• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

HUẾ và THƠ

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • HUẾ và THƠ

    HUẾ và THƠ




    Vua Thiệu Trị từng sáng tác hai mươi bài thơ mô tả hai mươi cảnh đẹp ở Huế, gọi là “Nhị Thập Thần Kinh Thắng Cảnh”, trong tập “Thiệu Trị Ngự Chế Thi Tập” (Tập thơ do vua Thiệu Trị làm ra). Sau đây là 5 bài thơ tả cảnh Huế, tiêu biểu nhất, trong hai mươi bài thơ nói trên.

    I. HƯƠNG GIANG HỮU PHIẾM

    Nhất phái nguyên uyên hộ đế thành
    Thanh lưu sấn tảo nhạ lương sinh
    Ba bình xuân thủy lung yên sắc
    Chu trục thần phong động lỗ thanh
    Thiên tửu vị can nhu ngạn thọ
    Sơn hoa do luyến kết vân anh
    Phiếm hồi vị yết Thương lang khúc
    Đông khuyết phương thăng thụy nhật minh.

    SÔNG HƯƠNG SÁNG DẠO THUYỀN

    Một dải sông sâu bọc Đế thành
    Dòng trong hây hẩy gió mai lành
    Lặng yên sóng khói xuân lồng sắc
    Xao tiếng chèo bơi gió giục nhanh
    Cây bến láng lai đầm móc ướt
    Hoa rừng lưu luyến quyện vân anh
    Thuyền về khúc hát còn dang dở
    Cửa khuyết trời đông đã sáng banh.

    II. THIÊN MỤ CHUNG THANH

    Cao cương cổ sát trấn điền xuyên
    Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên
    Bách bát hồng thanh tiêu bách kết
    Tam thiên thế giới tỉnh tam duyên
    Tăng hoằng ngọ nhật u minh cảm
    Liêu lượng dần tiêu đạo vị huyền
    Phật tích Thánh công thùy hải vũ
    Thiện nhân tăng quả phổ cai diên.

    TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ

    Trên bến gò xưa chùa lập ra
    Bên trời tự tại mãi Gương Nga
    Tiếng ngân trăm tám tan trăm oán
    Thế giới ba ngàn giải nợ ba
    Chuông động giữa trưa miền tối ám
    Kinh gieo canh sớm đạo tăng gia
    Truyền công Phật Thánh tràn non nước
    Nhân quả ươm lành khắp chốn xa

    III. TỊNH HỒ HẠ HỨNG

    Trừng luyện hàm không nhất vọng xa
    Thiềm nha ảnh thủy trám tinh hà
    Lâu đài hoa thụ trường sinh cảnh
    Thiên địa sơn hà tứ hải gia
    Vũ phiến mạn giao thi hóa nhật
    Thuấn cầm uyển nhĩ nhập thi ca
    Y nhiên nhân trí tình vô hạn
    Đồng lạc giao phu thảo vật gia.

    HỨNG HÈ HỒ TỊNH

    Hồ nước mênh mông lướt mắt qua
    Thềm hiên in bóng loáng ngân hà
    Cây hoa lầu gác lâu dài cảnh
    Trời đất non sông bốn bể nhà
    Quạt Vũ chẳng dùng che bóng nhật
    Khúc Nam chừng lắng lẫn thi ca
    Nẩy sinh nhân trí tình lai láng
    Cây cỏ cùng thêm vui với ta.

    IV. THUẬN HẢI QUI PHÀM

    Hải bất dương ba tịch chiếu quang
    Viên thành kiệt các thiếu trùng dương
    Tịch phiêu hảo tiếp tranh hoa điệp
    Chu sử hân khan trạch mộc sương
    Cẩm lãm phi hồng phao hán biểu
    Nha tường tỷ tiết trục thương lang
    Khấu huyền khoản khoản thanh thanh khởi
    Giai thị thời điều kỷ thắng chương.

    BUỒM VỀ BIỂN THUẬN

    Rực ánh trời chiều sóng lặng yên
    Tròn xây gác lớn biển xa nhìn
    Thuyền giong mừng đón giành hoa bướm
    Ghe chạy vui trông đỗ nhánh chim
    Đuổi ngọn sóng xanh buồm sát cột
    Giăng khơi vòng mống sợi neo lên
    Nhịp đàn thánh thót từng âm hưởng
    Lừng lẫy thời danh khúc điệu tiên.

    V. BÌNH LÃNH ĐĂNG CAO

    Nguy nga bảo chướng đế thành nam
    Giai tiết đề cao ức thắng đàm
    Dịch liễn quang lâm tư sáng thủy
    Vũ trường tiên suất hiệu hô tam
    Thừa ân vũ trụ thiên niên tại
    Túng lãm càn khôn vạn cảnh hàm
    Bách nhị sơn hà tăng tráng cố
    Vân khai thụy khí ái tình lam.

    ĐỈNH NGỰ LÊN CAO

    Thành nam một ngọn đẹp vô ngần
    Nhớ tiết trùng dương chuyện đặt vần
    Lên viếng chuyến đầu xe một buổi
    Dân hô rượu múa tiếng ba lần
    Đất trời muôn cảnh thu đầy mắt
    Vũ trụ ngàn năm hưởng được ân
    Sông núi hai phần trăm vững giữ
    Mây bừng khí vượng quyện non xuân.
    Thiên Nhất Phương dịch

    CHÚ THÍCH:

    Bài I.-

    - Vân anh: chất khoáng trắng ánh sáng thấu qua được tựa như pha lê.
    - Đông khuyết: cửa khuyết (hoặc cung khuyết) ở phía đông, nơi vua ngự để các quan đến chầu.

    Bài II. - Nguyệt tướng: chỉ mặt Phật tròn như mặt trăng.

    - Tự tại: vẻ thỏa thích.
    - Bách bát: Các chùa sớm chiều thường đánh 108 tiếng chuông, để tiêu 108 điều phiền não.
    - Tam duyên: Ba cái duyên trong thuyết 12 nhân duyên của nhà Phật mà yếu tố chính là: Ta, Người, Sinh vật.

    Bài III. – Vũ phiến: quạt lông. Cũng có nghĩa là quạt của vua Vũ, đời nhà Hạ (Trung Hoa), người có tài trị thủy.

    - Thuấn cầm: đàn của vua Thuấn (thời cổ đại Trung Hoa) dùng gảy khúc Nam phong (gió mát).
    - Nhân trí: chữ trong sách Luận ngữ: nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thủy: người có nhân ưa núi, người có trí ưa nước.
    Bài V. Giai tiết đề cao: làm thơ để vịnh nhân tiết
    - Trùng dương (mồng 9 tháng 9). Tiết nầy, người ta thường lên núi thưởng cúc nở hoa và ngâm vịnh.
    - Tư sáng thủy: (nay lần đầu): xe vua lên núi lần đầu.
    - Hiệu hô tam: (hô ba lần): khi vua đến quan quân hô vạn tuế ba lần.
    - Bách nhị sơn hà: (Sông núi hai phần trăm): Lấy điển tích nước Tần có địa thế hiểm yếu, với hai vạn người có thể chống lại trăm vạn địch quân


    Tác giả: Thiên Nhất Phương
    Similar Threads
Working...
X
Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom