• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN

    TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN

    “Tăng quảng hiền văn” bao gồm nhiều ngạn ngữ dân gian phản ánh đời sống tâm lý của người dân Trung Quốc trong xã hội xưa, là sự thể hiện tư tưởng của Nho Giáo, Đạo Giáo, Lão Giáo.

    “ Tăng quảng hiền văn “ gồm 350 câu.



    1 昔時賢文,誨汝諄諄,集韻増廣,多見多聞
    昔时贤文,诲汝谆谆,集韵增广,多见多闻。
    Tích thì hiền văn, hối nhữ truân truân, tập vận tăng quảng, đa kiến đa văn.
    Lời hay thuở trước, răn dạy chúng ta, theo vần cóp nhặt, hiểu biết rộng ra.



    2 觀今宜鑒古,無古不成今。
    观今宜鉴古,无古不成今。
    Quan kim nghi giám cổ, vô cổ bất thành kim.
    Xem nay nên xét xa xưa, ngày xưa chẳng có thì giờ có đâu.


    3 知己知彼,將心比心。
    知己知彼,将心比心。
    Tri kỷ tri bỉ , tương tâm tỷ tâm.
    Biết mình phải biết người ta, đem lòng mình để suy ra lòng người.


    4 酒逢知己飲,詩向會人吟。
    酒逢知己饮,诗向会人吟。
    Tửu phùng tri kỷ ẩm, thi hướng hội nhân ngâm.
    Gặp người tri kỷ ta nâng cốc, thơ chỉ bình ngâm mới bạn hiền.


    5 相識滿天下,知心能幾人。
    相识满天下,知心能几人。
    Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân.
    Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người.


    6 相逢好似初相識,到老終無怨恨心。
    相逢好似初相识,到老终无怨恨心。
    Tương phùng hảo tự sơ tương thức, đáo lão chung vô oán hận tâm.
    Gặp lại vui như ngày mới biết, chẳng chút ăn năn trọn tới già.


    7 近水知魚性,近山識鳥音。
    近水知鱼性,近山识鸟音。
    Cận thủy tri ngư tính, cận sơn thức điểu âm
    Gần nước biết tính cá, gần núi hiểu tiếng chim


    8 易漲易退山溪水,易反易覆小人心。
    易涨易退山溪水,易反易覆小人心。
    Dị trướng dị thoái sơn khê thủy, dị phản dị phúc tiểu nhân tâm.
    Đầy nhanh rút chóng suối rừng, dễ dàng tráo trở là lòng tiểu nhân.


    9 運去金成鐵,時來鐵似金。
    讀書須用意,一字値千金。
    运去金成铁,时来铁似金,
    读书须用意,一字值千金。
    Vận khứ kim thành thiết, thời lai thiết tự kim.
    Ðộc thư tu dụng ý, nhứt tự trị thiên kim.
    Vận hội lỡ làng vàng hoá sắt, thời cơ may mắn sắt như vàng.
    Đọc sách nghiền ngẫm kỹ càng, một chữ đáng giá nghìn vàng hỡi ai.


    10 逢人且說三分話,未可全拋一片心。
    逢人且说三分话,未可全抛一片心。
    Phùng nhân thả thuyết tam phân thoại, vị khả toàn phao nhứt phiến tâm.
    Gặp nhau trò chuyện đôi câu, chớ nên gan ruột gót đầu phơi ra.


    11 有意栽花花不發,無心插柳柳成陰。
    有意栽花花不发,无心插柳柳成阴。
    Hữu ý tài hoa hoa bất phát, vô tâm sáp liễu liễu thành âm.
    Dụng ý trồng hoa hoa chẳng mọc, vô tâm cắm liễu liễu lên um.


    12 畫虎畫皮難畫骨,知人知面不知心。
    画虎画皮难画骨,知人知面不知心。
    Họa hổ họa bì nan họa cốt, tri nhơn tri diện bất tri tâm.
    Hổ vẽ da khó vẽ xương, con người biết mặt biết lòng làm sao.


    13 錢財如糞土,仁義値千金。
    钱财如粪土,仁义值千金。
    Tiền tài như phấn thổ, nhân nghĩa trị thiên kim.
    Tiền của như đất bên đàng, nhân nghĩa mới thực ngàn vàng trong tay.


    14 流水下灘非有意,白雲出岫本無心。
    流水下滩非有意,白云出岫本无心。
    Lưu thủy hạ than phi hữu ý, bạch vân xuất tụ bản vô tâm.
    Nước trôi cuối bãi đâu tình ý, mây tụ đầu non vốn tự nhiên.


    15 當時若不登高望,誰信東流海洋深。
    当时若不登高望,谁信东流海洋深。
    Đương thời nhược bất đăng cao vọng, thùy tín đông lưu hải dương thâm.
    Chẳng đứng cao để ngắm trông, nào ai tin được biển Đông sâu vời.


    16 路遙知馬力,事久見人心。
    路遥知马力,事久见人心。
    Lộ dao tri mã lực, sự cửu kiến nhân tâm.
    Đường xa biết sưc ngựa tài, việc lâu mới thấy lòng người dở hay.


    17 兩人一般心,有錢堪買金。
    两人一般心,有钱堪买金,
    Lưỡng nhân nhất ban tâm, hữu tiền kham mãi kim.
    Hai người khi đã thật lòng, có tiền nên sắm vàng ròng chả sao.


    18 一人一般心,無錢堪買針。
    一人一般心,无钱堪买针。
    Nhất nhân nhất ban tâm, vô tiền khan mãi châm.
    Mỗi người một dạ khác nhau, không tiền cũng cố mà cầu mua kim.


    19 相見易得好,久住難為人。
    相见易得好,久住难为人。
    Tương kiến dị đắc hảo, cửu trụ nan vi nhơn.
    Mới gặp nhau tốt dễ dàng, ở lâu chưa hẳn sẵn sàng vì nhau.


    20 馬行無力皆因瘦,人不風流只為貧。
    马行无力皆因瘦,人不风流只为贫。
    Mã hành vô lực giai nhân sấu, nhân bất phong lưu chỉ vi bần.
    Ngựa không sức chạy do gầy yếu, người chẳng phong lưu chỉ vì nghèo.


    21 饒人不是痴漢,痴漢不會饒人。
    饶人不是痴汉,痴汉不会饶人。
    Nhiêu nhân bất thị si hán, si hán bất hội nhiêu nhân.
    Người rộng lượng hẳn không si ngốc, kẻ si ngốc không thể rộng lòng.


    22 是親不是親,非親卻是親。
    是亲不是亲,非亲却是亲。
    Thị thân bất thị thân, phi thân khước thị thân.
    Chính người thân lại chẳng thân, chẳng người thân lại là thân mới kỳ.


    23 美不美,鄉中水,親不親,故鄉人。
    美不美,乡中水,亲不亲,故乡人。
    Mỹ bất mỹ, hương trung thủy, thân bất thân, cố hương nhân.
    Chẳng trong cũng nước ao nhà, chẳng thân cũng khách quê ta đó mà.


    24 鶯花猶怕春光老,豈可教人枉度春。
    莺花犹怕春光老,岂可教人枉度春。
    Oanh hoa do phạ xuân quang lão, khởi khả giáo nhân uổng độ xuân.
    Chim, hoa còn sợ ngày xuân hết, chẳng lẽ con người uổng phí xuân.


    25 相逢不飲空歸去,洞口桃花也笑人。
    相逢不饮空归去,洞口桃花也笑人。
    Tương phùng bất ẩm không quy khứ, động khẩu đào hoa dã tiếu nhơn.
    Gặp nhau chẳng cất chén mời, hoa đào trước động cười người về không.


    26 紅粉佳人休使老,風流浪子莫教貧。
    红粉佳人休使老,风流浪子莫教贫。
    Hồng phấn giai nhân hưu sử lão, phong lưu lãng tử mạc giáo bần.
    Má hồng người đẹp đừng già sớm, du tử hào hoa chớ có nghèo


    27 在家不會迎賓客,出外方知少主人。
    在家不会迎宾客,出外方知少主人。
    Tại gia bất hội nghinh tân khách, xuất ngoại phương tri thiểu chủ nhân.
    Ở nhà khách khứa chẳng mời, ra ngoài mới biết ít người mời ta.


    28 黃金無假,阿魏無真。
    黄金无假,阿魏无真。
    Hoàng kim vô giả, a ngụy vô chân.
    Không giả chỉ có vàng ròng, những kẻ nịnh hót đừng mong thật thà.


    29 客來主不顧,應恐是痴人。
    客来主不顾,应恐是痴人。
    Khách lai chủ bất cố , ưng khủng thị si nhân.
    Khách vào chủ chả ngó ngàng, e là kẻ đó thuộc hàng ngây ngô.


    30 貧居鬧市無人問,富在深山有遠親。
    贫居闹市无人问,富在深山有远亲。
    Bần cư náo thị vô nhân vấn, phú tại thâm sơn hữu viễn thân.
    Nghèo ở chợ đông không đứa hỏi, giàu nơi núi thẳm lắm người thăm.


    31 誰人背後無人說,哪個人前不說人。
    谁人背后无人说,哪个人前不说人。
    Thùy nhân bối hậu vô nhân thuyết, ná cá nhân tiền bất thuyết nhân.
    Ai vắng không nói chuyện người, thì trước người khác không ngồi nói ai.


    32 有錢道真語,無錢語不真。
    有钱道真语,无钱语不真。
    Hữu tiền đạo chân ngữ, vô tiền ngữ bất chân.
    Có tiền hễ nói người tin, không tiền nói chẳng ai tin câu nào.


    33 不信但看筵中酒,杯杯先勸有錢人。
    不信但看筵中酒,杯杯先劝有钱人。
    Bất tín đãn khán diên trung tửu, bôi bôi tiên khuyến hữu tiền nhân.
    Cứ xem bữa tiệc rượu mời, chén nào trước cũng chuốc người giàu sang.


    34 鬧里有錢,靜處安身。
    闹里有钱,静处安身。
    Náo lý hữu tiền, tĩnh xứ an thân.
    Chốn huyên náo dễ kiếm tiền, nơi tĩnh mịch giữ được yên.


    35 來如風雨,去似微塵。
    来如风雨,去似微尘。
    Lai như phong vũ, khứ tự vi trần.
    Đến như ào ạt gió mưa, khi đi sạch bóng như xua bụi trần.


    36 長江後浪推前浪,世上新人趕舊人。
    长江后浪推前浪,世上新人赶旧人。
    Trường giang hậu lãng thôi tiền lãng, thế thượng tân nhân hãn cựu nhân.
    Trường giang sóng sau dồn sóng trước, đời người mới phải đuổi theo xưa.


    37 近水樓台先得月,向陽花木早逢春。
    近水楼台先得月,向阳花木早逢春。
    Cận thủy lâu đài tiên đắc nguyệt, hướng dương hoa mộc tảo phùng xuân.
    Lầu gần mặt nước sớm trăng, cây gần ánh nắng chồi xuân nẩy nhiều.


    38 先到位為 君,後 到為臣 。莫道君行早,更有早行人。
    先到为君,后到为臣。莫道君行早,更有早行人。
    Tiên đáo vi quân, hậu đáo vi thần.
    Mạc đạo quân hành tảo, cánh hữu tảo hành nhân.
    Người đến trước được làm vua, người đến sau phải nhận thua làm thần.
    Chớ nói anh đi sớm, còn người đi sớm hơn.


    39 莫信直中直,須防仁不仁。
    莫信直中直,须防仁不仁。
    Mạc tín trực trung trực, tu phòng nhân bất nhân.
    Ngay trong ngay cũng đừng tin vội, mà hãy nên phòng nhân chẳng nhân.


    40 山中有直樹,世上無直人。
    山中有直树,世上无直人。
    Sơn trung hữu trực thụ, thế thượng vô trực nhân.
    Núi rừng còn có cây lên thẳng, ngay thẳng trên đời chẳng có ai.


    41 自恨枝無葉,莫怨太陽偏。
    自恨枝无叶,莫怨太阳偏。
    Tự hận chi vô diệp, mạc oán thái dương thiên (lệch lạc).
    Tự giận cành ta không nảy lá, chớ hờn ánh nắng mặt trời nghiêng.


    42 大家都是命,半點不由人。
    大家都是命,半点不由人。
    Đại gia đô thị mệnh, bán điểm bất do nhơn.
    Tất cả do số mệnh, chút đỉnh chẳng do người.


    43 一年之計在於春,一日之計在於寅,
    一年之计在于春,一日之计在于寅,
    Nhất niên chi kế tại ư xuân, nhất nhật chi kế tại ư dần.
    Một năm lo liệu từ xuân, một ngày tính toán từ Dần tính ra.


    44 一家之計在於和,一生之計在於勤。
    一家之计在于和,一生之计在于勤。
    Nhất gia chi kế tại ư hòa, nhất sinh chi kế tại ư cần.
    Một nhà mạnh phải thuận hoà, một đời muốn sướng phải lo chuyên cần.


    45 責人之心責己,恕己之心恕人。
    责人之心责己,恕己之心恕人。
    Trách nhân chi tâm trách kỷ, thứ kỷ chi tâm thứ nhân
    [thứ: Suy bụng ta ra bụng người. Luận ngữ 論語 : Tử Cống vấn viết : Hữu nhất ngôn nhi khả dĩ chung thân hành chi giả hồ ? Tử viết : Kỳ thứ hồ ! Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân 子貢問曰:有一言而可以終身行之者乎?子曰:其恕乎!己所不欲,勿施於人 (Vệ Linh Công 衛靈公) Ông Tử Cống hỏi rằng : Có một chữ nào mà có thể trọn đời mình làm theo chăng ? Đức Khổng Tử đáp : Có lẽ là chữ thứ chăng ? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác.]
    Lấy trách người để trách mình, lấy thứ mình để thứ tình cho nhau.


    46 守口如瓶,防意如城。
    守口如瓶,防意如城。
    Thủ khẩu như bình, phòng ý như thành.
    Giữ miệng như giữ lục bình, sảy tay rơi vỡ tan tành còn chi.
    Giữ ý như giữ thành trì, để giặc vào lọt còn chi là thành.


    47 寧可人負我,切莫我負人。
    宁可人负我,切莫我负人。
    Ninh khả nhân phụ ngã, thiết mạc ngã phụ nhân.
    Thà cho người phụ bạc ta, nhất thiết không thể là ta phụ người.


    48 再三須重事,第一莫欺心。
    再三须重事,第一莫欺心。
    Tái tam tu trọng sự, đệ nhất mạc khi tâm.
    Việc làm ba bẩy đắn đo, một lần cũng chẳng tự cho dối lòng.


    49 虎生猶可近,人熟不堪親。
    虎生犹可近,人熟不堪亲。
    Hổ sinh do khả cận, nhân thục bất kham thân.
    Hổ lạ còn hay gần gũi được, người quen chưa hẳn đã là thân.


    50 來說是非者,便是是非人。
    来说是非者,便是是非人。
    lai thuyết thị phi giả,tiện thị thị phi nhân
    Những người đến nói điều kia nọ, chính ấy con người thích nọ kia.



    51 遠水難救近火,遠親不如近鄰。
    远水难救近火,远亲不如近邻。
    Viễn thủy nan cứu cận hỏa, viễn thân bất như cận lân.
    Nước xa khó chữa cháy gần, người thân xa kém hương lân gần kề.


    52 有茶有酒多兄弟,急難何曾見一人。
    有茶有酒多兄弟,急难何曾见一人。
    Hữu trà hữu tửu đa huynh đệ, cấp nạn hà tằng kiến nhất nhân.
    Sẵn chè rượu lắm bạn bè, đến khi gặp nạn chẳng hề thấy ai.


    53 人情似紙張張薄,世事如棋局局新。
    人情似纸张张薄,世事如棋局局新。
    Nhân tình tự chỉ trương trương bạc, thế sự như kỳ cục cục tân.
    Tình người tựa giấy tờ tờ mỏng, việc thế như cờ ván ván thay.


    54 山中也有千年樹,世上難逢百歲人。
    山中也有千年树,世上难逢百岁人。
    Sơn trung dã hữu thiên niên thụ, thế thượng nan phùng bách tuế nhân.
    Núi có cây sống ngàn năm, trên đời ít gặp cụ trăm tuổi già.


    55 力微休負重,言輕莫勸人。
    力微休负重,言轻莫劝人。
    Lực vi hưu phụ trọng, ngôn khinh mạc khuyến nhân.
    Sức hèn chớ vác nặng nhiều, nói không trọng lượng chớ điều khuyên ai.


    56 無錢休入眾,遭難莫尋親。
    无钱休入众,遭难莫寻亲。
    Vô tiền hưu nhập chúng, tao nạn mạc tầm thân.
    Không tiền chớ đến chỗ đông, gặp nạn chớ đến cậy trông thân tình.


    57 平生莫作皺眉事,世上應無切齒人。
    平生莫作皱眉事,世上应无切齿人。
    Bình sinh mạc tác trứu my sự, thế thượng ưng vô thiết xỉ nhân.
    Việc làm không có trau mày nghĩ, cuộc sống đâu có kẻ nghiến răng.


    58 士者國之寶,儒為席上珍。
    士者国之宝,儒为席上珍。
    Sĩ giả quốc chi bảo, nho vi tịch thượng trân.
    Kẻ sĩ, nước nhà xem vốn quý, muôn đời, thiên hạ trọng nhà nho.


    59 若要斷酒法,醒眼看醉人。
    若要断酒法,醒眼看醉人。
    Nhược yếu đoạn tửu pháp, tỉnh nhãn khán túy nhân.
    Muốn tìm thuốc chữa nghiện, khi tỉnh xem người say.


    60 求人須求英雄漢 ,濟人須濟急時無。
    求人须求英雄汉,济人须济急时无。
    Cầu nhân tu cầu anh hùng hán,tế nhân tu tế cấp thì vô.
    Cầu người chọn mặt anh hùng, giúp người giúp lúc bần cùng khốn nguy.


    61 渴時一滴如甘露,醉後添杯不如無。
    渴时一滴如甘露,醉后添杯不如无。
    Khát thời nhất trích như cam lộ, túy hậu thiêm bôi bất như vô.
    Khi khát một giọt như nước thánh, đã say thêm chén chẳng bằng không.


    62 久住令人賤,貧來親也疏。
    久住令人贱,贫来亲也疏。
    Cửu trú lệnh nhân tiện, bần lai thân dã sơ.
    Người ở nhờ lâu thành rẻ rúng, nghèo đến nhà thân cũng hóa sơ.


    63 酒中不語真君子,財上分明大丈夫。
    酒中不语真君子,财上分明大丈夫。
    Tửu trung bất ngữ chân quân tử, tài thượng phân minh đại trượng phu.
    Rượu say không nói là quân tử, tiền của phân minh ấy trượng phu.


    64 出家如初,成佛有餘。
    出家如初,成佛有余。
    Xuất gia như sơ, thành Phật hữu dư.
    Tu hành sau trước như nhau, thì thành chính quả hoả hầu có dư.


    65 積金千兩,不如明解經書。
    积金千两,不如明解经书。
    Tích kim thiên lượng, bất như minh giải kinh thư.
    Vàng đầy ngàn lạng để dành, không bằng thấu tỏ rõ rành sách kinh.


    66 養子不教如養驢,養女不教如養豬。
    养子不教如养驴,养女不教如养猪。
    Dưỡng tử bất giáo như dưỡng lư, dưỡng nữ bất giáo như dưỡng trư.
    Nuôi trai chẳng dạy, nuôi lừa; nuôi gái chẳng dạy chẳng thà nuôi heo.


    67 有田不耕倉廩虛,有書不讀子孫愚。
    有田不耕仓廪虚,有书不读子孙愚。
    Hữu điền bất canh thương lẫm hư, hữu thư bất độc tử tôn ngu.
    Có ruộng chẳng gắng cấy cày, kho không để chịu tháng ngày thiếu ăn.
    Có sách chẳng cố học chăm, con cháu ngu dốt có gì sai đâu.


    68 倉廩虛兮歲月乏,子孫愚兮禮義疏。
    仓廪虚兮岁月乏,子孙愚兮礼义疏。
    Thương lẫm hư hề tuế nguyệt phạp, tử tôn ngu hề lễ nghĩa sơ.
    Nghĩa như câu trên


    69 同君一夜話,勝讀十年書。
    同君一夜话,胜读十年书。
    Đồng quân nhất dạ thoại, thắng độc thập niên thư.
    Cùng anh trò chuyện một đêm, còn hơn đọc sách mười năm miệt mài.


    70 人不通今古,馬牛如襟裾。
    人不通今古,马牛如襟裾。
    Nhân bất thông kim cổ, mã ngưu như khâm cư.
    Người không thông hiểu xưa nay, khác nào trâu ngựa được may áo quần.


    ct...
    Đã chỉnh sửa bởi Visaolaithe; 17-07-2011, 08:06 AM.
    Similar Threads
  • #2

    I love it! Many thanks!

    Comment

    • #3


      Đây là " Khổng Mờ Mịt thế kỷ 21 " và câu 5 :

      相識滿天下,知心能幾人。

      Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân.

      Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người.



      UKH có thấy wen wen hong....

      Comment

      • #4

        TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN (71 - 140 )

        ........................


        71 茫茫四海人無數,哪個男兒是丈夫。
        茫茫四海人无数,哪个男儿是丈夫。
        Mang mang tứ hải nhân vô số, ná cá nam nhi thị trượng phu.
        Con người vô số trên đời, mấy trang nam tử đáng người trượng phu.




        72 白酒釀成延好客,黃金散盡為收書。
        白酒酿成延好客,黄金散尽为收书。
        Bạch tửu nhưỡng thành diên hảo khách, hoàng kim tán tận vị thu thư.
        Rượu ngon thiết bạn tâm đầu, vàng mười tiêu hết mong mua sách về.



        73 救人一命,勝造七級浮屠。
        救人一命,胜造七级浮屠。
        Cứu nhân nhất mệnh, thắng tạo thất cấp phù đồ.
        Dù xây bảy cấp phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người.



        74 城門失火,殃及池魚。
        城门失火,殃及池鱼。
        Thành môn thất hỏa, ương cập trì ngư.
        Cổng thành bị cháy một khi, ao cá bỗng bị vạ lây bất ngờ.



        75 庭前生瑞草,好事不如無。
        庭前生瑞草,好事不如无。
        Đình tiền sanh thụy thảo, hảo sự bất như vô.
        Trước sân dù mọc cỏ thơm, tốt lành có chuyện chẳng hơn thanh nhàn.




        76 欲求生富貴,須下死工夫。
        欲求生富贵,须下死工夫。
        Dục cầu sanh phú quý, tu hạ tử công phu.
        Muốn tìm phú quý lâu dài, phải chịu gian khổ miệt mài công phu.


        77 百年成之不足,一旦壞之有餘。
        百年成之不足,一旦坏之有余。
        Bách niên thành chi bất túc, nhất đán hoại chi hữu dư.
        Trăm năm chưa đủ làm xong,còn như huỷ hoại chỉ trong sớm chiều.


        78 人心似鐵,國法如爐。
        人心似铁,国法如炉。
        Nhân tâm tự thiết, quốc pháp như lô.
        Lòng người như sắt như gang, luật pháp lò lửa luyện nên rắn mềm.


        79 善化不足,惡化有餘。
        善化不足,恶化有余。
        Thiện hóa bất túc, ác hóa hữu dư.
        Hoá trở nên tốt khó thay, biến thành ra xấu được ngay tức thì.


        80 水太清則無魚,人太緊則無智。
        水太清则无鱼,人太紧则无智。
        Thủy thái thanh tắc vô ngư, nhân thái khẩn tắc vô trí.
        Nước quá trong cá chẳng còn, người quá nóng vội trí khôn kém nhiều.


        81 知者減半,省者全無。
        知者减半,省者全无。
        Tri giả giảm bán, tỉnh giả toàn vô.
        Người biết nếu giảm một nửa, kẻ khôn không biết tìm đâu bây giờ.


        82 在家由父,出嫁從夫。
        在家由父,出嫁从夫。
        Tại gia do phụ, xuất giá tòng phu.
        Ở nhà vâng ý mẹ cha, đến khi xuất giá thì ta theo chồng


        83 痴人畏婦,賢女敬夫。
        痴人畏妇,贤女敬夫。
        Si nhân úy phụ, hiền nữ kính phu.
        Kẻ ngốc sợ vợ đủ điều, gái ngoan hiền thục kính yêu người chồng.


        84 是非終日有,不聽自然無。
        是非终日有,不听自然无。
        Thị phi chung nhật hữu, bất thính tự nhiên vô.
        Chuyện thị phi suốt ngày sẵn có, chẳng để tai nó tự như không.


        85 寧可正而不足,不可邪而有餘。
        宁可正而不足,不可邪而有余。
        Ninh khả chính nhi bất túc, bất khả tà nhi hữu dư.
        Thà rằng chính trực mà thiếu thốn, chứ không khuất tất để dư thừa.


        86 寧可信其有,不可信其無。
        宁可信其有,不可信其无。
        Ninh khả tín kỳ hữu, bất khả tín kỳ vô.
        Hãy cứ tin vào điều đã có, chẳng nên tin tưởng chỗ không đâu.


        87 竹籬茅舍風光好,道院僧房總不如。
        竹篱茅舍风光好,道院僧房总不如。
        Trúc li mao xá phong quang hảo, đạo viện tăng phòng tổng bất như.
        Giậu tre nhà lá quang cảnh đẹp, đạo quán tăng phòng vẫn kém xa.


        88 命裡有時終須有,命裡無時莫強求。
        命里有时终须有,命里无时莫强求。
        Mệnh lý hữu thì chung tu hữu, mệnh lý vô thì mạc cưỡng cầu.
        Số mà đã có ắt nên, số mà không có cầu xin làm gì.


        89 道院迎仙客,書堂隱相儒。
        道院迎仙客,书堂隐相儒。
        Đạo viện nghinh tiên khách, thư đường ẩn tướng nho.
        Nơi đạo viện đón khách tiên, chốn thư đường ẩn bậc hiền tướng nho.


        90 庭栽棲鳳竹,池養化龍魚。
        庭栽栖凤竹,池养化龙鱼。
        Đình tài thê phượng trúc, trì dưỡng hóa long ngư.
        Sân trồng cây trúc cho phượng đỗ, ao chứa thần ngư đợi hoá rồng.


        91 結交須勝己,似我不如無。
        结交须胜己,似我不如无。
        Kết giao tu thắng kỷ, tự ngã bất như vô.
        Kết bạn chọn kẻ hơn ta, nếu như ta cũng chẳng thà bằng không.


        92 但看三五日,相見不如無。
        但看三五日,相见不如无。
        Đãn khán tam ngũ nhật, tương kiến bất như vô.
        Những để mắt xem dăm bảy bữa, lần đầu mới gặp cũng như không.


        93 人情似水分高下,世事如雲任卷舒。
        人情似水分高下,世事如云任卷舒。
        Nhân tình tự thủy phân cao hạ, thế sự như vân nhậm quyển thư .
        Tình người mực nước thấp cao, việc thế mây trôi cuốn vào trải ra.


        94 會說說都是,不會說無禮。
        会说说都是,不会说无礼。
        Hội thuyết thuyết đô thị, bất hội thuyết vô lễ.
        Người hay càng nói càng hay, người dở cất miệng biết ngay dở òm.


        95 磨刀恨不利,刀利傷人指。
        磨刀恨不利,刀利伤人指。
        Ma đao hận bất lợi, đao lợi thương nhân chỉ.
        Mài dao chỉ giận dao không sắc, dao sắc coi chừng dễ đứt tay.


        96 求財恨不多,財多害自己。
        求财恨不多,财多害自己。
        Cầu tài hận bất đắc, tài đa hại tự kỷ.
        Cầu tài chỉ lo không nhiều của, của nhiều dễ hại đến mình ngay.


        97 知足常足,終身不辱。
        知足常足,终身不辱。
        Tri túc thường túc, chung thân bất nhục.
        Biết đủ thường hãy tạm vừa, suốt đời không thể bao giờ nhục thân.


        98 知止常止,終身不恥。
        知止常止,终身不耻。
        Tri chỉ thường chỉ, chung thân bất sỉ.
        Biết dừng thường hãy dừng tay, trọn đời ta trách được phần hổ ngươi.


        99 有福傷財,無福傷己。
        有福伤财,无福伤己。
        Hữu phúc thương tài, vô phúc thương kỷ.
        Có phúc hao tổn tiền tài, vô phúc thương tổn họa tai đến người.


        100 差之毫厘,失之千里。
        差之毫厘,失之千里。
        Sai chi hào ly, thất chi thiên lý.
        Sai sót một ly, mất đi nghìn dặm.


        101 若登高必自卑,若涉遠必自邇。
        若登高必自卑,若涉远必自迩。
        Nhược đăng cao tất tự ti, nhược thiệp viễn tất tự nhĩ.
        Lên cao từ thấp mà lên, bơi xa từ chỗ nông quèn mà xa.


        102 三思而行,再思可矣。
        三思而行,再思可矣。
        Tam tư nhi hành, tái tư khả hĩ.
        Đắn đo ba bận mới làm, nghĩ kỹ thêm nữa mới mong không nhầm.


        103 使口不如自走,求人不如求己。
        使口不如自走,求人不如求己。
        Sử khẩu bất như tự tẩu, cầu nhân bất như cầu kỷ.
        Miệng sai làm lấy còn hơn, nhờ người chẳng tốt nhờ luôn chính mình.


        104 小時是兄弟,長大各鄉里。
        小时是兄弟,长大各乡里。
        Tiểu thời thị huynh đệ, trưởng đại các hương lý.
        Nhỏ còn ruột thịt trong nhà, lớn lên mỗi đứa một phương chia lìa.


        105 妒財莫妒食,怨生莫怨死。
        妒财莫妒食,怨生莫怨死。
        Đố tài mạc đố thực, oán sinh mạc oán tử.
        Oán khi sống chớ hờn khi chết,ghen tiền tài chớ ghét miệng ăn.


        106 人見白頭嗔,我見白頭喜。
        人见白头嗔,我见白头喜。
        Nhân kiến bạch đầu sân, ngã kiến bạch đầu hỉ.
        Người thấy bạc đầu chừng oán giận, ta nay đầu bạc chẳng ưu sầu.


        107 多少少年亡,不到白頭死。
        多少少年亡,不到白头死。
        Đa thiểu thiếu niên vong, bất đáo bạch đầu tử.
        Biết bao nhiêu kẻ còn niên thiếu, đã chết từ khi chửa bạc đầu.


        108 牆有縫,壁有耳。
        墙有逢,壁有耳。
        Tường hữu phùng, bích hữu nhĩ.
        Tường có mạch, vách có tai.


        109 好事不出門,惡事傳千里。
        好事不出门,恶事传千里。
        Hảo sự bất xuất môn, ác sự truyền thiên lý.
        Việc tốt chẳng ra khỏi nhà, việc xấu thì chóng lan ra khắp vùng.


        110 賊是小人,智過君子。
        贼是小人,智过君子。
        Tặc thị tiểu nhơn, trí quá quân tử.
        Gian phi là giống tiểu nhân, nói về cơ trí hơn quân tử nhiều.


        111 君子固窮,小人窮斯濫矣。
        君子固穷,小人穷斯滥矣。
        Quân tử cố cùng, tiểu nhân cùng tư lạm hĩ.
        Quân tử bền chí lúc cùng, tiểu nhân cùng sẽ lung tung làm càn.


        112 貧窮自在,富貴多憂。
        贫穷自在,富贵多忧。
        Bần cùng tự tại, phú quý đa ưu.
        Nghèo khó tự tại thung dung,giàu sang lắm nỗi mông lung ưu sầu.


        113 不以我為德,反以我為仇。
        不以我为德,反以我为仇。
        Bất dĩ ngã vi đức, phản dĩ ngã vi cừu.
        Chẳng coi ta kẻ làm ơn, mà coi ta ta lại tệ hơn kẻ thù.


        114 寧向直中取,不可曲中求。
        宁向直中取,不可曲中求。
        Ninh hướng trực trung thủ, bất khả khúc trung cầu.
        Hướng mình thu nhận nơi ngay thẳng, chẳng cần cầu cạnh chốn cong queo.


        115 人無遠慮,必有近憂。
        人无远虑,必有近忧。
        Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu.
        Làm người chẳng biết lo xa, hẳn là sầu muộn sảy ra cũng gần.


        116 知我者為我心憂,不知我者謂我何求。
        知我者为我心忧,不知我者谓我何求。
        Tri ngã giả vi ngã tâm ưu, bất tri ngã giả vị ngã hà cầu.
        Hiểu ta thì bảo ta lo, không hiểu ta bảo ta cần làm chi.


        117 晴天不肯去,只待雨淋頭。
        晴天不肯去,只待雨淋头。
        Tình thiên bất khẳng khứ, chỉ đãi vũ lâm đầu.
        Tạnh khô chẳng chịu đi cho, đợi mưa lướt thướt lần mò bước ra.


        118 成事莫說,覆水難收。
        成事莫说,覆水难收。
        Thành sự mạc thuyết, phúc thủy nan thu.
        Làm được việc chớ nói nhiều, nước mà bị đổ khó chiều vét lên.


        119 是非只為多開口,煩惱皆因強出頭。
        是非只为多开口,烦恼皆因强出头。
        Thị phi chỉ vị đa khai khẩu, phiền não giai nhân cưỡng xuất đầu.
        Phiền não đều do ra mặt vội, rắc rối chỉ bởi lắm lời thôi.


        120 忍得一時之氣,免得百日之憂。
        忍得一时之气,免得百日之忧。
        Nhẫn đắc nhất thời chi khí, miễn đắc bách nhật chi ưu.
        Nén được cơn giận nhất thời, bớt đi được nỗi sầu lo trăm ngày.


        121 近來學得烏龜法,得縮頭時且縮頭。
        近来学得乌龟法,得缩头时且缩头。
        Cận lai học đắc ô quy pháp, đắc súc đầu thì thả súc đầu.
        Gần đây học cách con rùa, lúc nào phải rụt thì ta rụt đầu.




        122 懼法朝朝樂,欺公日日憂。
        惧法朝朝乐,欺公日日忧。
        Cụ pháp triêu triêu lạc, khi công nhật nhật ưu.
        Tuân pháp luật dạ nhẹ nhàng, việc công dối trá băn khoăn tối ngày.


        123 人生一世,草生一春。
        人生一世,草生一春。
        Nhân sinh nhất thế, thảo sinh nhất xuân.
        Con người sinh sống một đời, cỏ cây nảy nở một thời tiết xuân.


        124 白髮不隨老人去,看看又是白頭翁。
        白发不随老人去,看看又是白头翁。
        Bạch phát bất tuỳ lão nhân khứ, khan khan hựu thị bạch đầu ông.
        Tóc bạc chẳng bỏ người già, trông qua trông lại thành ông bạc đầu.


        125 月到十五光明少,人到中年萬事休。
        月到十五光明少,人到中年万事休。
        Nguyệt đáo thập ngũ quang minh thiểu, nhân đáo trung niên vạn sự hưu.
        Trăng mười lăm đã chừng bớt sáng, người tuổi trung niên mọi chuyện dừng.


        126 兒孫自有兒孫福,莫為兒孫作馬牛。
        儿孙自有儿孙福,莫为儿孙作马牛。
        Nhi tôn tự hữu nhi tôn phúc, mạc vị nhi tôn tác mã ngưu.
        Cháu con có phúc cháu con, chớ vì con cháu mà làm ngựa trâu.


        127 人生不滿百,常懷千歲憂。
        人生不满百,常怀千岁忧。
        Nhân sinh bất mãn bá, thường hoài thiên tuế ưu.
        Đời người sống chẳng đầy trăm, thường ôm ấp những ngàn năm lo phiền.


        128 今朝有酒今朝醉,明日愁來明日憂。
        今朝有酒今朝醉,明日愁来明日忧。
        Kim triêu hữu tửu kim triêu túy, minh nhật sầu lai minh nhật ưu.
        Hôm nay có rượu ta say đã, ngày mai buồn đến ngày mai buồn.


        129 路逢險處難迴避,事到頭來不自由。
        路逢险处难回避,事到头来不自由。
        Lộ phùng hiểm xứ nan hồi tị, sự đáo đầu lai bất tự do.
        Đường đi hiểm trở sao tránh khỏi, sự đã đến rồi khó tự do.


        130 藥能醫假病,酒不解真愁。
        药能医假病,酒不解真愁。
        Dược năng y giả bệnh, tửu bất giải chân sầu.
        Thuốc chữa được bệnh chưa sâu, rượu sao khuây nổi nỗi sầu thấm xương.


        131 人貧不語,水平不流。
        人贫不语,水平不流。
        Nhân bần bất ngữ, thủy bình bất lưu.
        Người nghèo biết nói năng chi, mặt nước bằng phẳng sức gì lưu thông.


        132 一家有女百家求,一馬不行百馬憂。
        一家有女百家求,一马不行百马忧。
        Nhất gia hữu nữ bách gia cầu, nhất mã bất hành bách mã ưu.
        Một nhà có gái trăm nhà hỏi, một ngựa không đi trăm ngựa lo.


        133 有花方酌酒,無月不登樓。
        有花方酌酒,无月不登楼。
        Hữu hoa phương chước tửu, vô nguyệt bất đăng lâu.
        Có hoa chuốc rượu vì hoa, trăng kia chẳng mọc lên lầu làm chi.


        134 三杯通大道,一醉解千愁。
        三杯通大道,一醉解千愁。
        Tam bôi thông đại đạo, nhất túy giải thiên sầu.
        Nhấp ba ly tỏ đạo trời, một cơn say giải ngàn đời sầu bi.


        135 深山畢竟藏猛虎,大海終須納細流。
        深山毕竟藏猛虎,大海终须纳细流。
        Thâm sơn tất cánh tàng mãnh hổ, đại hải chung tu nạp tế lưu.
        Rừng sâu ẩn chứa loài hổ dữ, biển lớn tận thu mọi nhánh sông.


        136 惜花須檢點,愛月不梳頭。
        惜花须检点,爱月不梳头。
        Tích hoa tu kiểm điểm, ái nguyệt bất sơ đầu.
        Tiếc hoa nên phải giữ gìn, yêu trăng chớ có chải đầu làm chi.


        137 大抵選他肌骨好,不擦紅粉也風流。
        大抵选他肌骨好,不擦红粉也风流。
        Đại để tuyển tha cơ cốt hảo, bất sát hồng phấn dã phong lưu.
        Kén người da thịt mịn màng, chẳng cần trang điểm vẫn là phong lưu.


        138 受恩深處宜先退,得意濃時便可休。
        受恩深处宜先退,得意浓时便可休。
        Thụ ân thâm xứ nghi tiên thoái, đắc ý nùng thì tiện khả hưu .
        Chỗ ơn sâu nặng nên rút trước, gặp thời đắc ý phải nên thôi.


        139 莫待是非來入耳,從前恩愛反為仇。
        莫待是非来入耳,从前恩爱反为仇。
        Mạc đãi thị phi lai nhập nhĩ, tòng tiền ân ái phản vi cừu.
        Đừng nghe hay dở lọt tai, mà ân ái trước từ nay thành thù.


        140 留得五湖明月在,不愁無處下金鉤。
        留得五湖明月在,不愁无处下金钩。
        Lưu đắc ngũ hồ minh nguyệt tại, bất sầu vô xứ hạ kim câu.
        Giữ được ngũ hồ trăng sáng mãi, chẳng lo không chốn để buông câu.

        ct...

        Comment

        • #5

          ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Visaolaithe View Post

          Đây là " Khổng Mờ Mịt thế kỷ 21 " và câu 5 :

          相識滿天下,知心能幾人。

          Tương thức mãn thiên hạ, tri tâm năng kỷ nhân.

          Đầy trong thiên hạ người quen biết, tri kỷ cùng ta được mấy người.



          UKH có thấy wen wen hong....
          Tưởng là ông này chứ. Ông này nhìn wen wen hơn.

          Comment

          • #6

            ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Uất Kim Hương View Post
            Tưởng là ông này chứ. Ông này nhìn wen wen hơn.



            UKH nhắc chi thuở tóc còn xanh... Khổng Mờ Mịt bùn rùi nì :



            nghe nói mới đi Hawaii cầu duyên...... Và..... Ai thế này :




            Đã chỉnh sửa bởi Visaolaithe; 18-07-2011, 09:45 AM.

            Comment

            • #7

              ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Visaolaithe View Post
              UKH nhắc chi thuở tóc còn xanh... Khổng Mờ Mịt bùn rùi nì :



              nghe nói mới đi Hawaii cầu duyên...... Và..... Ai thế này :




              Ở bên đây, thường thì đi Hawaii là để hưởng tuần trăng mât. Á á á! Nguyễn Văn Mít vừa mới lên xe bông hả? Chúc mừng, chúc mừng! Cung hỉ! Cung hỉ hả!

              Comment

              • #8

                Hay lắm, thanks visaolaithe nhiều nhé.

                Comment

                • #9

                  TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN (141 - 210 )


                  .....................


                  141 休別有魚處,莫戀淺灘頭。
                  休别有鱼处,莫恋浅滩头。
                  Hưu biệt hữu ngư xứ, mạc luyến thiển than đầu.
                  Đừng rời nơi có cá, chớ luyến bãi đậu nông.


                  142 去時終須去,再三留不住。
                  去时终须去,再三留不住。
                  Khứ thì chung tu khứ, tái tam lưu bất trú.
                  Cần đi phải quyết ra đi, chứ đừng lưu lại chỉ vì mời dai.


                  143 忍一句,息一怒,饒一著,退一步。
                  忍一句,息一怒,饶一着,退一步。
                  Nhẫn nhất cú, tức nhất nộ, nhiêu nhất trước, thoái nhất bộ.
                  Nhịn một câu, nén một giận, tha một lần, lùi một bước


                  144 三十不豪,四十不富,五十將來尋死�� �。
                  三十不豪,四十不富,五十将来寻死�� �。
                  Tam thập bất hào, tứ thập bất phú, ngũ thập tương lai tầm tử lộ.
                  Ba mươi chẳng sang, bốn mươi chẳng giàu, năm mươi sắp sửa tìm đường về cõi âm.


                  145 生不認魂,死不認 尸。
                  生不认魂,死不认尸。
                  Sinh bất nhận hồn, tử bất nhận thi.
                  Sống chẳng nhận hồn, chết không nhận xác.


                  146 父母恩深終有別,夫妻義重也分離。
                  父母恩深终有别,夫妻义重也分离。
                  Phụ mẫu ân thâm chung hữu biệt, phu thê nghĩa trọng dã phân ly.
                  Cha mẹ ơn sâu còn cách biệt, vợ chồng nghĩa nặng cũng chia phôi.


                  147 人生似鳥同林宿,大限來時各自飛。
                  人生似鸟同林宿,大限来时各自飞。
                  Nhân sinh tự điểu đồng lâm túc, đại hạn lai thời các tự phi.
                  Người như chim ở chung rừng, khi tai nạn tới đều vùng tự bay.


                  148 人善被人欺,馬善被人騎。
                  人善被人欺,马善被人骑。
                  Nhân thiện bị nhân khi, mã thiện bị nhân kỵ.
                  Người lành tất bị người bắt nạt, ngựa lành ắt bị người ta cưỡi liền.


                  149 人無橫財不富,馬無野草不肥。
                  人无横财不富,马无野草不肥。
                  Nhân vô hoạch tài bất phú, mã vô dã thảo bất phì.
                  Tiền không bất nghĩa sao giàu nổi, ngựa không cỏ tối béo làm sao.


                  150 人惡人怕天不怕,人善人欺天不欺。
                  人恶人怕天不怕,人善人欺天不欺。
                  Nhân ác nhân phạ thiên bất phạ, nhân thiện nhân khi thiên bất khi.
                  Kẻ ác người sợ trời không sợ, người hiền người khinh trời chẳng khinh.

                  151 善惡到頭終有報,只爭來早與來遲。

                  善恶到头终有报,只争来早与来迟。
                  Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì.
                  Thiện ác cuối cùng rồi sẽ báo, chỉ còn sớm muộn đó mà thôi.
                  152 黃河尚有澄清日,豈可人無得運時。
                  黄河尚有澄清日,岂可人无得运时。
                  Hoàng hà thượng hữu trừng thanh nhật, khởi khả nhân vô đắc vận thời.
                  Hoàng hà còn có hôm trong, con người sao thể mãi không gặp thời.


                  153 得寵思辱,安居慮危。
                  得宠思辱,安居虑危。
                  Đắc sủng tư nhục, an cư lự nguy.
                  Được chiều chuộng nghĩ khi bị nhục, sống yên lành lo lúc khốn nguy.


                  154 念念有如臨敵日,心心常似過橋時。
                  念念有如临敌日,心心常似过桥时。
                  Niệm niệm hữu như lâm địch nhật, tâm tâm thường tự quá kiều thì.
                  Luôn nghĩ khi gặp giặc thù, hằng lo tựa lúc qua cầu chênh vênh.


                  155 英雄行險道,富貴似花枝。
                  英雄行险道,富贵似花枝。
                  Anh hùng hành hiểm đạo, phú quý tự hoa chi.
                  Anh hùng ngại chi đi đường hiểm, phú quý tựa như một nhánh hoa.


                  156 人情莫道春光好,只怕秋來有冷時。
                  人情莫道春光好,只怕秋来有冷时。
                  Nhân tình mạc đạo xuân quang hảo, chỉ phạ thu lai hữu lãnh thì.
                  Tình người chớ bảo như xuân đẹp, chỉ sợ thu sang gió lạnh lùng.


                  157 送君千里,終須一別。
                  送君千里,终须一别。
                  Tống quân thiên lý, chung tu nhất biệt.
                  Tiễn nhau ngàn dặm thẫn thờ, cuối cùng cũng phải có giờ chia tay.


                  158 但將冷眼看螃蟹,看你橫行到幾時。
                  但将冷眼看螃蟹,看你横行到几时。
                  Đãn tương lãnh nhãn khán bàng giải, khán nhĩ hoành hành đáo kỷ thì.
                  Lạnh lùng theo dõi con cua, đi ngang mãi vậy xem bò đến đâu.


                  159 見事莫說,問事不知。
                  见事莫说,问事不知。
                  Kiến sự mạc thuyết, vấn sự bất tri.
                  Thấy việc chớ nói năng chi, hỏi việc ta chẳng biết gì mà thưa.


                  160 閒事休管,無事早歸。
                  闲事休管,无事早归。
                  Nhàn sự hưu quản, vô sự tảo quy.
                  Việc người chớ quản làm chi, khi không có việc sớm về cho yên.


                  161 假緞染就真紅色,也被旁人說是非。
                  假缎染就真红色,也被旁人说是非。
                  Giả đoạn nhiễm tựu chân hồng sắc, dã bị bàng nhơn thuyết thị phi.
                  Vải dù nhuộm đúng màu tươi đỏ, cũng bị người ta nói nọ kia.


                  162 善事可作,惡事莫為。
                  善事可作,恶事莫为。
                  Thiện sự khả tác, ác sự mạc vi.
                  Việc tốt nên cố, việc xấu đừng làm.


                  163 許人一物,千金不移。
                  许人一物,千金不移。
                  Hứa nhân nhất vật, thiên kim bất di.
                  Hứa người một vật, nghìn vàng chẳng thay.


                  164 龍生龍子,虎生豹兒。
                  龙生龙子,虎生豹儿。
                  Long sinh long tử, hổ sinh báo nhi.
                  Trứng rồng lại nở ra rồng, hùm beo lại đẻ ra loài hùm beo.


                  165 龍游淺水遭蝦戲,虎落平陽被犬欺。
                  龙游浅水遭虾戏,虎落平阳被犬欺。
                  Long du thiển thủy tao hà hí, hổ lạc bình dương bị khuyển khi.
                  Rồng gặp nước nông tôm bỡn cợt, hổ xuống đồng bằng bị chó khinh.


                  166 一舉首登龍虎榜,十年身到鳳凰池。
                  一举首登龙虎榜,十年身到风凰池。
                  Nhất cử thủ đăng long hổ bảng, thập niên thân đáo phượng hoàng trì.
                  Ngước trông tên bảng hổ treo, mười năm thân đã tới ao phượng hoàng.


                  167 十年窗下無人問,一舉成名天下知。
                  十年窗下无人问,一举成名天下知。
                  Thập niên song hạ vô nhân vấn, nhất cử thành danh thiên hạ tri.
                  Mười năm đèn sách ai hay, thi đỗ thiên hạ biết ngay đến mình.


                  168 酒債尋常行處有,人生七十古來稀。
                  酒债寻常行处有,人生七十古来稀。
                  Tửu trái tầm thường hành xứ hữu, nhân sinh thất thập cổ lai hi.
                  Thông thường nợ rượu nhiều nơi có, người thọ bảy mươi vẫn hiếm mà.


                  169 養兒待老,積穀防饑。
                  养儿待老,积谷防饥。
                  Dưỡng nhi đãi lão, tích cốc phòng cơ.
                  Nuôi con mong cậy lúc già, tích thóc phòng lúc mất mùa thiếu ăn.


                  170 雞豚狗彘之畜,無失其時。
                  鸡豚狗彘之畜,无失其时。
                  Kê đồn cẩu trệ chi súc, vô thất kỳ thì.
                  Những con mèo chó lợn gà, chăm nuôi sinh sản tính ra đúng thì.


                  171 數口之家,可以無饑矣。
                  数家之口,可以无饥矣。
                  Sổ khẩu chi gia, khả dĩ vô cơ hĩ.
                  Nhà vài ba miệng kể chi, quanh năm chẳng có ngại gì thiếu ăn.


                  172 常將有日思無日,莫把無時當有時。
                  常将有日思无日,莫把无时当有时。
                  Thường tương hữu nhật tư vô nhật, mạc bả vô thì đương hữu thì.
                  Ngày có thường nghĩ ngày không, chớ đợi ngày không mà trông ngày có.


                  173 時來風送騰王閣,運去雷轟薦福碑。
                  时来风送腾王阁,运去雷轰荐福碑。
                  Thì lai phong tống Đằng Vương các, vận khứ lôi oanh Tiến Phúc bi.
                  Vận hết, sét tan bia Tiến Phúc; gặp thời gió thổi các Đằng Vương.


                  174 入門休問榮枯事,觀看容顏便得知。
                  入门休问荣枯事,观看容颜便得知。
                  Nhập môn hưu vấn vinh khô sự, quan khán dung nhan tiện đắc tri.
                  Bước vào chớ hỏi nhà may rủi, nhìn ngắm dung nhan biết hết mà.


                  175 官清書吏瘦,神靈廟祝肥。
                  官清书吏瘦,神灵庙祝肥。
                  Quan thanh thư lại sấu, thần linh miếu chúc phì. Quan liêm thư lại cũng gầy, thần thiêng đền miếu chất đầy quả hoa.


                  176 息卻雷霆之怒,罷卻虎狼之威。
                  息却雷霆之怒,罢却虎狼之威。
                  Tức khước lôi đình chi nộ, bãi khước hổ lang chi uy.
                  Nén được cơn giận lôi đình, khỏi phải sợ oai lang hổ.


                  177 饒人算人之本,輸人算人之機。
                  饶人算之本,输人算之机。
                  Nhiêu nhân toán chi bản, thâu nhân toán chi cơ. Bao dung là gốc tính toan, chịu thua người mới hoàn toàn trí mưu.


                  178 好言難得,惡語易施。
                  好言难得,恶语易施。
                  Hảo ngôn nan đắc, ác ngữ dị thi.
                  Lời hay khó được đem làm, lời dở dễ được sẵn sàng thực thi.


                  179 一言既出,駟馬難追。
                  一言既出,驷马难追。
                  Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.
                  Một lời đã trót nói ra, dẫu rằng bốn ngựa khó mà đuổi theo.


                  180 道吾好者是吾賊,道吾惡者是吾師。
                  道吾好者是吾贼,道吾恶者是吾师。
                  Đạo ngô hảo giả thị ngô tặc, đạo ngô ác giả thị ngô sư.
                  Nói ta hay chính hại ta, nói điều ta dở chính là thầy ta.

                  181 路逢險處須當避,不是才人莫獻詩。
                  路逢险处须当避,不是才人莫献诗。
                  Lộ phùng hiểm xứ tu đương tị, bất thị tài nhân mạc hiến thi.
                  Gặp đường hiểm nên tránh đi, không phải người biết đọc thơ làm gì.
                  182 三人同行,必有我師,擇其善者而從�� �,其不善者而改之。
                  三人同行,必有我师,择其善者而从�� �,其不善者而改之。
                  Tam nhân đồng hành, tất hữu ngã sư, trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi.
                  Ba người cùng đi, ắt có thầy ta, chọn người lành tốt, cố học cho hay, người không lành tốt, liệu mà sửa ngay.


                  183 少壯不努力,老大徒悲傷。
                  少壮不努力,老大徒悲伤。
                  Thiếu tráng bất nỗ lực, lão đại đồ bi thương.
                  Lúc trẻ không cố sức, già đến những đau thương.


                  184 人有善願,天必祐之。
                  人有善愿,天必佑之。
                  Nhân hữu thiện nguyện, thiên tất hựu chi.
                  Con người mong muốn tốt lành,trời kia ắt hẳn cùng dành giúp cho.


                  185 莫飲卯時酒,昏昏醉到酉。
                  莫饮卯时酒,昏昏醉到酉。
                  Mạc ẩm mão thì tửu, hôn hôn túy đáo dậu.
                  Chớ có uống rượu sớm mai, lơ mơ dở tỉnh dở say đến chiều.


                  186 莫罵酉時妻,一夜受孤淒。
                  莫骂酉时妻,一夜受孤凄。
                  Mạc mạ dậu thì thê, nhứt dạ thụ cô thê.
                  Cũng đừng mắng vợ buổi hôm, suốt đêm phải chịu nằm không một mình.


                  187 種麻得麻,種豆得豆。
                  种麻得麻,种豆得豆。
                  Chủng ma đắc ma, chủng đậu đắc đậu.
                  Trồng vừng thì lại hái vừng, trồng đậu hái đậu xin đừng kêu ca.


                  188 天眼恢恢,疏而不漏。
                  天眼恢恢,疏而不漏。
                  Thiên nhãn khôi khôi, sơ nhi bất lậu.
                  Lưới trời lồng lộng bao la, tuy là thưa đấy nhưng mà khó chui.


                  189 見官莫向前,做客莫在後。
                  见官莫向前,做客莫在后。
                  Kiến quan mạc hướng tiền, tố khách mạc tại hậu.
                  Thấy quan chớ nhìn trước, làm khách đừng ở sau.


                  190 寧添一斗,莫添一口。
                  宁添一斗,莫添一口。
                  Ninh thiêm nhất đẩu, mạc thiêm nhất khẩu.
                  Thà thêm một thưng, chớ thêm một miệng.


                  191 螳螂捕蟬,豈知黃雀在後。
                  螳螂捕蝉,岂知黄雀在后。
                  Đường lang bổ thiền, khởi tri hoàng tước tại hậu.
                  Bọ ngựa rình bắt con ve, biết đâu chim sẻ đang nhè sau lưng.


                  192 不求金玉重重貴,但願兒孫個個賢。
                  不求金玉重重贵,但愿儿孙个个贤。
                  Bất cầu kim ngọc trùng trùng quý, đãn nguyện nhi tôn cá cá hiền.
                  Chẳng cầu vàng ngọc cho nhiều, chỉ mong con cháu thảy đều hiền lương.


                  193 一日夫妻,百世姻緣。
                  一日夫妻,百世姻缘。
                  Nhất nhật phu thê, bách thế nhân duyên.
                  Một ngày vợ chồng bén hơi, đó là duyên kiếp trăm đời trước sau.


                  194 百世修來同船渡,千世修來共枕眠。
                  百世修来同船渡,千世修来共枕眠。
                  Bách thế tu lai đồng thuyền độ, thiên thế tu lai cộng chẩm miên.
                  Trăm kiếp tu được chung thuyền, nghìn đời tu được gối giường ngủ chung.


                  195 殺人一萬,自損三千。
                  杀人一万,自损三千。
                  Sát nhân nhất vạn, tự tổn tam thiên.
                  Diệt được một vạn đối phương, tự mình cũng phải tổn thương ba nghìn.


                  196 傷人一語,利如刀割。
                  伤人一语,利如刀割。
                  Thương nhân nhất ngữ, lợi như đao cát.
                  Một lời nói hại người ta, không kém bén ngọt như là dao đâm.


                  197 枯木逢春猶再發,人無兩度再少年。
                  枯木逢春犹再发,人无两度再少年。
                  Khô mộc phùng xuân do tái phát, nhân vô lưỡng độ tái thiếu niên.
                  Gặp xuân cây héo đâm chồi lại, người chẳng hai lần tuổi thiếu niên.


                  198 未晚先投宿,雞鳴早看天。
                  未晚先投宿,鸡鸣早看天。
                  Vị vãn tiên đầu túc, kê minh tảo khán thiên.
                  Chớm khuya đi ngủ cho mau, sớm mai gà gáy ngắm bầu trời trong.


                  199 將相胸前堪走馬,公候肚裡好撐船。
                  将相胸前堪走马,公候肚里好撑船。
                  Tướng tướng hung tiền kham tẩu mã, công hầu đỗ lý hảo xanh thuyền.
                  Tầm nhìn khanh tướng thường xa rộng, đủ sức thuyền bơi với ngựa phi.


                  200 富人思來年,窮人思眼前。
                  富人思来年,穷人思眼前。
                  Phú nhân tư lai niên, cùng nhân tư nhãn tiền.
                  Giàu có nghĩ chuyện sang năm, nghèo lo trước mắt xem nhằm vào đâu.


                  201 世上若要人情好,賒去物件莫取錢。
                  世上若要人情好,赊去物件莫取钱。
                  Thế thượng nhược yếu nhân tình hảo, xa khứ vật kiện mạc thủ tiền.
                  Ở đời muốn có tình thân, đồng tiền cắc bạc chớ nên cò kè.


                  202 死生有命,富貴在天。
                  死生有命,富贵在天。
                  Tử sinh hữu mệnh, phú quý tại thiên.
                  Sống chết có số, giàu sang bởi trời.


                  203 擊石原有火,不擊乃無煙。
                  击石原有火,不击乃无烟。
                  Kích thạch nguyên hữu hỏa, bất kích nãi vô yên.
                  Đánh đá mới có lửa lên, nếu không đánh đá khói nhen cách nào.


                  204 人學始知道,不學亦徒然。
                  人学始知道,不学亦徒然。
                  Nhân học thủy tri đạo, bất học diệc đồ nhiên.
                  Học nên người biết thấp cao, nếu người không học biết bao phí hoài.


                  205 莫笑他人老,終須還到老。
                  莫笑他人老,终须还到老。
                  Mạc tiếu tha nhân lão, chung tu hoàn đáo lão.
                  Chớ cười người khác tóc pha, cuối cùng rồi cũng đến ta da mồi.
                  206 但能依本分,終須無煩惱。
                  但能依本分,终须无烦恼。
                  Đãn năng y bản phận, chung tu vô phiền não.
                  Nương theo duyên phận mà vui, thì bao phiền não không mời cũng đi.


                  207 君子愛財,取之有道。
                  君子爱财,取之有道。
                  Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo.
                  Quân tử thích tiền tài, thu dùng theo đạo lý.


                  208 貞婦愛色,納之以禮。
                  贞妇爱色,纳之以礼。
                  Trinh phụ ái sắc, nạp chi dĩ lễ.
                  Gái trinh yêu sắc đẹp, trao gửi đúng lễ nghi.


                  209 善有善報,惡有惡報, 不是不報,日子未到。
                  善有善报,恶有恶报。不是不报,日�� �未到。
                  Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo. Bất thị bất báo, nhật tử vị đáo.
                  Ở dở gặp dở, ở hay gặp hay; nếu mà chưa gặp, vì chưa đến ngày.
                  210 人而無信,不知其可也。
                  人而无信,不知其可也。
                  Nhân nhi vô tín, bất tri kỳ khả dã.
                  Người mà không có lòng tin, thì ai biết sẽ làm nên chuyện gì.

                  ...

                  Comment

                  • #10

                    Thanks, hay lắm.

                    Comment

                    • #11

                      TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN ( 211 - 240 )

                      ................................
                      211 一人道好,千人傳實。
                      一人道好,千人传实。
                      Nhất nhân đạo hảo, thiên nhân truyền thực.
                      Một người bảo tốt: để xem; nghìn người bảo tốt mới tin: thật rồi.


                      212 凡事要好,須問三老。
                      凡事要好,须问三老。
                      Phàm sự yếu hảo, tu vấn tam lão.
                      Muốn cho hoàn hảo việc ta, hãy hỏi ý kiến dăm ba cụ già.

                      213 若爭小可,便失大道。
                      若争小可,便失大道。
                      Nhược tranh tiểu khả, tiện thất đại đạo.
                      Cứ mà xét nét cỏn con, những gì đánh mất ắt còn lớn hơn.

                      214 年年防饑,夜夜防盜。
                      年年防饥,夜夜防盗。
                      Niên niên phòng cơ, dạ dạ phòng đạo.
                      Hàng năm phòng chuyện đói nghèo, hàng đêm phòng chuyện trộm theo vào nhà.

                      215學者如禾如稻,不學者如藁如草。
                      学者如禾如稻,不学者如蒿如草。
                      Học giả như hòa như đạo, bất học giả như cảo như thảo. Học như lúa nếp lúa mùa, không học cỏ dại cỏ khô ích gì

                      216 遇飲酒時須飲酒,得高歌處且高歌。
                      遇饮酒时须饮酒,得高歌处且高歌。
                      Ngộ ẩm tửu thì tu ẩm tửu, đắc cao ca xứ thả cao ca.
                      Gặp nơi cần uống nên nâng chén, vui chốn hoà ca hãy hát vang.

                      217 因風吹火,用力不多。
                      因风吹火,用力不多。
                      Nhân phong xuy hỏa, dụng lực bất đa.
                      Nhân gió thổi lửa, dùng sức không nhiều.

                      218漁父引,怎得見波濤。
                      不因渔父引,怎得见波涛。
                      Bất nhân ngư phụ dẫn, chẩm đắc kiến ba đào.
                      Ông chài nếu chẳng đưa đường,thì sao thấy biển sóng nhường ấy cao.

                      219 無求到處人情好,不飲從他酒價高。
                      无求到处人情好,不饮从他酒价高。
                      Vô cầu đáo xứ nhân tình hảo, bất ẩm tòng tha tửu giá cao.
                      Không cầu mọi chốn tình người tốt, chớ uống theo ai giá rượu cao.

                      220 知事少時煩惱少,識人多處是非多。
                      知事少时烦恼少,识人多处是非多。
                      Tri sự thiểu thì phiền não thiểu, thức nhân đa xứ thị phi đa.
                      Chuyện ít phiền não ít theo, biết nhiều người lắm càng nhiều thị phi.

                      221 入山不怕傷人虎,只怕人情兩面刀。
                      入山不怕伤人虎,只怕人情两面刀。
                      Nhập sơn bất phạ thương nhân hổ, chỉ phạ nhân tình lưỡng diện đao.
                      Chẳng lo vào núi hổ vồ, như dao hai mặt đáng lo tình người.

                      222 強中自有強中手,惡人須用惡人磨。
                      强中更有强中手,恶人须用恶人磨。
                      Cường trung cánh hữu cường trung thủ, ác nhân tu dụng ác nhân ma.
                      Người ác nên dùng người ác trị, hung cường còn kẻ hung cường hơn.

                      223 會使不在家豪富,風流不用著衣多。
                      会使不在家豪富,风流不用着衣多。
                      Hội sử bất tại gia hào phú, phong lưu bất dụng trước y đa.
                      Khéo xử đâu phải phú gia, đâu nhiều quần áo mới là phong lưu.

                      224 光陰似箭,日月如梭。
                      光阴似箭,日月如梭。
                      Quang âm tự tiễn, nhật nguyệt như thoa.
                      Thời gian như tên bắn, ngày tháng tựa thoi đưa.

                      225 天時不如地利,地利不如人和。
                      天时不如地利,地利不如人和。
                      Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa.
                      Thiên thời kém địa lợi xa, địa lợi lại kém nhân hoà xa hơn.

                      226 黃金未為貴,安樂値錢多。
                      黄金未为贵,安乐值钱多。
                      Hoàng kim vị vi quý, an lạc trị tiền đa.
                      Vàng nén phải đâu là quý giá, yên vui ấy mới thực ngàn vàng.

                      227 世上萬般皆下品,思量唯有讀書高。
                      世上万般皆下品,思量唯有读书高。
                      Thế thượng vạn ban giai hạ phẩm, tư lượng duy hữu độc thư cao.
                      Mọi nghề đều kém trên đời, duy có đọc sách ấy thời thanh cao.

                      228 世間好語書說盡,天下名山僧佔多。
                      世间好语书说尽,天下名山僧占多。
                      Thế gian hảo ngữ thư thuyết tận, thiên hạ danh sơn tăng chiếm đa.
                      Lời hay sách chép từng pho, danh sơn thiên hạ thầy tu chiếm nhiều.

                      229 為善最樂,為惡難逃。
                      为善最乐,为恶难逃。
                      Vi thiện tối lạc, vi ác nan đào.
                      Làm điều thiện rất sướng vui, làm việc ác tránh lưới trời được sao.

                      230 羊有跪乳之恩,鴉有反哺之義。
                      羊有跪乳之恩,鸦有反哺之义。
                      Dương hữu quỵ nhũ chi ân, nha hữu phản bộ chi nghĩa.
                      Ghi ơn dê biết bú quỳ, trả nghĩa quạ mớm mồi về mẹ cha.

                      231 你急他未急,人閒心不閒。
                      你急他未急,人闲心不闲。
                      Nhĩ cấp tha vị cấp, nhân nhàn tâm bất nhàn.
                      Mình vội người có vội đâu, người nhàn tâm lại chẳng nhàn vì sao.

                      232 隱惡揚善,執其兩端。
                      隐恶扬善,执其两端。
                      Ẩn ác dương thiện, chấp kỳ lưỡng đoan.
                      Nên đem điều thiện giương cao, còn như điều ác gắng sao mờ dần.

                      233 妻賢夫禍少,子孝父心寬。
                      妻贤夫祸少,子孝父心宽。
                      Thê hiền phu họa thiểu, tử hiếu phụ tâm khoan.
                      Vợ hiền chồng ít họa, con hiếu cha yên lòng.

                      234 既墜釜甑,反顧無益。
                      既坠釜甑,反顾无益。
                      Ký trụy phủ tắng, phản cố vô ích.
                      Nồi niêu rơi vỡ, ngoảnh trông ích gì.

                      235 翻覆之水,收之實難。
                      翻覆之水,收之实难。
                      Phiên phúc chi thủy, thu chi thực nan.
                      Nước nghiêng đổ đi, thu về sao được.

                      236 人生知足何時足,人老偷閒且是閒。
                      人生知足何时足,人老偷闲且是闲。
                      Nhân sinh tri túc hà thì túc, nhân lão thâu nhàn thả thị nhàn.
                      Con người biết đủ thì luôn đủ, cảnh già tạm nhàn ấy được nhàn.

                      237 但有綠楊堪繫馬,處處有路透長安。
                      但有绿杨堪系马,处处有路透长安。
                      Đãn hữu lục dương kham hệ mã, xứ xứ hữu lộ thấu trường an.
                      Chỉ cần bóng mát dừng chân ngựa, khắp nẻo đều đi được đế đô.

                      238 見者易,學者難。
                      见者易,学者难。
                      Kiến giả dị, học giả nan.
                      Trông thì dễ, học thì khó.

                      239 莫將容易得,便作等閒看。
                      莫将容易得,便作等闲看。
                      Mạc tương dung dị đắc, tiện tác đẳng nhàn khan.
                      Đừng cho có được dễ dàng, mà coi rẻ rúng xem thường xem khinh.

                      240 用心計較般般錯,退步思量事事難。
                      用心计较般般错,退步思量事事难。
                      Dụng tâm kế giảo ban ban thác, thối bộ tư lường sự sự nan.
                      Dụng tâm tính toán đều sai, khi lùi một bước thấy đầy khó khăn.

                      ...

                      Comment

                      • #12

                        TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN (241 - 270 )

                        ...................................

                        241 道路各別,養家一般。
                        道路各别,养家一般。
                        Đạo lộ các biệt, dưỡng gia nhất ban.
                        Mỗi đường đi tuy rằng khác nẻo, với gia đình một kiểu như nhau.


                        242 從儉入奢易,從奢入儉難。
                        从俭入奢易,从奢入俭难。
                        Tòng kiệm nhập xa dị, tòng xa nhập kiệm nan.
                        Tiện tằn dễ nhập xa hoa, xa hoa rất khó đổi ra tiện tằn.

                        243 知音說與知音聽,不是知音莫與彈。
                        知音说与知音听,不是知音莫与弹。
                        Tri âm thuyết dữ tri âm thính, bất thị tri âm mạc dữ đàn.
                        Tri âm chuyện với tri âm, chẳng tri âm gảy đàn cầm làm chi.

                        244 點石化為金,人心猶未足。
                        点石化为金,人心犹未足。
                        Điểm thạch hóa vi kim, nhân tâm do vị túc.
                        Biến đá cho hoá ra vàng,vẫn chưa thoả mãn lòng tham con người.

                        245 信了肚,賣了 屋。
                        信了肚,卖了屋。
                        Tín liễu đỗ, mại liễu ốc.
                        Tin vào bụng dạ, bán bỏ nhà sân.

                        246 他人觀花,不涉你目。
                        他人观花,不涉你目。
                        Tha nhân quan hoa, bất thiệp nhĩ mục.
                        Người ta ngắm hoa, mắt chàng chẳng bận

                        247 他人碌碌,不涉你足。
                        他人碌碌,不涉你足。
                        Tha nhân lục lục, bất thiệp nhĩ túc.
                        Người ta lận đận, chàng chẳng bấn chân.

                        248 誰人不愛子孫賢,誰人不愛千鐘粟。
                        谁人不爱子孙贤,谁人不爱千钟粟。
                        Thùy nhân bất ái tử tôn hiền, thùy nhân bất ái thiên chung túc.
                        Ai không thích cháu con hiền thục, ai không ưa ngàn hộc thóc kho.

                        249 莫把真心空計較,兒孫自有兒孫福。
                        莫把真心空计较,儿孙自有儿孙福。
                        Mạc bả chân tâm không kế giảo, nhi tôn tự hữu nhi tôn phúc.
                        Chẳng nên lo mãi xa gần, cháu con đã có phúc phần cháu con.

                        250 與人不和,勸人養鵝。
                        与人不和,劝人养鹅。
                        Dữ nhân bất hòa, khuyến nhân dưỡng nga.
                        Với người bất hoà, khuyên họ nuôi ngỗng.

                        251 與人不睦,勸人架屋。
                        与人不睦,劝人架屋。
                        Dữ nhân bất mục, khuyến nhân giá ốc.
                        Với người bất mục, khuyên họ chống nhà.

                        252 但行好事,莫問前程。
                        但行好事,莫问前程。
                        Đãn hành hảo sự, mạc vấn tiền trình.
                        Hãy làm những việc tốt lành, chớ không cần hỏi tiền trình làm chi.

                        253 河狹水急,人急計生。
                        河狭水急,人急计生。
                        Hà hiệp thủy cấp, nhân cấp kế sinh.
                        Sông hẹp thì nước chảy nhanh, người cơn nguy cấp nảy sinh chước mầu.

                        254 明知山有虎,莫向虎山行。
                        明知山有虎,莫向虎山行。
                        Minh tri sơn hữu hổ, mạc hướng hổ sơn hành.
                        Biết rõ cọp trong rừng, đừng qua rừng có cọp.

                        255 路不行不到,事不為不成。
                        路不行不到,事不为不成。
                        Lộ bất hành bất đáo, sự bất vi bất thành.
                        Đường không đi không đến, việc không làm không nên.


                        256 人不勸不善,鐘不打不鳴。
                        人不劝不善,钟不打不鸣。
                        Nhân bất khuyến bất thiện, chung bất đả bất minh.
                        Người không răn không thiện, chuông không đánh không rền.

                        257 無錢方斷酒,臨老始看經。
                        无钱方断酒,临老始看经。
                        Vô tiền phương đoạn tửu, lâm lão thủy khán kinh.
                        Hết tiền chừa rượu chậm rồi, già mới đọc sách chao ơi muộn màng.

                        258 點塔七層,不如暗處一燈。
                        点塔七层,不如暗处一灯。
                        Điểm tháp thất tằng, bất như ám xứ nhất đăng.
                        Thắp sáng khắp bảy tầng lầu, không bằng chỗ tối cho nhau ngọn đèn.

                        259 萬事勸人休瞞昧,舉頭三尺有神明。
                        万事劝人休瞒昧,举头三尺有神明。
                        Vạn sự khuyến nhân hưu man muội, cử đầu tam xích hữu thần minh.
                        Muôn sự khuyên ai đừng ám muội, ngẩng đầu ba thước có thần minh.

                        260 但存方寸土,留與子孫耕。
                        但存方寸土,留与子孙耕。
                        Đãn tồn phương thốn thổ, lưu dữ tử tôn canh.
                        Những còn tấc đất dày âm đức, để lại cho con cháu cấy cày.

                        261 滅卻心頭火,剔起佛前燈。
                        灭却心头火,剔起佛前灯。
                        Diệt khước tâm đầu hỏa, tích khởi Phật tiền đăng.
                        Nếu hay dập tắt lửa lòng, thì là ta đã đèn chong phật tiền.

                        262 惺惺常不足,懵懵作公卿。
                        惺惺常不足,懵懵作公卿。
                        Tinh tinh thường bất túc, mộng mộng tác công khanh.
                        Sành sõi thì thường không đủ sống, lơ mơ hoá lại được công khanh.

                        263 眾星朗朗,不如孤月獨明。
                        众星朗朗,不如孤月独明。
                        Chúng tinh lãng lãng, bất như cô nguyệt độc minh.
                        Muôn sao lấp lánh đầy trời, không bằng một mảnh trăng soi khắp vùng.

                        264 兄弟相害,不如自生。
                        兄弟相害,不如自生。
                        Huynh đệ tương hại, bất như tự sinh.
                        Anh em cành lại lấn cành, sao bằng tự lực một mình còn hơn.

                        265 合理可作,小利莫爭。
                        合理可作,小利莫争。
                        Hợp lý khả tác, tiểu lợi mạc tranh.
                        Những điều hợp lý nên làm, những món lợi nhỏ chớ tham tranh giành.

                        266 牡丹花好空入目,棗花雖小結實成。
                        牡丹花好空入目,枣花虽小结实成。
                        Mẫu đơn hoa hảo không nhập mục, táo hoa tuy tiểu kết thật thành.
                        Mẫu đơn hoa đẹp ngắm chơi, táo hoa nhỏ xíu nhưng rồi có ăn.

                        267 欺老莫欺小,欺人心不明。
                        欺老莫欺小,欺人心不明。
                        Khi lão mạc khi tiểu, khi nhân tâm bất minh.
                        Dối già chớ dối trẻ con, dối người lòng dạ đâu còn thông minh.

                        268 隨分耕鋤收地利,他時飽暖謝蒼天。
                        随分耕锄收地利,他时饱暖谢苍天。
                        Tùy phận canh sừ thu địa lợi, tha thì bão noãn tạ thương thiên.
                        Yên phận cày bừa thu hoạch khá, gặp thời no ấm tạ trời xanh.

                        269 得忍且忍,得耐且耐。
                        得忍且忍,得耐且耐。
                        Đắc nhẫn thả nhẫn, đắc nại thả nại.
                        Cần nhịn thì nhịn, cần nín thì nín.

                        270 不忍不耐,小事成大。
                        不忍不耐,小事成大。
                        Bất nhẫn bất nại, tiểu sự thành đại.
                        Không nhịn không nín, việc nhỏ thành lớn.

                        ................................

                        Comment

                        • #13

                          TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN (271 - 300 )

                          ................................
                          271 相論逞英雄,家計漸漸退。
                          相论逞英雄,家计渐渐退。
                          Tương luận sính anh hùng, gia kế tiệm tiệm thoái.
                          Bàn luận ra vẻ anh hùng, thì rồi gia kế coi chừng đi lui.

                          272 賢婦令夫貴,惡婦令夫敗。
                          贤妇令夫贵,恶妇令夫败。
                          Hiền phụ lệnh phu quý, ác phụ lệnh phu bại.
                          Vợ hiền chồng được giàu sang, vợ ác chồng phải tan hoang cửa nhà.

                          273 一人有慶,兆民咸賴。
                          一人有庆,兆民咸赖。
                          Nhất nhân hữu khánh, triệu dân hàm lại.
                          Một người có phúc đứng đầu, triệu dân trông cậy ơn sâu đời đời.

                          274 人老心未老,人窮志莫窮。
                          人老心未老,人穷志莫穷。
                          Nhân lão tâm vị lão, nhân cùng chí mạc cùng.
                          Người già lòng vẫn trẻ trung, người quẫn nhưng chí chẳng cùng mới hay.

                          275 人無千日好,花無百日紅。
                          人无千日好,花无百日红。
                          Nhân vô thiên nhật hảo, hoa vô bách nhật hồng.
                          Người không tốt cả nghìn ngày, hoa không giữ đủ trăm ngày thắm tươi.

                          276 殺人可恕,情理難容。
                          杀人可恕,情理难容。
                          Sát nhân khả thứ, tình lý nan dung.
                          Giết người sao có thể tha, cả tình cả lý hai đà không dung.

                          277 乍富不如新受用,乍貧難改舊家風。
                          乍富不如新受用,乍贫难改旧家风。
                          Sạ phú bất như tân thụ dụng, sạ bần nan cải cựu gia phong.
                          Mới giàu sướng nhất tiêu pha, mới nghèo khó đổi nếp nhà xa xưa.

                          278 座上客常滿,樽中酒不空。
                          座上客常满,樽中酒不空。
                          Tọa thượng khách thường mãn, tôn trung tửu bất không.
                          Khách vui kín cả chỗ ngồi, rượu vui chớ để chén vơi cầm chừng.

                          279 屋漏更遭連年雨,行船又遇打頭風。
                          屋漏更遭连年雨,行船又遇打头风。
                          Ốc lậu cánh tao liên niên vũ, hành thuyền hựu ngộ đả đầu phong.
                          Nhà dột lại gặp mưa dầm, đi thuyền lại bị gió đâm ngang đầu.

                          280 筍因落籜方成竹,魚為奔波始化龍。
                          笋因落箨方成竹,鱼为奔波始化龙。
                          Duẩn nhân lạc thác phương thành trúc, ngư vị bôn ba thủy hóa long.
                          Măng do bóc bẹ nên thành trúc, cá có bôn ba mới hoá rồng.

                          281 記得少年騎竹馬,看看又是白頭翁。
                          记得少年骑竹马,看看又是白头翁。
                          Ký đắc thiếu niên kỵ trúc mã, khán khán hựu thị bạch đầu ông.
                          Nhớ hồi ngựa trúc nhong nhong, nhìn xem giờ đã nên ông bạc đầu.

                          282 禮義生於富足,盜賊出於貧窮。
                          礼义生于富足,盗贼出于贫穷。
                          Lễ nghĩa sanh ư phú túc, đạo tặc xuất ư bần cùng.
                          Lễ nghĩa sinh tự giàu sang, trộm cướp nảy tự bần cùng mà ra.

                          283 天上眾星皆拱北,世間無水不朝東。
                          天上众星皆拱北,世间无水不朝东。
                          Thiên thượng chúng tinh giai củng bắc, thế gian vô thủy bất triều đông.
                          Trên trời muôn sao chầu Bắc đẩu, thế gian mọi dòng chảy về Đông.

                          284 君子安貧,達人知命。
                          君子安平,达人知命。
                          Quân tử an bần, đạt nhân tri mệnh.
                          Quân tử vui với cảnh nghèo, thấu tình người thể thuận theo lẽ đời.

                          285 忠言逆耳利於行,良藥苦口利於病。
                          忠言逆耳利于行,良药苦口利于病。
                          Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành, lương dược khổ khẩu lợi ư bệnh.
                          Lời thẳng trái tai mau được việc, thuốc hay đắng miệng khỏi cơn đau.

                          286 順天者存,逆天者亡。
                          顺天者存,逆天者亡。
                          Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong.
                          Thuận với tự nhiên thì tồn tại, chẳng theo quy luật ắt tiêu vong.

                          287 人貪財則死,鳥貪食則亡。
                          人为财死,鸟为食亡。
                          Nhân tham tài tắc tử, điểu tham thực tắc vong.
                          Người vì tham của chết oan, chim vì tham thực vạ mang vào mình.

                          288 夫妻相合好,琴瑟與笙簧。
                          夫妻相合好,琴瑟与笙簧。
                          Phu thê tương hợp hảo, cầm sắt dữ sênh hoàng.
                          Vợ chồng vui vẻ thuận hoà, khác nào đàn nhị sênh ca nhịp nhàng.

                          289 有兒貧不久,無子富不長。
                          有儿贫不久,无子富不长。
                          Hữu nhi bần bất cửu, vô tử phú bất trường.
                          Có con nghèo cũng chẳng lâu, không con thì dẫu có giầu chẳng dai.

                          290 善必壽老,惡必早亡。
                          善必寿老,恶必早亡。
                          Thiện tất thọ lão, ác tất tảo vong.
                          Ở lành ắt hẳn sống lâu, ở ác ắt hẳn chết mau chẳng chầy.

                          291 爽口食多偏作病,快心事過恐生殃。
                          爽口食多偏作病,快心事过恐生殃。
                          Sảng khẩu thực đa thiên tác bệnh, khoái tâm sự quá khủng sinh ương.
                          Sướng miệng ăn nhiều sinh bệnh tật, việc khi vui quá sợ tai ương.

                          292 富貴定要安本分,貧窮不必枉思量。
                          富贵定要安本分,贫穷不必枉思量。
                          Phú quý định yếu an bản phận, bần cùng bất tất uổng tư lương.
                          Giàu sang được phận giàu sang, nghèo nàn cũng mặc nhọc lòng làm chi.

                          293 畫水無風空作浪,繡花雖好不聞香。
                          画水无风空作浪,绣花虽好不闻香。
                          Họa thủy vô phong không tác lãng, tú hoa tuy hảo bất văn hương.
                          Nước vẽ gió không mà có sóng, hoa thêu đẹp vậy thiếu mùi hương.

                          294 貪他一斗米,失卻半年糧。
                          贪他一斗米,失却半年粮。
                          Tham tha nhất đẩu mễ, thất khước bán niên lương.
                          Vì tham một đấu gạo thôi, để cho mất nửa năm trời thóc lương.

                          295 爭他一腳豚,反失一肘羊。
                          争他一脚豚,反失一肘羊。
                          Tranh tha nhất cước đồn, phản thất nhất trửu dương.
                          Tranh giành một cẳng lợn lòi, trở thành mất đứt một đùi sơn dương.

                          296 龍歸晚洞雲猶濕,麝過春山草木香。
                          龙归晚洞云犹湿,麝过春山草木香。
                          Long quy vãn động vân do thấp, xạ quá xuân sơn thảo mộc hương.
                          Rồng về động cũ mây còn ẩm, cày vượt rừng xuân cỏ vẫn thơm.

                          297 平生只會量人短,何不回頭把自量。
                          平生只会量人短,何不回头把自量。
                          Bình sinh chỉ hội lượng nhân đoản, hà bất hồi đầu bả tự lường.
                          Chuyên đi xét nét lỗi người, sao không quay lại mà soi lòng mình.

                          298 見善如不及,見惡如探湯。
                          见善如不及,见恶如探汤。
                          Kiến thiện như bất cập, kiến ác như thám thang.
                          Thấy lành, lo chậm tham gia; thấy ác, chạm nước nóng già, rụt tay.

                          299 人貧志短,馬瘦毛長。
                          人贫志短,马瘦毛长。
                          Nhân bần chí đoản, mã sấu mao trường.
                          Người nghèo chí khí cũng nông, ngựa gầy trông đến bộ lông cũng dài.

                          300 自家心裡急,他人未知忙。
                          自家心里急,他人未知忙。
                          Tự gia tâm lý cấp, tha nhân vị tri mang.
                          Tự trong nhà rối bòng bong, người ngoài đã biết vân mòng nào đâu.


                          ............................

                          Comment

                          • #14

                            TĂNG QUẢNG HIỀN VĂN (301 -325 )

                            .....................

                            301 貧無達士將金贈,病有高人說藥方。
                            贫无达士将金赠,病有高人说药方。
                            Bần vô đạt sĩ tương kim tặng, bệnh hữu cao nhân thuyết dược phương.
                            Nghèo không kẻ tốt mang vàng giúp, bệnh sẵn người lành mách thuốc cho.


                            302 觸來莫與說,事過心清涼。
                            触来莫与说,事过心清凉。
                            Xúc lai mạc dữ thuyết, sự quá tâm thanh lương.
                            Gặp va chạm chẳng đối lời, việc qua đi dạ thảnh thơi thanh nhàn.

                            303 秋至滿山多秀色,春來無處不花香。
                            秋至满山多秀色,春来无处不花香。
                            Thu chí mãn sơn đa tú sắc, xuân lai vô xứ bất hoa hương.
                            Thu tới núi rừng màu sắc đẹp, xuân về khắp chốn ngát hoa hương.

                            304 凡人不可貌相,海水不可斗量。
                            凡人不可貌相,海水不可斗量。
                            Phàm nhân bất khả mạo tướng, hải thủy bất khả đẩu lường.
                            Người ta không thể tin tướng mặt, nước biển làm sao lấy đấu đong.

                            305 清清之水,為土所防。
                            清清之水,为土所防。
                            Thanh thanh chi thủy, vi thổ sở phòng.
                            Dòng nước trong xanh, bị bờ đất chắn.

                            306 濟濟之士,為酒所傷。
                            济济之士,为酒所伤。
                            Tế tế chi sĩ , vị tửu sở thương .
                            Kẻ sĩ đứng đắn, vì rượu ngả nghiêng.

                            307 蒿草之下,或有蘭香。
                            蒿草之下,或有兰香。
                            Khao thảo chi hạ, hoặc hữu lan hương.
                            Hoặc có hoa lan giữa vùng cỏ dại.

                            308 茅茨之屋,或有侯王。
                            茅茨之屋,或有侯王。
                            Mao từ chi ốc, hoặc hữu hầu vương.
                            Hoặc có công hầu dưới mái nhà tranh.

                            309 無限朱門生餓殍,幾多白屋出公卿。
                            无限朱门生饿殍,几多白屋出公卿。
                            Vô hạn chu môn sanh ngạ biễu, kỷ đa bạch ốc xuất công khanh.
                            Biết bao cửa son sinh đói rách, có nhiều lều nát nảy công khanh.

                            310 醉後乾坤大,壺中日月長。
                            醉后乾坤大,壶中日月长。
                            Túy hậu kiền khôn đại, hồ trung nhật nguyệt trường.
                            Tỉnh rượu trời đất cao rộng quá, trong say ngày tháng thảnh thơi thay.

                            311 萬事皆已定,浮生空白茫。
                            万事皆已定,浮生空白茫。
                            Vạn sự giai dĩ định, phù sinh không bạch mang. Vạn sự trên đời như định sẵn, khổ cho cuộc sống cứ lo toan.

                            312 千里送毫毛,禮輕仁義重。
                            千里送毫毛,礼轻仁义重。
                            Thiên lý tống hào mao, lễ khinh nhân nghĩa trọng.
                            Cỏn con nghìn dặm gửi đi, lễ kia nặng một tình này gấp trăm.

                            313 一人傳虛,百人傳實。
                            一人传虚,百人传实。
                            Nhất nhân truyền hư, bách nhân truyền thật.
                            Một người truyền chuyện không đâu, trăm người truyền lại thực hầu như in.

                            314 世事明如鏡,前程暗似漆。
                            世事明如镜,前程暗似漆。
                            Thế sự minh như kính, tiền trình ám tự tất.
                            Việc đời sáng tự tấm gương, mà đường phía trước tối nhường sơn đen.

                            315 光陰黃金難買,一世如駒過隙。
                            光阴黄金难买,一世如驹过隙。
                            Quang âm hoàng kim nan mãi, nhứt thế như câu quá khích.
                            Thời gian quí báu hơn vàng, cuộc đời bóng ngựa qua song chóng tàn.

                            316 良田萬顷,日食一升。
                            良田万顷,日食一升。
                            Lương điền vạn khoảnh, nhật thực nhất thăng.
                            Vạn khoảnh ruộng liền, ngày ăn một đấu.

                            317 大廈千間,夜眠八尺。
                            大厦千间,夜眠八尺。
                            Đại hạ thiên gian, dạ miên bát xích.
                            Nghìn gian nhà rộng, đêm ngủ nửa gian.

                            318 千經萬典,孝義為先。
                            千经万典,孝义为先。
                            Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên.
                            Nghìn kinh vạn điển dẫu nhiều, nhưng điều hiếu nghĩa là điều trước tiên.

                            319 一字入公門,九牛拖不出。
                            一字入公门,九牛拖不出。
                            Nhất tự nhập công môn, cửu ngưu đà bất xuất.
                            Một chữ đưa vào cửa công, dẫu chín trâu khoẻ chớ hòng lối ra.

                            320 衙門八字開,有理無錢莫進來。
                            衙门八字开,有理无钱莫进来。
                            Nha môn bát tự khai, hữu lý vô tiền mạc tiến lai.
                            Cửa nha môn mở công khai, lý nhiều tiền ít chớ hoài tới nơi.

                            321 富從升合起,貧因不算來。
                            富从升合起,贫因不算来。
                            Phú tòng thăng hợp khởi, bần nhân bất toán lai.
                            Giàu gom từng đấu mà nên, nghèo vì tính toán ta xem kém người.

                            322 家中無才子,官從何處來。
                            家中无才子,官从何处来。
                            Gia trung vô tài tử, quan tòng hà xứ lai.
                            Trong nhà con chẳng tài năng, muốn nên quan hỏi mở đường từ đâu.

                            323 萬事不由人計較,一生都是命安排。
                            万事不由人计较,一生都是命安排。
                            Vạn sự bất do nhân kế giảo, nhất sinh đô thị mệnh an bài.
                            Muôn việc phải đâu người tính rắp, một đời như đã sắp bài xong.

                            324 急行慢行,前程只有多少路。
                            急行慢行,前程只有多少路。
                            Cấp hành mạn hành, tiền trình chỉ hữu đa thiểu lộ.
                            Dù ai đi chậm đi nhanh, đoạn đường phía trước rành rành bấy nhiêu.

                            325 人間私語,天聞若雷。
                            人间私语,天闻若雷。
                            Nhân gian tư ngữ, thiên văn nhược lôi.
                            Chuyện kín thế gian, trời nghe tựa sấm.


                            ...................

                            Comment

                            Working...
                            X
                            Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom