viện, chùa Bà Quảng, giếng Bộng, ... trong bài mở đầu Quê-Hương Nhắm Mắt Như Sờ Được... :

                " (...) Hỡi những cành me cành phượng vĩ
                hỡi con kiến lửa lạc bâng quơ
                hỡi con chim sẻ trên vồng ngói
                tôi tưởng tôi về, đâu biết mơ !
                trông ra cửa kính trời mưa tuyết
                ngó lại đời mình ngồi bó ta
                quê hương nhắm mắt như sờ được
                sao vẫn buồn xo đến thế này ..."(tr 9&14)

                Rồi Hội An với Chùa Cầu, Chùa Ông, Cẩm Sa... mà có lần đã ở Montreal xứ người Bất Ngờ Qua Cầu Champlain / Nhớ Cấu Bà Rắn Lềnh Bềnh Những Thơ (tr. 58-59) nhớ chuyện ngày xưa người bạn đời "không ưng mà mê tít" người thanh niên học trò - tức nhà thơ. Rồi Khi Không Nhớ Về Phong Lệ / Cúi Đầu Đụng Tiếng Thở Ra :

                "(...) Phong Lệ bây chừ buồn quá thôi
                ngoại ngồi rờ rẫm lá trầu hôi
                dưới chân, con mực thiu thiu ngủ
                chừng cả hai đang quên lững đời

                ( ...) ví dầu kỷ niệm thành hơi thở
                cũng thổi không tan nỗi ngậm ngùi" (tr. 45-46)

                Rồi Huế của nhà thơ với những Cầu Bạch Hổ, cầu Tràng Tiền, Chợ Đông Ba, hẻm Cầu Kho, hồ Tịnh Tâm, kiosque Lạc Sơn, quán cơm Âm Phủ...những nơi chốn đã hằn dấu biết bao nhiêu kỷ niệm của một đời người. Ở đó, đậm nét tình yêu. Ở đó, đời sống có vẻ lãng mạn dễ thương, thơ của Huế cũng có vẻ tinh nghịch của nụ cười hóm hỉnh:

                "nhíu mày dòm trán đến chân
                em ngoay ngoảy háy phủi quần bỏ đi
                coi tề, tôi có lỗi chi
                lỗi tại hột nút xuân thì sút ra "

                "dụi hoài mắt nhận không ra
                xanh cây xanh nước xanh tà áo bay
                ánh lên trong cõi xanh này
                lòng con mắt Huế sắp đầy đọa tôi " (Cho Ta Giữ Một Chút Gì Thưa Huế, tr. 61).

                Cả kỷ niệm / kinh nghiệm ngủ đò Huế, một đêm mưa trên sông :

                " thút tha thút thít mưa hoài
                lắc leo đèn úa sông dài bóng tôi
                buông màn nghe cái tôi trôi
                cùng vuông chiếu ố mồ hôi em nồng
                em từ Đại Lược Kim Long
                thả đời theo những nhánh sông qua ngày?... "(Đò Em Vẫn Chở Nguyệt Hoa, tr. 73).

                Nhớ về nơi chốn mà nhà thơ đã gửi lại một phần xương thịt của mình cho tổ quốc. "Mặt Trận Quảng Ngãi Ngày Xưa" rồi những Mộ Đức, Nghĩa Hành, Thu Xà, ..., những chiến trường lửa khói, những đứt ruột quê hương những năm tháng miệt mài hành quân:

                "... bây giờ Thi Phổ ơi Thi Phổ
                ta đã ngã rồi, ngã quá lâu
                trước khi xuất cảnh tìm đất sống
                nhìn cõi hận xưa thương lẫn đau
                bây giờ Thi Phổ ơi Thi Phổ
                mười bốn năm dài biệt cách nhau
                máu ta ngấm đất, tan trong đất
                nên cảm được rằng em cũng đau" (Chợt Nhớ Về Nơi Ngấm Máu Ta, tr. 100).

                Nỗi nhớ còn có tên "Sài Gòn thủ thỉ gọi ta, nhiều khi ta nhớ xót xa Sài gòn"(tr. 107-109), bởi "những góc cạnh thủ đô vẫn còn trong tâm mạch" qua 19 đoạn thơ như 19 mốc nhớ (tr 110-114). Nhớ những lần đi hoang "khi ta vào tới Lăng Cha Cả / trời tối bụi mưa bén góc chân / mở báo che đầu tìm thuốc lá / nốc cốc cà phê nghẹn mấy lần ...", cả những lúc hưởng ... đời ở xóm Hòa Hưng, không trọn vẹn khi nghe tiếng pháo ròn rã :

                "gặp em ở xóm Hòa Hưng
                đang "đi" ta bỗng lừng khừng muốn thôi
                sợ em lây cái bụi đời ?
                đang lên cao độ tuyệt vời bỗng ngưng
                thì ra thơ viết dở chừng
                trở về phá trận tưng bừng pháo xuân" (tr. 103).

                Rồi tương tư theo bước chân tạt qua Lái Thiêu, Chợ Búng, tạt về Bến Tre" Rạch Miễu, Bình Đại, Giòng Trôm...những Bậu và Qua :

                "bậu qua phà Rạch Miễu / qua lẽo đẽo theo sau / (...) bậu ơi trời dẫu rộng / nhưng đâu bằng nhớ nhung / sông rạch như gân máu / man man nỗi mặn nồng ...",

                từ nhung nhớ đến thốt lời :

                "ta may mắn được làm thi sĩ / nhờ đã phải lòng gái Bến Tre" (tr. 115, 121).

                Thời gian đưa đến Cỏ Hoa Gối Đầu (Miami FL : Sóng Văn, 1977), là tập thơ thứ 17. Cỏ hoa vì :

                "Em là Hoa / thơ là hoa / và tôi, có thể, cũng là, biết đâu ... / một chùm, sống bám lẫn nhau / ngày xưa, hiện tại, mai sau / vẫn là / thơ là hoa / em là hoa / và tôi, có thể, đều là / phù du / phù du lộng lẫy phù du" (Hoa, tr. 9).

                Đời lưu vong đó ghi dấu an nhiên của một người thơ thong dong với đời, như không tham vọng, sống thực hôm nay. Thơ tình của một người tự cho no đủ về tình nhưng vẫn vươn vói mê tình, mê đời. Quê hương và tình bạn chiếm phần còn lại.

                Và 10 năm ở Canada:

                "mười năm lớ ngớ không ngon giấc / co duỗi không qua khỏi cái giường / hít thở cầm hơi vài cơn mộng / Buồn ngấm, chừng như sắp thối xương ... " (Bài Kỷ Niệm Tròn 10 Năm Ở Canada, tr. 110).

                Nỗi nhớ vẫn còn đó qua Châu Văn Tùng, người bạn thơ đã gắn liền với địa danh, khi nhắc đến Đà nẵng là nhắc đến người bạn :

                "tao sẽ chưa về thăm mày được
                bởi vì, giản dị, thiếu tiền thôi
                ( ...) trái tim còn đập, còn thương nhớ
                đợi mươi năm nữa có là bao
                năm nay tao mới năm mươi tư tuổi
                truyền thống ông cha thọ rất cao
                gắng sống chờ tao lên chín chục
                hồi hương, cụng chén, tán tào lao" (Phúc thư Châu Văn Tùng Đà nẵng, tr. 104& 106)

                Nỗi niềm nhớ thương quê hương chất ngất đó khiến tiếng thơ của Luân Hoán vừa xa xôi vừa gần hủi, giản dị tự nhiên đến thân tình. Đâu phải anh dụng ý làm thơ anh kể chuyện mà. Thơ Luân-Hoán chứa nhiều hình ảnh, nhân dáng, ngoài những người bạn thơ, đồng ngũ, bạn học, hai hình ảnh khác khá trội bật trong thơ ông là người mẹ và người chị. Về người chị, Luân-Hoán có hai bài thơ thật cảm động. Bài Xin Gởi Cho Em Vài Hạt Mưa:

                "Mưa suốt ngày đêm suót mùa đông
                chị đang đúc bánh xèo phải không?
                Chảo đen bột trắng bàn tay nhỏ
                đổ hết lòng trên ngọn lửa hồng

                (...) chị buồn còn hơn những hạt mưa
                sầu hơn cổ nhạc tự ngàn xưa
                nhớ thương em trốn vào thi khúc
                sao chút lòng em vẫn cứ thừa... " (CODDTT tr 39,40)

                Bài Khiêng Nước gợi cảm hơn khi đi sâu vào vùng ký vãng :

                "một cái thùng con con / một đọan tre nho nhỏ
                chị thương chịu nặng hơn / lâu lâu hơi cau có
                em đi trước run run / đồn nghiêng vì vai thấp
                dốc đá vấp luôn luôn / thùng va vào sau gót

                (...) ở đây trời đẹp lắm / sao chẳng hề thấy vui
                chẳng phải vì em khổ / chợt nhớ nhà đó thôi
                ước chi được nhỏ lại / như những ngày tản cư
                cùng chị đi khiêng nước / bắt nòng nọc vọc chơi " (NNCN tr 126-7).


                Cuộc đời mới

                Rời quê hương đã là một mất mát và quyết định ra đi đã là một khó khăn dứt khoát, cay đắng ngay từ bước đầu ly hương : " từng người một xăn quần dở áo

                thịt da vàng lở lói gì không
                máu rất đỏ nhưng hồn bầm nhẫn nhục
                thẹn đong đầy từng bước lưu vong
                bữa cơm trưa quê người thứ nhất
                có thịt gà trứng vịt khoai tây
                cơm quá khô thầm chan nước mắt
                nuốt nửa chừng, mửa lạnh bàn tay" (4 Giờ Tại Phi Trường Thái Lan-NNCN, tr. 31-2)


                Bắt đầu cuộc đời mới, như cõng trên lưng nỗi nhọc nhằn :

                " ta cõng trên lưng cái thùng thật lớn
                còn nặng hơn cái tấm thân ta
                cố nghiến răng giữ cho khỏi ngã
                mỗi bước chân chếnh choáng như là..." (Nghề Nghiệp Mới, NNCN, tr. 74).

                Tâm trạng lưu xứ thường u uất, yếm thế đó hiển nhiên nhất trong tập Ngơ Ngác Cõi Người:

                ..."Ta thẹn làm người tự do viễn xứ
                ngó lại đời mình trùng điệp số không "

                " cánh chim nào chợt bay qua
                hồn chao động giọt mưa xa xót buồn "

                " ta khuyên ta buổi sáng
                ta dỗ ta buổi chiều
                chớp mắt gặp ác mộng
                đời cứ thế buồn thiu..." (NNCN tr 104)

                Trong tình huống không lựa chọn đó, nhà thơ hẹn sẽ về :

                "... cúi xin cây cỏ đừng thổn thức
                tôi sẽ trở về dù hóa ma" (NNCN tr 23).

                Thê thảm nào hơn, dù có khi nhà thơ lẩn thẩn tự hỏi

                ..." ví như ta được thành ta nữa
                thơ thẩn một đời lại thẩn thơ
                bài thơ mai mốt ra sao nhỉ
                có đỡ xót xa hơn bây giờ ?"

                Một nơi rất xa quê, mà khoảng cách-ly chính trị, xã hội có thời rất là xa, nơi đó, nhà thơ nghĩ gì? sống ra sao? Hãy xem Ta Phỏng Vấn Ta, một bài thơ đặc biệt về hình thức thơ (- tiền thân của Tân hình thức, Rap !) lẫn nội dung tự phỏng vấn hỏi lấy mình :

                " (hỏi : ) nghe đồn ngươi rất lè phè
                nằm ngồi đi đứng cặp kè với thơ
                lâu ngày lâm bệnh ngẩn ngơ
                làm thơ đổi cái dật dờ đó chăng ?

                (trả lời: ) cái ta có thể thưa rằng :

                ... ham chơi lười biếng, nói năng vụng về/ tĩnh khô mà gỉa như mê/ phơi thân che bóng đi về phất phơ/làm thơ là để phỉnh phờ/cái phần đã chết mà ngờ sống luôn/ làm thơ nhiều lúc như tuồng/ đi quanh một chặp giải buồn vậy thôi/ tình theo chữ thở trăm lời/ hồn theo tình mở một trời nguyệt hoa / làm thơ là để lân la/ chui từ cái nhớ chui qua cái buồn/làm thơ là để bình thường/ cái ta cứ thích đứng đường ngó em/làm thơ là để lênh đênh/ trên giòng rảnh rỗi chợt quên mất mình/ làm thơ là để làm thinh/im nghe ta tự tỏ tình với ta/ làm thơ là để dần dà/ trở thành ông thánh hóa ra ông khùng/làm thơ là sống ung dung/ để cho óc khỏi lùng bùng nôỉ điên/làm thơ là có đủ quyền/ ba hoa tưởng tượng đã ghiền mới thôi/với ta, thơ như bầu hơi/của hai lá phổi lôi thôi thở hoài/ ngày nào thơ chẳng lai rai/kể như ngày đó coi mòi muốn đau/ ..."

                Nơi đất người, chốn bình yên, nhà thơ thấm thía cuộc sống Ngày Qua Ngày, tự thán, tự vọng :

                "1.
                phải chi có con kiến / hay một hai con ruồi
                ngồi nhìn chơi đỡ nhớ / đỡ lẩn thẩn ngược xuôi
                ra đường mặt ngơ ngác / về nhà ngồi buồn xo
                đắp mền nằm nghe nhạc / trong bụng đầy âu lo
                thơ người đọc không nổi / thơ ta, ồ dở òm
                hình ảnh thô, từ mộc / quờ quạng mãi phát nhàm
                cúi đầu hoài đất mỏi / ngẩng mặt mây ủ ê
                không người mà nghe gọi / ừ, thì mai ta về

                2.
                ước chi có con muỗi / cho hút bớt máu buồn
                ước chi ai gõ cửa / ta tặng đời ta luôn
                bạn ,thằng vừa được job / tối mặt mũi kiếm tiền
                đôi ba thằng lay off / lang thang làm thánh hiền
                thùng thư ngày ngày rỗng / bóng mẹ mờ mịt mờ
                nửa đêm mơ giài phóng / thở dài đến bao giờ ?
                ngày qua ngày nhai lại / cơm thịt nuốt không vô
                ngọn cây sầu xanh mãi / chùn bước đời ngựa ô" (NNCN, tr. 42-43)

                Luân-Hoán cho người đọc thơ những tường trình về cuộc sống thường nhật của ông, nào đi kiếm việc, đi làm, đi ngao du phố phường bằng xe buýt, "ngồi lê" các quán phở, tiệm ăn Việt Nam, Tây, rồi nào giặt đồ, dọn nhà, đám cưới con gái, v.v.

                "Ngồi lê" ở quán phở Hòa, Mai, Huế, .. nghe tiếng hát Hoàng Oanh mà nhớ Sài-Gòn "vài trái ớt ít giọt chanh / vì cay hay nhớ long lanh lệ trào?" (NNCN tr 102)

                Đi kiếm việc, mệt ngồi nghĩ bên đường :

                "lên đồ đi kiếm job / từ mờ sáng đến chiều / job nào cũng hứa gọi / mỏi chân ngồi đăm chiêu / (...) giữa giòng người qua lại / một mình ta nghỉ chân / lật bản đồ tìm tiếp / những đoạn đường phong trần ..." (Mỏi Chân Ngồi Bên Đường Saint-Denis, NNCN tr. 71-2).

                Rồi không xa con lộ nghỉ, nhà thơ ta cũng tìm ra job :

                " ... sáng đi như đuổi ma, / chiều về như ma đuổi / người hai chân bôn ba / ta cẳng rưỡi giong ruỗi / cái bị nặng bên vai :/ bánh mì kẹp thịt nguội / trái pomme thay củ khoai / lon Seven-Up lạnh / lên bus, métro / đứng ngồi ta nhắm mắt / chẳng muốn thấy muốn nghe / còn gì sợ mất mặt?..." (Đi Làm Cu Li ở Đường Iberville, NNCN, tr. 73).

                Tìm được job, nhưng đến ngày Mùng Một Tết Ta, ở xứ người rơi vào bất cứ ngày nào, nhà thơ ta cũng phải ở nhà ăn Tết, job tạm bỏ một bên :

                "cho dù chúng có đuổi ông / hôm nay ông cũng ngồi không ở nhà / cho dù Tết chẳng ghé qua / vợ chồng con tụm đổi quà chúc nhau / mở chai rượu lạnh đã lâu / phá giới ông uống cho đầu óc quay..." (NNCN, tr. 82).

                Cuộc đời mới với vai-trò xã hội, thứ bậc đổi thay như vừa nói qua cũng như đã thấy trong bài Ta Phỏng Vấn Ta ở trên. Còn job ngày ngày đưa con đi học :

                "Xe bus vàng sẽ đưa con đến lớp / sáng hôm nay trời ẩm ướt hơi mưa / cây còn lá nhưng đã buồn đôi chút / cỏ bên đường cũng chớm úa lưa thưa ..." (Theo Chân Lê Ngọc Hoàng Bách, NNCN tr. 62).

                Thiên nhiên, cảnh trí cũng đượm tâm tình con người đã "chớm úa lưa thưa". Rồi Giặt Áo Quần Cho Vợ, Luân Hoán đã viết những câu thơ nhân-sinh thật đẹp :

                "trộn tình ta vào trong bột giặt
                vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau
                vải còn đượn mùi thịt da em thơm ngát
                tay bùi ngùi như đang vuốt ve nhau
                trông thau nước đục lờ những cáu bẩn
                ta bỗng thương lớp bụi nổi màng màng
                chúng là những nhọc nhằn em gánh chịu
                nuôi chồng con dài năm tháng gian nan
                vòi nước nhỏ chảy qua từng thớ vải
                như chảy vào trong cùng tận lòng ta..." (NNCN, trang 67).

                Con người lưu đày với tật bệnh đời sống lại càng khó hơn và càng phải nhiều cố gắng. Nhà thơ nói đến Hạnh Phúc Ta của tình cảnh một chân :

                "ta đã từng nói trước / qua đây là bó tay / một chân làm sao chạy / theo cái đời lăn quay / ngồi không, ừ, sướng lắm / mỉa mai hoài làm chi / sống liều mạng vẫn sống / ta chừ có ra gì / và cơm cùng nước mắt / cúi mặt sợ em buồn / cổ ta không ai bóp / ăn bánh mì mắc xương ..." (NNCN tr. 51).

                Bi hoài hơn Tú Xương sông Vị ngày xưa !

                Có lúc nhà thơ cũng liều xin vợ hiền tí tiền uống bia nuôi cái ngông buồn xa xứ, dĩ nhiên nào có được yên :

                "xin vợ dăm cents lẻ / dồn mua bia uống chơi / một mình ta một chiếu / xem ra vẫn thảnh thơi / bia chua hay bia đắng / nốc cạn cái cuộc đời / tại sao em đập chén / trong hồn ta em ơi / rảnh rỗi sao không viết / ngơ ngác cõi quê người / tiến lên thì bất lực / ngó lại hết đường lui / cái cần ta không đạt / cái đạt người không cần / lỡ tay đời thầy thợ / ước gì mọc lại chân / thì thôi, thôi cứ uống / không say thì gỉa say / hết bia còn nước lã / chơi cho đời biết tay" (Một Chiếu, NNCN tr. 54).

                Cuộc sống không bao giờ nguôi ngoai những trăn trở, âu lo :

                "... nợ nước nợ nhà chưa trả / sợ chi cái thứ nợ say / năm bảy chén sầu cạn sạch / mặt mày như thịt heo quay / rung đùi đọc thơ Nguyễn Bính..." (Bắt Chước Viết Hành Ca Lưu Vong, NNCN, tr. 98).

                Thơ tự nhiên, làm như "cuộc sống mình càng giàu khó khăn thì càng phải hành hạ chữ nghĩa nhiều hơn" như nhà thơ có lần trả lời tạp chí Văn Học (115, 11-1995, tr. 74).

                Cuộc sống lúc nào cũng dày đặc nỗi lo sợ đánh mất con người thực của mình. Mới ba năm lưu xứ mà đã dài như lâu lắm :

                "ba năm lạng quạng xứ người / soi gương già khọm như mười mấy năm / thì ra sữa thịt lùi chân / trước anh địch thủ ngàn cân buồn phiền" (Thơ Mùa Xuân Con Rồng, NNCN, 106),

                vì từng ngày đã là những đoạn đường dài :

                "đêm dài dài dằng dặt / thức đái thức đái hoài / nước gì trong đôi mắt / thỉnh thoảng giọt giọt dài" (Gọi Tên Bạn Bè, NNCN, tr. 58).


                Sau ba năm ở Montréal, nhà thơ Nghêu Ngao Giữa Lòng Montréal chiếm một phần lớn số trang (tr. 34-118) của Ngơ Ngác Cõi Người, có thể xem là một kỷ lục. Luân Hoán đã thở vào đất đai, cây lá nơi ông đã chịu ơn. Hơi thở Việt Nam tìm được nơi "được cười được nói được than thở" :

                "đứng hát giữa lòng Montreal
                trời xanh trời xanh trời quá xanh
                có con chim nhỏ bay trong nắng
                chở cả lòng tôi bay quẩn quanh
                bỗng tưởng chừng như máu tim ta
                đỏ hơn thời tù tội quê nhà
                phải chăng chớm nở mầm vong bản
                nhục nước phai vì bả vinh hoa
                và tưởng chừng như Montreal
                có ta cây cỏ càng thêm xanh
                ba năm hồn rót vào thớ đất
                góp cả buồn vui cho lá cành
                và tưởng chừng như mây khói bay
                có hơi ta tiếp nối vơi đầy
                được cười được nói được than thở
                không thể không yêu xứ sở này..."
                (Nghêu Ngao Giữa Lòng Montréal, tr. 115-117)

                Thấm thía cuộc đời xa xứ, với những bằng chứng vật lý của thời gian:

                "Chiều thứ sáu về sớm hơn thường lệ
                em ôm hôn như thuở mới yêu nhau
                thua cháy túi riêng cuộc tình đúng lại
                giữ cho lòng gắng đứng tiếp hôm sau
                trong tha thiết vang lời em kunh ngạc:
                ồ cái gì như tóc bạc, đầu anh

                (...) không đâu em, chúng chính là đá trắng
                đang xây dần phần mộ của riêng ta
                hoa ngập nước lâu ngày đành phải rã
                hồn ngấm sầu lâu quá phải phôi pha
                luật trời đất có sinh có tử
                sá chi ta mới chớm trổ sắc gìa
                đời sống bám vinh danh gì nuối tiếc
                kéo dài chi kiếp bỏ nước không nhà

                (...) tóc chớm bạc nhưng hồn sầu đã bạc
                xin nhẹ tay, ta nghe nhói cơn đau" (Bạc Tóc, tr. 68-9)

                Điệu buồn đến gần đây, 2003, vẫn còn đó, đậm hơn, sâu hơn, như trong bài Luận Về Nỗi Buồn ông gọi là "thơ viết chơi" đăng trên trang Luân-Hoán Internet :

                "em muốn được xem nỗi buồn ta ?
                nỗi buồn ta có từ hôm qua
                cọng thêm chừng độ mươi năm trước
                tưởng chẳng bao nhiêu hóa ra là...

                (...) buồn là buồn là buồn, buồn, buồn
                buồn tình nhập lại với buồn suông
                hỡi ơi hạnh phúc ta giàu vậy
                giàu vậy dại chi không dám buồn
                em cầm đã được một làn hương ?"

                Người đọc vẫn yêu thích những bài thơ tình của Luân-Hoán, là lãnh địa của chàng, nơi chàng trai xứ Quảng quen lời ăn tiếng nói, quen hành cử phóng túng tình tang! Nơi xứ người, ông vẫn đa tình, da diết, vẫn nhiều vần thơ cho tình, nhưng người đọc thơ tình ông thì lại như hụt hẫng, vì hình như thời gian và không gian của tình đã qua, đã không trở lại, nếu có chăng cũng không trọn vẹn, tự nhiên!

                Nhà thơ tình xứ Quảng, của Đà Nẵng, sau 1985, Luân Hoán đã dệt những vần thơ lưu xứ đậm tình người, những điệu rất thơ, rất Việt Nam ở chỗ bi thương, những "lưu bút" đáng kể của một trang sử Việt !

                So với trước 1975, đây là một thế giới thơ đứt đoạn. Nhà thơ thuộc thế hệ tị nạn tiếp sau thời những "người di tản buồn", rồi vốn đã lâu ăn ở trong ngôn ngữ dân tộc nhuần nhuyễn, thơ từ đời sống lưu thân càng "sung túc" thêm và chỗ đứng trên thi-đàn đã là điều hiển nhiên. Nếu "phân tích" hết các tác phẩm thơ thời sau của ông, giữa những chằng chịt tâm thức, tình cảm, người đọc sẽ tìm ra một xuyên suốt có tính sáng tạo, ở ngôn ngữ, tiết điệu, hình ảnh, ở cả lối kể lể có thể hiểu là "lắm lời" - oan khiên của nỗi nhớ và của đời xa!

                Thật vậy, ở văn chương gọi là lưu vong đó, cái thực hữu, cái thực sống, phải chăng chỉ là thế giới của ký-ức, của quá khứ ? Luồng điện ý thức đó đưa con người trở về quá vãng, đưa đến những tâm tình với hồn ma bóng quế, những con đường, góc phố đã đổi tên, đổi chủ. Tính thơ xuất hiện ở giữa những dòng chữ đó, xuất hiện từ ký ức và sáng tạo pha trộn. Mà thế giới cũng trở nên có ý nghĩa, nhờ chức năng của thi ca và sáng tạo! Nhà thơ có thành công hay không là ở tài truyền thông cái sáng tạo mới từ chất liệu hồn cũ này!

                Sống đời lưu xứ, đọc thơ Luân-Hoán như tìm tâm sự chính mình, vẫn là một cái thú tinh thần còn lại! Thành thử, cùng Cao Đông Khánh và Du Tử Lê, Luân Hoán đã thành công biến Cõi Người Ngơ Ngác thành thơ và đưa tính thơ vào kiếp lưu vong ngày càng rời xa một vùng địa-lý và một trời quá khứ !


                Tác giả: Nguyễn Vy Khanh
                [url="http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=255&ia=1935 "][COLOR=black] 404 Not Found

                Comment

                Working...
                X
                Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom