• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Bản di chúc của vua Trần Nhân Tông

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Bản di chúc của vua Trần Nhân Tông

    Bản di chúc của vua Trần Nhân Tông

    Trần Nhân Tông ( 陳仁宗; 1258 – 1308), tên thật là Trần Khâm (陳昑) là vị vua thứ ba của nhà Trần (sau vua cha Trần Thánh Tông và trước Trần Anh Tông) trong lịch sử Việt Nam.

    Ông ở ngôi 15 năm (1278 – 1293) và làm Thái Thượng hoàng 15 năm. Ông là người đã thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy pháp hiệu là Đầu đà Hoàng giác Điếu ngự. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam.

    Sau khi nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, ông xuất gia tu hành tại cung Vũ Lâm, Ninh Bình, sau đó rời đến Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lấy đạo hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng (hay Trúc Lâm đầu đà). Ông là tổ thứ nhất của dòng Thiền Việt Nam này. Về sau ông được gọi cung kính là “Phật Hoàng” nhờ những việc này.

    Ông qua đời ngày 3 tháng 11 âm lịch năm 1308, được an táng ở lăng Quy Đức, phủ Long Hưng, xá lỵ cất ở bảo tháp am Ngọa Vân; miếu hiệu là Nhân Tông, tên thụy là Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Võ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế.

    Ông đã để lại bản di chúc dặn dò con cháu, cũng là lời dặn dò cho muôn đời hậu thế nước Việt, gần ngàn năm qua vẫn còn nguyên chân giá trị!



    "Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo.

    Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo.

    Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là hoạ nước Tàu.

    Chớ coi thường chuyện vụn vặt nảy ra trên biên ải.

    Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn.

    Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước.

    Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.

    Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta.

    Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta

    từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.

    Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn :

    "Một tấc đất của Tiền nhân để lại,
    cũng không được để lọt vào tay kẻ khác".

    Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu".

    Similar Threads
  • #2

    Trước hiểm họa bành trướng của giặc Tàu, đã sinh ra làm người Việt, là con Cháu Họ Hồng Bàng, tất cả chúng ta đều biết rõ lịch sử của Tàu là một quá trình xâm lăng

    Tàu tự cho mình là ''Trung Hoa'' (hoa nằm ở giữa) ! Tôi nói với mấy ông Tàu khoác lác: ''Hoa nằm ở giữa ít được người ngắm. Các ông muốn gom các hoa khác làm thành một BÓ và nước các ông là hoa ''bị nằm'' ở giữa. Vậy thì ''Trung Hoa trúng họa'' mất rồi vì các Hoa khác bao vây Hoa ở giữa, làm Trung Hoa ngộp thở, kêu Trời không thấu !''
    Bản chất tồi tệ của nhiều người ''Trung Hoa Cộng Sản'', mà tôi đã gặp, thể hiện rõ nét qua cách nói năn, ăn uống ở nhà hàng, ngoài đường phố làm người bản xứ coi thường họ. Từ sáng sớm và vào đêm khuya, họ chụp hình mẫu mã trong các cửa hàng để về nhái lại, mà không biết xấu hổ. Trong quán ăn, hằng chục người gọi cơm thì nhiều, món ăn lại ít. Canh thì họ ''kêu'' cả thau nhựa, toàn rau, không cá, thịt, chỉ cần dầu và gia vị. (Nhân đây, tôi xin lỗi những bạn tốt của tôi là người Hoa đã sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Các bạn không giống người Hoa thuộc ''phạm trù'' vừa nêu.)
    Còn chuyện chính trị thì xin Đồng Bào ghi vào máy hàng chữ ''Trung Quốc Hăm Tát Việt Nam Vỡ Mặt'' để nghe tên Tàu răng hô ''bố láo'' trên đài.
    Để thấy rõ bản chất tham tàn của giặc Tàu, kính mời Đồng Bào đọc lại Di Chúc của Vua Trần Nhân Tông lột mặt nạ họ và dạy chúng ta như sau:

    ''Các người chớ quên ! Nghe lời Ta dạy: Chính nước lớn làm những điều bậy bạ TRÁI ĐẠO LÀM NGƯỜI, bất nghĩa, bất nhân, ỷ nước lớn, tự cho mình cái quyền ăn nói ! Nói một đường làm một nẻo ! Vô luân ! Chớ xem thường chuyện nhỏ ngoài biên ải. Chuyện vụn vặt thành lớn chuyện: NGOẠI XÂM ! Họa Trung Hoa ! Tự lâu đời truyền kiếp ! Kiếm cớ này, bày chuyện nọ ! TÀ MA !Không tôn trọng biên cương theo quy ước, tranh chấp hoài ! Không thôn tính được ta, chúng gậm nhấm Sơn Hà và Hải Đảo. Chớ xem thường chuyện vụn vặt Chí Nguy ! Gặm nhấm dần Giang Sơn ta nhỏ lại. Tổ ĐẠI BÀNG thành cái tổ chim di. Các việc trên khiến Ta đây nghĩ tới canh cánh bên lòng " ĐẠI SỰ QUỐC GIA "! Chúng kiếm cớ xua quân qua ĐẠI VIỆT, biến nước ta thành quận huyện Trung Hoa !
    VẬY NÊN, CÁC NGƯỜI PHẢI NHỚ LỜI TA DẶN: KHÔNG ĐỂ MẤT MỘT TẤC ĐẤT CỦA TIỀN NHÂN ĐỂ LẠI. HÃY ĐỀ PHÒNG QUÂN ĐẠI HÁN TRUNG HOA ! LỜI NHẮN NHỦ CŨNG LÀ LỜI DI CHÚC CHO MUÔN ĐỜI CON CHÁU NƯỚC NAM TA.'' (Tôi sao lại Di Chúc và đưa các chữ vào nằm thành hàng dài. Xin thông cảm cho tôi.)

    Là người Việt sống xa Quê Cha, Đất Tổ, nhân đọc bài ''Mühsam Die Muttersprache Gelernt'' và, sau khi dịch ''nó'' sang tiếng Việt: ''Vất Vả Học Tiếng Mẹ Đẻ'', tôi làm bài thơ dưới đây để dạy con biết hãnh diện mình là người có Cội Nguồn, Văn Hóa và Lịch Sử oai hùng.
    Xin kính tặng Đồng Bào bài thơ ấy:

    NẾU AI HỎI CON

    Nếu ai hỏi con: '' Bạn là người gì ? ''
    Con đừng mạo nhận Tàu, Nhật làm chi !
    Dù con có đi từ Á sang Phi,
    từ Âu sang Úc hay Bắc, Nam Mỹ,
    con vẫn là người Việt Nam cao quý
    nối gót Ông-Cha: Hậu Sinh khả úy
    như Trần Bình Trọng dõng dạc, uy nghi
    chỉ mặt Thoát Hoan bằng giọng khinh khi:
    ''Ta thà làm quỷ Nước Nam tuyệt mỹ
    hơn làm Bắc Vương là cái thá chi !''

    Lịch Sử Việt Nam: Bài Học Luân Lý
    dạy làm người Việt biết câu Liêm Sĩ
    Xưa Kha-luân-bố tìm ra Châu Mỹ
    vẫn luôn tự hào mình là người Ý !
    Con có Tổ Tiên Anh Hùng, Chí Sĩ
    Văn Hiến sáng ngời mấy mươi thế kỷ,
    Dòng Giống Lạc Hồng quật cường, chí khí
    như Vua Quang Trung rượt Tôn Sĩ Nghị,
    hai mươi vạn quân tan tành, thoái chí !
    Nơi gò Đống Đa: mồ chôn giặc phỉ !

    Con hãy đọc lại Văn Học, Sử Ký,
    nghiên cứu cặn kẽ, rõ ràng, tỉ mỉ
    Bộ Lạc sơ khai tên là Giao Chỉ,
    ''Con Rồng, Cháu Tiên'' đồng tâm, nhất trí,
    đoàn kết, yêu thương, miệt mài, chăm chỉ,
    nam, phụ, lão, ấu biết rõ tôn ti ...
    Dòng Giống Lạc Hồng qua bao thế kỷ
    không hề nao núng, vẫn luôn kiên trì
    chống giặc ngoại xâm hiển hách, thần kỳ !
    Thế Giới ngưỡng mộ, nhận ra nguyên lý:
    ''Tang bồng hồ thỉ: tôn chỉ nam nhi''!

    Lịch Sử Việt Nam: Bài Học Tâm Lý
    con không tìm hiểu nào có khác chi
    ''vong ân, bội nghĩa, vô giác, bất tri,
    vô tri: bất mộ, đồng hóa thị phi,
    vô học: bất tri hư, thực, sâm si ! ''
    Mẹ dạy cho con luân thường, đạo lý
    để một mai kia dù là Tiến Sĩ
    nhớ lời mẹ dạy đang lúc xuân thì:
    ở cho phải Đạo, có tình, có lý !
    Là nhà khoa học không có lương tri,
    con sẽ như người mọi rợ, man di !
    Con học để rồi yêu chân, thiện, mỹ,
    biết rõ cội nguồn Quê Hương hùng vĩ,
    Người Bắc, Trung, Nam mũi tẹt, da vàng
    Dòng máu Văn Lang của Họ Hồng Bàng !

    Nếu ai hỏ con: ''Bạn từ đâu sang ? ''
    Con đừng mạo nhận Đài loan, Hương Cảng !
    Họ đâu có được cảnh chiều Đèo Ngang,
    Bà Huyện Thanh Quang hồn thơ lai láng !
    Họ không có được Vua ''Bạch Đằng Giang''
    Hưng Đạo, Ngô Quyền đuổi giặc ngoại bang !
    Họ không thấu được nỗi buồn mênh mang
    của Hàn Mặc Tử bên dòng Hương Giang,
    những chuyến đò êm, mái đẩy nhịp nhàng
    chở trăng lả lơi, du khách mơ màng !
    Quê Hương của con là Huế, Nha Trang,
    Saigòn, Hà Nội, Phan Rí, Phan Rang
    Chùa Hương, Thiên Mụ, hay Phá Tam Giang...,
    tiếng hò giã gạo những đêm trăng sáng,
    ruộng lúa, nương khoai, cây đa đầu làng,
    những cô thôn nữ môi cười duyên dáng,
    mối tình chung thủy, chinh phụ nhớ chàng
    bồng con lên núi, nước mắt hai hàng,
    biến thành tượng đá, mây phủ là tang !

    Huyền Thoại Việt Nam có mẹ cưu mang
    ''đồng bào trăm trứng'' nở ra trăm chàng !
    Năm mươi lên núi xây dựng nhà sàn;
    năm mươi xuống biển, khai phá, mở mang
    những vùng đất hoang, tô thắm Giang San !
    Quê Hương Việt Nam là gương ngời sáng,
    có Lý thường Kiệt, có Huỳnh Thúc Kháng,
    có Đinh Bộ Lĩnh phất ngọn cờ lau !
    Sử Địa mến yêu con phải thuộc làu,
    yêu dãy Trường Sơn trùng diệp, xanh màu,
    yêu mái nhà tranh, nải chuối, buồng cau ...
    Quê Hương của con là mũi Cà Mau
    có Ải ''Bắc'' * Quan là cửa sang Tàu,
    Đồng Tháp mênh mông, gió lộng Vũng Tàu
    cụ già chống gậy, mái đầu bạc phau,
    giọng hò của mẹ ru con ngủ mau,
    là dòng sữa ngọt ''như đường mía lau'',
    là đồng lúa chín, biển xanh rì rào...

    Nếu ai hỏi con: '' Bạn người nước nào ? ''
    Con đừng mặc cảm, mà phải nói láo !
    Quê Hương của con là các Anh Hào
    tô điểm Non Sông bằng chính máu đào,
    là công sinh thành, nuôi con tần tảo,
    cải lương, hát bộ, tục ngữ, ca dao,
    là Bắc, Trung, Nam, tình cảm dạt dào !
    Hãy đứng lên đi, toàn thể Đồng Bào,
    đuổi giặc xâm lăng là quân vô đạo !
    Phan văn Phước
    "ST"

    Comment

    Working...
    X
    Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom