• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Tưởng Mắt Em Buồn

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Tưởng Mắt Em Buồn

    Tưởng Mắt Em Buồn



    Tôi đọc nhiều thơ nhưng không thuộc, chỉ nhớ lõm bõm, tôi thường kể Thơ sai trong những bài tôi viết. Tôi bị các bạn phê bình:
    “Cậu chuyên kể Thơ sai mà cậu lại cứ thích kể Thơ..”
    Trước năm 1946 tôi đã được đọc nhiều Thơ, tôi đã thuộc một số bài Thơ, tôi cảm và thuộc nhiều Thơ Xuân Diệu, Thơ Huy Cận, nhưng tôi không được đọc qua một bài thơ nào của Thi Sĩ Đinh Hùng.
    Những năm 1960 ở Bin-đinh Cửu Long, Đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn Đẹp Lắm Sài Gòn ơi.. ông Văn sĩ Thanh Nam nói với tôi:
    “Nỗi bực bội nhất của Đinh Hùng là Đinh Hùng không có Thơ trong Thi Nhân Việt Nam..”
    Đông Hồ, Bàng Bá Lân có Thơ trong Thi Nhân Việt Nam, vài người khác không xứng đáng được có Thơ trong TNVN như Mộng Tuyết, Vân Đài, Phan Khắc Khoan, Hằng Phương cũng mỗi người được hai trang. Riêng Đinh Hùng không có trang nào, không có bài Thơ nào trong Thi Nhân Việt Nam, tác giả Hoài Thanh.
    Rất có thể nguyên nhân làm Đinh Hùng không có Thơ trong TNVN vì ông làm Thơ sau năm 1942 là năm Hoài Thanh — Hoài Chân xuất bản Thi Nhân Việt Nam? Rất tiếc bốn mươi mùa sầu riêng trổ gai trước đây khi Thi Sĩ Đinh Hùng còn sống, tôi còn được gập Thi Sĩ luôn, tôi đã không hỏi ông bài thơ thứ nhất đăng báo của ông là bài nào, đăng năm nào. Và ông nghĩ gì, ông nói sao về chuyện không có Thi sĩ Đinh Hùng trong Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh-Hoài Chân?

    Năm 1951 ở Sài Gòn, một anh bạn tôi — anh chẳng dzăng nghệ, dzăng gừng chi cả nhưng ông thân anh là nhà kinh doanh Sài Gòn-Hà Nội nên ông có mua năm vài tờ báo Hà Nội. Bạn tôi cho tôi xem một bài thơ đăng trong một tờ báo Hà Nội, anh nói:
    - Bài thơ này hay quá.
    Chưa đầy Hai Bó Tuổi Đời, mới Mười Tám, Mười Chín Que chi đó, lần thứ nhất tôi đọc Thơ Đinh Hùng trong vườn nhà bạn tôi ở đường Barbé — Sau 1956 đường Barbé trở thành đường Lê Quí Đôn, vi-la bạn tôi ở trước cửa tòa nhà Sở Thông Tin Hoa Kỳ số 8 Lê Quí Đôn — con đường nhiều hàng cây sao thân thẳng vút, lá xanh. Năm ấy cây xanh cho đến bi giờ cây lá Barbé-Lê Quí Đôn vẫn cứ xanh — Thơ như vầy bạn tôi không kêu hay loạn cào cào sao được:
    T
    a thường có những buổi sầu ghê gớm
    Ở bên em.. – Ôi biển sắc, rừng hương
    Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm
    Em đến đây như đến tự thiên đường.
    Những buổi đó, ta nhìn em kinh ngạc
    Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly
    Ôi mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ
    Ta trông đó thấy trời ta mơ ước.
    Thấy cả bóng một vầng đông thuở trước
    Cả con đường sao mọc lúc ta đi
    Cả chiều sương mây phủ lối ta về
    Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ…
    ……………

    Năm 1954 Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, anh rể của Thi Sĩ Đinh Hùng — cùng Thi Sĩ Đinh Hùng di cư vào Sài Gòn. Năm thứ nhất ở Sài Gòn hai ông mướn nhà ở khu sau rạp Xi-nê Thanh Vân đường Lê văn Duyệt, Hòa Hưng. Năm ấy nhà tôi cũng ở khu này. Tôi biết nhà hai ông nhưng tôi không được gập hai ông vì tôi đang ở Lính — Lính Đệ Nhất Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền Tay Súng Thompson-Tay Đàn Ghi-ta Phòng Năm Bộ Tổng Tham Mưu — và vì tuy tôi đã có vài bài thơ, vài truyện ngắn được đăng báo, tôi được Giải Nhất Cuộc Thi Viết Truyện Ngắn Năm 1952 của Nhật Báo Tiếng Dội, tôi vẫn còn là một thứ Văn Nghệ Mầm Non chưa có quyền được léng méng đến gần mép chiếu những Nhà Văn Nhà Thơ Lớn.

    Năm 1955 khi ông Ngô Đình Diệm còn là Thủ Tướng và đang bị những nhóm Nguyễn văn Hinh, Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo chống đối, khi Bộ Trưởng Bộ Thông Tin là ông Phạm Xuân Thái, một tối Nguyễn Ngọc Tú, người về sau là Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già The Godfather — Tú đã chết khoảng năm 1979 ở Trại Cải Tạo Phú Khánh, rủ tôi đến Rạp Thống Nhất xem buổi trình diễn văn nghệ có tầm cỡ quốc gia lần thứ nhất được tổ chức ở Saigòn.
    Đêm văn nghệ trình diễn vở kịch “Dưới Bóng Thánh Giá” — tác giả vở kịch này là Hoàng Trọng Miên. Nghe nói vở kịch này được Hoàng Trọng Miên viết trong những năm 1968, 1949 ở khu Việt Minh, vở kịch đã được diễn ở vùng Kháng Chiến Khu Ba, Khu Tư. Vở Kịch có nột dung đả kích giới Giáo sĩ Thiên Chuá Giáo. Nhân viên Bộ Thông Tin không biết chuyện đó nên cho diễn “Dưới Bóng Thánh Giá.” Gần đến ngày trình diễn Bộ Thông Tin mới biết và mới hủy buổi diễn.
    Đó là nguyên nhân làm cho Hoàng Trọng Miên thấy anh bị trù ếm, hãm hại và anh trở thành kẻ thù của gia đình họ Ngô. Năm 1965 Hoàng Trọng Miên viết tiểu thuyết “Bà Cố Vấn” — sau đổi sang tên “Đệ Nhất Phu Nhân,” truyện mạ lỵ, bịa đặt, vu cáo bà Trần Lệ Xuân đủ thứ tội lỗi. “Bà Cố Vấn” được đăng trên nhật báo Quyết Tiền của chủ nhiệm Hồ Văn Dồng, được xuất bản thành sách — và năm 2000 được tái bản ở Cali, Hoa Kỳ.
    Tôi không nhớ đếm ấy vở kịch tên gì, ai là tác giả, được diễn thay Kịch “Dướng Bóng Thánh Giá” của Hoàng Trọng Miên, tôi chỉ nhớ đêm đó là ần thứ nhất và cũng là lần duy nhất kiêm lần cuối cùng tôi được xem màn Vũ “Trấn Thủ Lưu Đồn” của Hoàng Thư, xem Vũ Đức Duy, Võ Đức Diên đóng kịch.
    Tôi được thấy hai anh Thiếu Lang, Hoàng Năm diễn xuất từ năm 1953 vì hai anh là nhân viên Đài Phát Thanh Quân Đội từng nhiều lần đi công tác với Đại Đội Võ Trang Tuyên Truyền trong đó có tôi.
    Nguyễn Ngọc Tú bằng tuổi tôi nhưng sắc sảo, từng trải hơn tôi nhiều. Ra cái điều ta đây cũng là dzăng nghệ sĩ chứ hổng phải là khán giả thường dân, anh vào hậu trường nhà hát. Tôi lớ ngớ vào theo anh. Đang đứng láo ngáo tôi nghe Tú hỏi:
    - Mày gập Đinh Hùng lần nào chưa?
    Không đợi tôi trả lời, anh nói:
    - Đinh Hùng nè..
    Tôi gập Đinh Hùng lần thứ nhất trong hậu trường rạp Thống Nhất. Tối hôm ấy láo nháo tôi không được nói gì nhiều với Thi Sĩ, tôi chỉ được Nhà Thơ cho cái bắt tay xã giao. Tôi cũng không có thì giờ quan sát diện mạo ông nhiều. Chỉ thấy ông dáng người nhỏ nhắn, tóc dài, mặc vét-tông, tay xách cái cặp da.
    Hai ba mùa thu lá bay theo nhau qua. Năm 1956 tôi viết Vũ Nữ Sài Gòn trên Văn Nghệ Tiền Phong, Chiếc Hôn Tử Biệt, Kiều Giang trên Ngôn Luận, tôi làm nhân viên Tòa Soạn Nhật Báo Sàigòn Mới. Không biết vào lúc nào tôi được các văn nghệ sĩ đàn anh công nhận là văn nghệ sĩ. Một chiều thứ Bảy năm 1958 tôi đến dự một buổi nói chuyện Dzăng Nghệ Dzăng Gừng tổ chức tại cái gọi là Câu Lạc Bộ Văn Nghệ Sĩ ở đường Tự Do — Ông Phạm Xuân Thái, Bộ Trưởng Thông Tin chính phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm — được giao quyền làm chủ Câu Lạc Bộ này. Tan hàng, trời bắt đầu tối lại lướt thướt mưa. Vũ Khắc Khoan có một câu tả cảnh những buổi hoàng hôn lướt thướt mưa như thế này:
    Mỗi lúc hoàng hôn xuống
    Là giờ viễn khách đi… hít.
    VêKaKa còn có một câu nữa về Thơ Đinh Hùng:
    - Từ giã hoàng hôn trong mắt em
    Ta đi về những phố không đèn…
    Đi về những phố không đèn làm cái gì? Đinh Hùng là phải đi về những phố có đèn chứ.
    Đinh Hùng và tôi đứng trên hiên Câu Lạc Bộ nhìn ra con đường Tự Do loáng ướt nước mưa. Gió lạnh làm những hàng cây me rùng mình. Đinh Hùng cười với tôi:

    - Mình đi chơi đi?
    Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Tôi chịu ngay. Thời ấy pháp luật Việt Nam Cộng Hòa trừng trị tội hút thuốc phiện rất nghiêm khắc. Việc Hít Tô Phê bị coi là một trọng tội. Đệ tử Cô Ba bị tó quả tớm bên bàn đọi là phải ra tòa, có án, vào tù Chí Hòa đàng hoàng. Công chức, quân nhân nghiện hút bị bắt bị sa thải ngay lập tức. Tôi có chiếc xe Jeep quân đội phế thải nên có phương tiện đi với Đinh Hùng, đúng ra là đưa Đinh Hùng vào tận Khu Cây Da Sà Phú Lâm, trên đường đi Đức Hòa, Đức Huệ. Cây Da Sà là khu định cư của người Nùng, người Tầu Bắc Việt di cư. Ở đầu khu có Cây Da, rễ cây sà xuống đất nên khu có tên là Khu Cây Da Sà. Vì ở ngoại vi Sài Gòn-Gia Định, riêng biệt giữa đồng nên Cây Da Sà được tương đối dung dưỡng và tự do với hai mục Tứ đổ tường: Yên và Đổ: Cờ Bịch và Hít Tốp. Khứa Cờ Bịch và Hít Tốp thường lạnh lùng với hai món Tửu Sắc — Rượu, Đàn Bà — nên hai món này không có mặt trong Khu Cây Da Sà.
    Khoảng chín giờ tối từ giã Cây Da Sà với những bàn đèn á phiện, chúng tôi trở về Sài Gòn. Tôi theo Đinh Hùng lên Phòng Trà Ca Nhạc Hòa Bình trước Chợ Bến Thành — Phòng Trà trên lầu, dưới là nhà gửi xe hai bánh giữ xe qua đêm, suốt tuần — Nhạc sĩ Ngọc Bích là Xếp Ban Nhạc chơi cho Phòng Trà Hòa Bình. Ban nhạc có Tường Bẩn đứng búng cây contrebasse, Nữ ca sỡi Ngân Hà, Trúc Mai. Ở đây có một cái bàn dành riêng cho văn nghệ sĩ ở bên cạnh bục nhạc. Gọi là Phòng Trà Ca Nhạc nhưng Hòa Bình có bán cả thức ăn. Đinh Hùng ăn rất ít. Hút xong anh chỉ thích và cần uống. Anh nói:
    “Trong người mình nó khô rang như đất bị nung, rượu vào như mưa mát lạnh..”
    Có tiền anh uống Cognac, thường thường anh uống bia 33.
    Những năm xưa ấy tôi chưa biết uống rượu nên không biết tửu lượng của Đinh Hùng ra sao. Anh kể cho tôi nghe chuyện anh uống rượu thi với Lê Văn Trương ở Hồ Tây Hà Nội những năm trước 1946. Ai thua phải quì gối dâng rượu cho người thắng. Nhiều lần Lê Văn Trương phải quì dâng rượu cho anh. Anh tả những đêm trăng bên bờ Hồ Tây rượu say anh và mấy ông thi sĩ ở truồng nằm ngoài trời. Mấy ông gọi trò đó là trò Tắm Trăng. Mấy ông lý luận “người ta đua nhau tắm nắng, tại sao mình lại không tắm trăng?”
    Trong số những người viết truyện nổi lên cùng thời với tôi hay sau tôi vài năm: Nguyễn Đình Toàn, Duyên Anh, Lê Xuyên, Lã Phi Khanh, Nguyễn Thụy Long… chỉ có tôi là đệ tử của Cô Ba Phù Dung. Tôi có nhiều giờ nằm bên bàn đọi đối diện với hai anh Nguyễn Mạnh Côn, Đinh Hùng và trò chuyện, tâm sự với hai anh. Trường hợp tôi đi chơi với anh Côn cũng tương tự như khi tôi đi với anh Hùng. Một chiều gập anh Côn ở Tòa Soạn Văn Nghệ Tiền Phong, anh và tôi cũng đến lấy tiền bài. Trên vỉa hè anh hỏi tôi:
    - Mình đi chơi nhé?
    “Đi chơi” đây là “ đi hút.”
    Những năm trước 1945 Đinh Hùng từng đóng vai thiếu nữ trong Kịch Thơ “Vân Muội” của Vũ Hoàng Chương. Kịch trình diễn trên sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội đàng hoàng. Anh đúng là mẫu người thi sĩ: ăn nói nhỏ nhẹ, dịu dàng, tươi cười, hòa nhã với mọi người, không sài tiếng Đức, không ăn to, nói lớn cũng không văng tục, cáu giận. Chữ anh viết rất đẹp và rõ. Bản thảo tiểu thuyết của anh trang trọng như một bản văn để dành cho hậu thế. Những năm đầu sau 1954 anh viết hai tiểu thuyết dã sử đăng trên các báo Tự Do, Ngôn Luận: “Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu” và “Người Đao Phủ Thành Đại La”.
    Có lần anh nói:

    - Các cậu đọc Kim Dung các cậu ca tụng Băng Hỏa Đảo của Kim Dung, các cậu không biết tôi đã từng tả một hải đảo như thế trong truyện của tôi từ những năm 55, 56.
    Cũng trong mấy năm đầu sau 54 anh làm thơ trào phúng với bút hiệu Thần Đăng trên hai nhật báo Tự Do, Ngôn Luận. Từ 1958 anh dành hết thì giờ vào việc biên tập mục Thi Văn Tao Đàn trên Đài Phát Thanh Quốc Gia.
    Nhà anh ở đường Trần văn Thạch bên chợ Tân Định. Sau thời gian ở khu Hòa Hưng sau rạp hát Thanh Vân, anh dọn về nhà này và ở đây cho đến ngày anh tạ thế. Tôi có đến nhà anh nằm phi và ăn cơm với anh mấy lần. Một lần tôi đến đón anh đi. Mời tôi hút vài cặp xong anh nói:
    - Cậu nằm đây moa sửa soạn..
    Anh lấy chai Eau de Cologne và gói bông gòn ra bên bàn đọi. Anh xé bông gòn, tẩm nước Cologne lau chùi mặt, cổ, hai cổ tay. Nhìn anh, tôi nghĩ thầm:
    “Cần đi đâu Thi sĩ chùi dầu chứ không có tắm hay rửa mặt, rửa tay chi cả.. Cũng sạch thôi. Chuyên mặc sơ-mi dài tay, thắt ca-vát, áo veston, mặt, tai cổ, hai tay sạch trắng là được rồi”.
    Một chuyện về đời tư Xuân Diệu làm tôi nhớ anh Đinh Hùng. Chuyện rằng Xuân Diệu tham ăn và đớp rất khỏe. Trong những buổi sinh hoạt Dzăng Nghệ Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa ban tổ chức thường chiêu đãi người dự bằng bánh bao, bánh mì cho tiện, khỏi phải dùng đũa bát. Số bánh bao được tính đúng với số khách dự: Mỗi người một bánh. Xuân Diệu ăn tục đớp hai miếng hết cái bánh của mình vồ luôn cái bánh thứ hai. Vì Xuân Diệu đớp hai nên trong số khách có một người không được ăn. Ai đó tức cảnh — bèn mần bài thơ:

    Nào có ra gì cái bánh bao
    Nhà thơ mà cũng háu ăn sao
    Người ta một cái, ông hai cái
    Thơ chửa ra cho bánh đã vào.

    Những năm 1960 Đinh Hùng kể với tôi:
    - Đêm Ba Mươi Tết.. Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu và tôi về quê của Thạch Lam thăm Thạch Lam. Nhà Thạch Lam nấu bánh chưng. Thạch Lam giữ chúng tôi ở lại chơi chờ vớt bánh ăn bánh rồi hãy về. Khi ăn bánh ông Chương và tôi mỗi người ăn không hết một góc. Xuân Diệu một mình ăn hết hai cái. Từ đó mỗi lần ăn uống với Thạch Lam, nhắc lại chuyện ấy, Thạch Lam nói: “Hãy cho tôi thấy anh ăn uống ra sao, tôi sẽ nói cho anh biết con người anh như thế nào”.
    Anh kể cho tôi nghe một chuyện về Đoàn Phú Tứ:
    - Năm ấy bọn chúng tôi chơi ở nhà anh X.. Đoàn Phú Tứ thỉnh thoảng cũng đến. Hắn không nghiện, hút tài tử thôi. Nhưng không chịu chi, chỉ chờ được mời. Hôm ấy anh ta nói với chủ bàn đọi:
    - Thứ bẩy này tôi tôi mang lên cho cậu một hộp mười.
    Hộp mười là cái hộp đựng thuốc phiện bằng đồng thời Pháp, thuốc bên trong nặng 10 đồng cân. Dân Hít Tô Phe mà nghe nói có người cho một Hộp Đồng Mười Đồng Cân, gọi tắt là Hộp Mười, là hai mắt sáng rực như đèn pha xe ô tô. Bọn tôi lấy làm lạ. Đoàn Phú Tứ lấy đâu ra Hộp Mười mà đem cho sộp thế này? Đúng hẹn thứ bẩy chúng tôi có mặt chờ xem. Đoàn Phú Tứ đem hộp đồng đến thật. Nhưng cái hộp đồng này là cái hộp đồng người ta lấy hết thuốc ra rồi, chỉ còn cái vỏ đồng rỗng. Dân Hít dùng cái vỏ hộp đồng làm ngao đựng thuốc phiện khi hút.
    Anh kể một chuyện về Hồ Dzếnh:
    - Hồ Dzếnh theo âm Tầu là Hồ Dzính. Anh ta khoái Cộng Sản. Việt Minh cướp chính quyền, Hồ Dzính viết mấy bài ca tụng Hồ Chí Minh nhưng không thấy có hồi âm chi cả. Bọn Việt Minh nó phe lờ Hồ Dzính. Còn Ngọc Giao thì tán tỉnh một em tên là Ngọc nhưng cũng không được em đáp ứng. Bọn văn nghệ Hà Nội làm câu đối:
    Hồ Dzính dính Hồ, Hồ chẳng dzính
    Ngọc Giao giao Ngọc, Ngọc không giao.
    Đây là câu đối thứ hai tôi nghe được trong những buổi nằm đấu hót bên bàn đọi với Đinh Hùng:
    Xuân Diệu làm Đoan, Xuân Riệu lậu
    Trái tim nổi loạn, trái tim la.
    Xuân Diệu làm công chức Duoanerie, Sở Thuế, ta gọi là Nha Thương Chánh, rồi Quan Thuế, thời Pháp là Nhà Đoan. Người Bắc Kỳ thường gọi rượu là riệu. Vì không uốn lưỡi nên Diệu và Riệu phát âm y như nhau. Những năm 1940 có một ông nào đó viết vài bài kiểu tùy bút đăng báo ký tên là Trái Tim Nổi Loạn.

    o O o

    Đinh Hùng mất năm 1967, năm anh 52 tuổi. Thuốc phiện và rượu tàn phá cơ thể anh làm anh không thể sống thọ hơn. Sinh thời anh có cuộc sống trầm lặng hơn anh Vũ Hoàng Chương, anh rể của anh. Trong khi anh Chương được đời tôn xưng là Thi Bá, làm Chủ Tịch Hội nọ, Hội kia, đi ngoại quốc dự Đại Hội Thơ Quốc Tế mấy lần, giao duyên dzăng nghệ với các em nữ thi sĩ Âu châu, Đinh Hùng sống lặng yên với Chương Trình Thi Văn Tao Đàn. Khi anh mất anh được anh em đưa tiễn đông đảo, đám tang tổ chức trọng thể tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi. Anh Chương chết trong thiếu thốn, cô đơn. Khi anh Chương mất, cuối năm 1976 , hay đầu năm 1977, bọn chúng tôi thằng thì ở trong tù, thằng thì tối tăm mắt mũi, chúng tôi chỉ biết tin anh Chương sau khi anh đã chết.
    Một buổi tối Tháng Bẩy hay Tháng Tám năm 1975 tôi tình cờ gập Hoài Bắc giữa đường. Hai chúng tôi cùng đi xe đạp. Ghé xe vào vỉa hè tối nói chuyện, Hoài Bắc nói:
    - Bà vợ Văn Cao mới vào Sài Gòn. Trần Dần nhắn bà ấy vào nói với Vũ Hoàng Chương: “Anh đừng lo. Thơ Anh và Thơ anh Hùng không bao giờ mất được..”
    Trần Dần nói đúng. Anh đã sống hai mươi mùa Cô Hồn Tháng Bẩy dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa nên anh biết và anh nói đúng. Trong lúc chúng tôi sống dở, chết dở ở Thành Hồ tin chắc hơn bắp rang, hơn cua gạch là sẽ chẳng bao giờ những tập Thơ Vũ Hoàng Chương còn được bầy trên những giá sách, tên tuổi Thi Bá sẽ chẳng bao giờ còn được ai nhắc tới, riêng Trần Dần nói:
    “Thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ Đinh Hùng không bao giờ mất được..”
    Bọn lý thuyết gia văn nghệ Việt Cộng gọi hầm bà lằng síu oách văn nghệ Việt Nam Cộng Hòa là “phản động, đồi trụy,” riêng Thơ Vũ Hoàng Chương, Thơ Đinh Hùng còn bị gọi là “Thơ Ma Mị”. Năm 1992 hai tập Thơ Vũ Hoàng Chương đã được tái bản ở Thành Hồ. Hồi Ký “Ta đã làm chi đời ta” của Vũ Hoàng Chương cũng được in lại với vài chương bị cắt bỏ.

    o O o

    Chị Đinh Hùng mất khoảng năm 1988. Anh chị có hai con. Cháu trai Đinh Ngọc, cháu gái Đinh Hương. Tiền bản quyền hai tiểu thuyết “Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu, Người Đao Phủ Thành Đại La” được nhà xuất bản chi cho hai cháu Đinh Ngọc, Đinh Hương. Lái sách Thành Hồ đối xử với văn nghệ sĩ rất chỉnh.
    Sáng Thứ Bẩy, Rừng Phong chan hòa nắng vàng. Không trông thấy ve sầu nhưng nghe tiếng ve kêu rền rĩ. Cảnh không đeo sầu nhưng lòng người viết bỗng u hoài, trái tim trầm xuống.
    Từ Hai Bó đến Ba Bó ta đi ăn cưới bạn. Từ Bốn Bó đến Năm Bó ta đi ăn cưới con bạn. Từ Năm Bó đến Sáu Bó ta đi đưa đám ma bạn. Số tuổi từ Bốn Bó Gẫy đến Sáu Bó Lẻ Mấy Que của tôi diễn ra ở Thành Hồ. Liên miên toàn những đám ma và đám tang, các bạn tôi theo nhau từ giã cõi đời. Tôi đã đưa tiễn Trọng Nguyên, Hoàng Vĩnh Lộc, Minh Đăng Khánh, Trần Việt Sơn, Lê Thanh Phòng Cao, Minh Vồ, Linh Mục Thiên Hổ Nguyễn Quang Lãm. Nhiều người khác tôi chỉ biết tin đã chết: Vũ Hoàng Chương, Vũ Bằng, Tam Lang, Cát Hữu, Trịnh Viết Thành, Dương Hùng Cường, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Nguyễn Ngọc Tú Ngọc Thứ Lang, Hoàng Ly, Chu Tử, Huy Cường, Trọng Khương, Thiếu Lang, Nguyễn Mạnh Côn.

    o O o

    Năm mười sáu, mười bẩy tuổi tôi có làm vài bài Thơ Tình. Từ số tuổi Hai Bó Gập trở đi tôi không mần thơ nữa. Chỉ đôi khi xúc động dữ dội tôi mới mần vài câu. Chẳng hạn:
    Rồi một chiều thu nắng phớt mờ
    Nàng gập người năm cũ què giò
    Nàng hỏi chàng mắt rưng rưng lệ:
    - Anh sẽ làm sao đạp xích lô?
    Và:
    Anh đây như máy Sinco
    Còn Em như vải Sanford mới về.

    Tôi không mần thơ nữa vì hai nguyên nhân chính:
    I – Tôi thấy tôi hổng phải là Thi sĩ nên tôi thôi tôi hổng mần Thơ.
    2 – Mỗi lần tôi xúc động — kiểu “bất kỳ bình tắc minh” như Hàn Dũ từng diễn tả — mỗi lần tôi thấy tôi cần phải giải tỏa tâm sự bằng Thơ tôi đã có sẵn Thơ Đinh Hùng, Thơ Vũ Hoàng Chương. Tôi chỉ việc lấy Thơ Nhị Vị ra sài tự do, thoải mái, thả dàn mà lại rất hào hoa phong nhã. Thơ của hai ông diễn tỏa tâm sự tôi còn hay hơn, lãng mạn hơn, rõ ràng hơn, chính xác hơn, cảm xúc hơn là Thơ Tôi mần. Những buổi chiều mùa mưa đất trời Sài Gòn u ám — tôi thường gọi những buổi chiều trời đất như thế là những buổi chiều Từ Hải bỏ Kiều để ra đi và là những buổi chiều Từ Hải quăng mộng giang hồ để trở về với Kiều — đừng nói đến những chiều mưa buồn, ngay cả những buổi sáng trời Sài Gòn bỗng nhiên dìu dịu, có chút nắng hanh, có đôi cánh lá vàng rơi trên vỉa hè Duy Tân cây dài bóng mát, chẳng có ai là tình nhân xa cách cả tôi cũng bỗng dưng nhớ Nàng. Nhớ hổng phải là nhớ thường mà là nhớ Nàng Ra Rít. Tim tôi xúc động và tôi mần Thơ:

    Hôm nay có phải là thu
    Mấy năm xưa đã viễn du trở về.
    Cảm vì Em bước chân đi
    Nước rung mặt ngọc lưu ly phớt buồn.
    Ai về xa mãi cô thôn?
    Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà.
    Ngày Em mới bước chân ra
    Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu.
    Nắng trôi, vàng chẩy về đâu?
    Hôm nay mới thật bắt đầu là Thu.
    ……..

    Trời hồng chắc má Em tươi
    Nước trong chắc miệng Em cười thêm xinh.
    Em đi, hoài cảm một mình
    Hai lòng riêng để mối tình cô đơn.
    Chiều nay tưởng mắt Em buồn
    Đã trông thấp thoáng ngọn cồn, bóng sương
    Lạnh lùng trăng gió tha hương
    Em về bên Mỹ ai thương Em cùng.
    Nàng quá đẹp, Nàng quá tình, Nàng làm tôi ngất ngư con tầu đi, tôi hỏi Nàng bằng Thơ Đinh Hùng:

    - Em là Người, là Quỉ hay là Tiên?
    Em có mấy linh hồn, bao nhiêu mộng?
    Em còn trái tim nào đang xúc động?
    Em có gì trong xác thịt như hoa?
    ………

    Em đài các lòng cũng thoa son phấn
    Hai bàn chân kiêu ngạo dẫm lên Thơ.
    Những năm 1960 Vàng Son, có những buổi chiều ngồi ở Ngân Đình, nhìn sang Thủ Thiêm, nhớ Nàng tôi mần Thơ:
    Gió từ sông lại, mưa từ biển
    Không biết người yêu nay ở đâu?
    ………..

    Nhớ xuân từ độ còn hoa
    Nhớ Em từ độ thướt tha suối thề.
    Xa trời, lưu lạc hồn quê
    Có phai xin để ngày về hãy phai…
    …………

    Mắt lặng nhìn nhau từ dĩ vãng
    Chợt xanh mầu áo nhớ thương xưa
    Bóng em khoảnh khắc thành hư ảo
    Buồn lướt hàng mi thấp thoáng mưa..
    ………….

    Em đi rừng núi vào xuân
    Áo thiên thanh dệt trắng ngần hoa bay..

    Tôi sẽ viết về Phù Dung và Liêu Trai trong Thơ, và trong cuộc đời, của hai Thi sĩ tôi được quen biết: Đinh Hùng và Vũ Hoàng Chương.
    Tuổi mười lăm, mười bẩy tôi yêu Thơ Xuân Diệu. Tuổi đời Ba Bó tôi yêu Thơ Đinh Hùng, Sáu Bó tôi yêu Thơ Vũ Hoàng Chương:
    Một mảnh hồng tiên trĩu ngón tay
    Hương mùa thu mất ngậm ngùi bay.
    Em vẫn Kiều Thu tròn tuổi nguyệt
    Trần ai nào lấm được thơ ngây..
    ………….

    Phải chăng từ độ ấy quan san
    Trời đất cùng đau nỗi hợp tan
    Riêng chỉ mình ta phai áo lục
    Còn Em sau trước vẫn hồng nhan?

    Năm nay Tuổi đời Sáu Bó Gập, khi tôi xúc động và khi tôi cần nói những lời yêu thương với người đàn bà đã cùng tôi tay trong tay đi qua cõi đời này, tôi sẽ nói với nàng những lời thơ. Những lời này thốt ra từ trái tim tôi, Thi sĩ Đinh Hùng chỉ có công làm cho chúng có vần có điệu:
    - Em ơi.. Khi tóc mùa xuân buông dài trước cửa, khi bóng chiêm bao khẽ chớp hàng mi, khi những con thuyền chở mộng ra đi, giấc mộng phiêu lưu như bầy hải điểu. Kỷ niệm trở về, nắm tay nhau hiền dịu. Ngón tay thơm vàng phấn bướm đa tình. Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh. Mặc trái đất sắp tan vào mộng ảo.
    Trên đường ta đi… Những đóa hoa nở mặt trời xích đạo. Những làn hương mang giông tố bình sa. Những sắc cầu vồng nghiêng bóng chim sa. Và dĩ vãng ngủ trong hồ cẩm thạch. Của đôi mắt sáng mầu trăng mặc khách. Thời gian qua trên một nét mi dài. Núi mùa thu buồn gợn sóng đôi vai. Dòng sông lạ trôi sâu vào tâm sự. Chúng ta đến nghe nỗi sầu tinh tú: Những ngôi sao buồn suốt một chu kỳ. Những đám tinh vân sắp sửa chia ly. Và sao rụng biếc đôi tay cầu nguyện. Ôi cặp mắt sáng trăng xưa hò hẹn. Có nghìn năm quá khứ dẫn nhau đi. Anh vịn tay số kiếp dẫn em về. Nhìn lửa cháy những lâu đài mặt biển…
    …..Anh sẽ tìm em chiều nào tận thế. Khi những sầu thương cất cánh xa bay….Em hát mong manh bài ca Tuổi Trẻ. Bướm bay đầy một âm giai. Khúc nhạc lang thang như hồn Do Thái. Đại dương cồn sóng gọi tên ai? Vời vợi tiếng em lướt qua Hồng Hải. Tiếng hát nhân ngư tuyệt vọng than dài…


    Hoàng Hải Thủy
    Similar Threads
  • #2

    CUỘC ĐỜI ĐINH HÙNG


    NGƯỜI THI SĨ YỂU MỆNH
    Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3/7/1920, thuộc người làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông nay thuộc huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây. Ông là con của cụ Hàn Phụng, một gia đình trung lưu, từ lâu đã ra lập nghiệp ở Hà Nội. Khi còn sống thi sĩ Đinh Hùng cho biết, ông được hoài thai vào năm 1919 trên đất xứ người là Phi Luật Tân (Philippines) nhưng lại ra đời ở Việt Nam ngay trại Trung Phụng gần toà Khâm Thiên Giám cũ, Hà Nội.
    Đinh Hùng là con út gồm sáu anh chị em : anh cả là Đinh Lân, các chị là Loan, Yến, Hồng, Oanh. Chị Đinh Thục Oanh lớn hơn Đinh Hùng một tuổi sau lấy thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thuở nhỏ thi sĩ Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tại trường trường Bưởi, Hà Nội. Và sau khi đậu bằng Cao đẳng Tiểu học hạng bình thứ ông được học bổng theo ban chuyên khoa để thi Tú tài bản xứ thì “thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn” (theo lời kể của ông anh rể Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang để đi viết văn, làm thơ.
    Và hình như gia đình thi sĩ Đinh Hùng đa số mọi người đều yểu mệnh, chưa ai bước qua khỏi tuổi 60. Năm 1931, người chị thứ ba của thi sĩ tên Tuyết Hồng tự tử tại hồ Trúc Bạch vì một mối tình duyên trắc trở. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng qua đời. Còn nếu tính đến ông khi mất vào ngày 24/8/1967, thì cũng chỉ mới hưởng dương có 48 tuổi !
    Nói về thân thế sự nghiệp của thi sĩ Đinh Hùng. Năm 1943, ông theo sống với chị là bà Thục Oanh và thi sĩ Vũ Hoàng Chương tức anh rể của ông. Cũng năm này, ông cho xuất bản tập văn xuôi Đám ma tôi (NXB Tân Việt) và thơ đăng trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn… Nhưng thật sự bắt đầu nổi tiếng với bài thơ “Kỳ Nữ” mà Thế Lữ in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh.
    Năm 1944, sau khi thi sĩ Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh đưa về Nam Định sinh sống, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, với sự cộng tác của một số bạn như Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Mai Châu… Cùng năm này, ông cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học. Khi ấy, Vũ Hoàng Chương và vợ đang ở đó.
    Năm 1949, ông lại cùng gia đình trở lại Hà Nội. Tại đây ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô văn nghệ (1952) và Mê Hồn ca (1954).
    Tháng 8 năm 1954, thi sĩ Đinh Hùng và gia đình di cư vào Nam, cộng tác với tờ nhật báo Tự Do của Phạm Việt Tuyền, có sự cộng tác của Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong… Năm 1955, nhật báo Tự Do đình bản, ông về cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, phụ trách ban thi ca Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời. (Ban thi ca tao đàn từng đưa những tên tuổi ca sĩ như Hồng Vân, Hoàng Oanh thành những người đọc và ngâm thơ hay nhất lúc bấy giờ).
    Ngoài việc làm thơ ký bút hiệu Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang lúc viết tiểu thuyết. Ông viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng đăng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận.
    Năm 1961, Đinh Hùng cho in tập Đường vào tình sử (đoạt giải Văn chương về thi ca năm 1962). Năm 1967, cho ra tuần báo Tao Đàn thi nhân, nhưng mới phát hành được 2 số thì ông mất lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại bệnh viện Bình Dân, Sài Gòn, vì bệnh ung thư gan.
    Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10 năm 1967. Ngoài những tác phẩm kể trên, thi sĩ Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.
    Mặc dù Đinh Hùng có viết văn, viết kịch, nhưng ông nổi tiếng là nhờ thơ. Các thi phẩm như Mê Hồn ca, Đường vào tình sử là hai thi phẩm nổi trội.
    Trong Từ điển Văn học có nhận xét về ông như sau :
    “Đinh Hùng là người tài hoa, có khả năng hội họa, biết chơi vĩ cầm, thích thú với môn thư pháp bằng chữ quốc ngữ… và sống phóng túng, có khi như một lãng tử.
    “Ở phần đầu Mê hồn ca, thơ ông bộc lộ một cảm giác cô độc đặc biệt đến bi thiết: Bài ca man rợ, Những hướng sao rơi, Người con gái thiên nhiên…Ở phần hai với tiêu đề Thần tượng, chứa đựng những vần thơ tôn giáo hóa tình yêu: Kỳ nữ, Hoa sử, Hương trinh bạch…. Một khía cạnh khác của thơ Đinh Hùng là sự ám ảnh của thế giới bên kia: Gửi người dưới mộ, Cầu hôn, Tìm bóng tử thần…
    Hiện tượng này hẳn liên quan đến nhiều chuyện tang tóc bất bình thường, trong thời gian ngắn, liên tục đổ ập xuống đời sống của tác giả thưở thanh thiếu niên.
    “Thơ Đinh Hùng hàm súc, lối thao tác “tụ” và “tán” nhanh chóng, những “từ” và “tứ” đột xuất, khiến thơ ông có khả năng gây được cộng cảm, dễ lưu vào tâm trí người đọc”.(bộ mới, NXB Thế giới, 2004)
    Tình thơ trong thi phẩm Đinh Hùng
    Nhà thơ, nhà văn thường có tính tình lãng mạn, trữ tình, như ở thuở thanh niên thi sĩ Đinh Hùng đang được cấp học bổng để theo học ban chuyên khoa. Nhưng vào một ngày đẹp trời thì “tiếng sét ái tình” bỗng nhiên đánh trúng tim ông :

    Có chàng mang lòng thương
    Đi dạo muôn con đường.
    Một hôm dừng trước mộng,
    Yêu nàng tên Tần Hương.
    (Tần Hương – Đường vào tình sử)
    Người đẹp ấy tên là Kiều Hương, nhưng ông sợ gây rắc rối cho nàng khi đi lấy chồng nên sửa tên là Tần Hương. Mối tình ấy của Đinh Hùng tuy là mối tình đầu nhưng không sâu sắc, vì chỉ là tình yêu đơn phương. Nên khi nàng Kiều Hương đi lấy chồng, ông không buồn như nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà từng thất tình khi nghe người yêu đi lấy chồng để có một thi phẩm bất hủ “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”. Còn ông chỉ có 2 bài thơ mang tên “Tần Hương” và “Bài hát mùa thu” đăng trong tập thơ Đường vào tình sử.
    Mối tình thứ hai mới thực sự mãnh liệt và ghi dấu suốt đời trong tâm khảm của nhà thơ. Nàng là một cô bé họ xa, tên Bích Liên, thỉnh thoảng đến chơi nơi trại Trung Phụng của ba ông, nên thi sĩ Đinh Hùng có dịp quen thân. Thuở ấy nàng còn bé nhưng xinh đẹp tuyệt vời, và vì tên nàng là Liên nên Đinh Hùng viết :
    Người đẹp ngày xưa tên giống hoa,
    Mùa xuân cây cỏ biếc quanh nhà.
    Thùy hương phảng phất sen đầu hạ,
    Lén bước trang đài tới gặp ta.
    (Liên tưởng – ĐVTS)
    Hai người mỗi ngày một lớn, tình yêu cũng cùng với tháng năm mà lớn dần theo, cô bé Liên càng ngày càng đẹp. Hai người yêu nhau nhưng trong mối tình hoàn toàn trong trắng. Không may nàng Liên bị bệnh phổi nặng, sắc đẹp ngày càng kỳ ảo và huyền hoặc khiến ông cứ ngất ngây, trong khi đó sức khỏe của nàng cứ hao mòn rồi từ giã cõi đời vào khoảng năm 1940. Đó là cái chết thứ tư của người thân yêu mà Đinh Hùng chứng kiến trong khoảng thời gian chưa tới mười năm.

    Mất Liên, thi sĩ Đinh Hùng đau đớn như điên dại :
    Qua xứ ma sầu, ta mất trí,
    Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền.
    Trời ơi ! Trời ơi ! Làn tử khí,
    Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên.
    (Cầu hồn – Mê Hồn Ca)
    Từ đó Đinh Hùng thường làm những bài thơ “Chiêu niệm”, tên Liên được thay thế bằng những tên khác, nào Diệu Hương, Diệu Thư, nào Ý Liên, Bạch Liên, Diệu Liên, nào Em Buồn, Em Đau Thương, Sầu Hoài Thương Nữ, nào Thần Nữ, Kỳ Nữ v.v… nhưng thực ra cũng chỉ có một nàng Bích Liên thôi. Khi nàng chết, Đinh Hùng bỏ trường đi sống lang bạt kỳ hồ, khi dạy học ở Hà Đông, lúc gia nhập một ban nhạc tài tử đi trình diễn ở vùng Bắc Cạn. Đi đâu Đinh Hùng cũng mang theo tấm di ảnh của nàng Bích Liên.
    Nhà văn Mai Thảo thuật :
    “Tôi được biết là sau ngày người con gái mang tên Liên từ trần, Đinh Hùng bỏ đi đến Hải Dương… Vượt Hồng Hà, bỏ Hà Nội, chàng tuổi trẻ khóc ngất, không mang theo gì hết ngoài nỗi đau đớn và một tấm hình. Đó là di vật cuối cùng của Liên…”
    Nhà thơ có cá tính Ai đã gặp thi sĩ Đinh Hùng một lần thì khó lòng quên được. Thân hình mảnh mai, nước da xanh như tàu lá, đôi chân ngắn, bàn tay đẹp như bàn tay con gái mềm mại thon thon, và rất đẹp khi “vân vê” điếu thuốc lào hay khi lướt nhẹ trên chiếc vĩ cầm. Đôi mắt mơ hồ và huyền hoặc dường như luôn luôn in bóng một trời thơ diệu kỳ và mộng ảo. Giọng nói Đinh Hùng rất đặc biệt, nó “vang vang mà nhừa nhựa, nửa như thoát lên cao cùng mây, nửa như la đà cùng khói” (Hoàng Hương Trang).
    Ngay lúc nằm trên giường bệnh, giọng nói ấy cũng vẫn còn nồng nàn nỗi yêu đời và niềm lưu luyến tình người. Còn vẻ bề ngoài, ông bao giờ cũng chải chuốt, tứ thời bát tiết lúc nào cũng diện complet thắt cravate cho dù là mùa hè đỏ lửa, đầu chải láng, miệng ngậm pipe, đôi vai nghiêng bởi chiếc cặp dày và nặng trĩu. Gặp bạn thơ thì mừng rỡ, chèo kéo bắt uống cho bằng được một vài ly để rồi say sưa nói về chuyện văn thơ không dứt.
    Tạ Tỵ gợi lại một vài kỷ niệm :“Có những đêm đông Hà Nội tôi đến thăm Hùng tại căn nhà cổ nằm sâu trong ngõ hẹp ở cửa ô Cầu Rền, chẳng cách xa phường Dạ Lạc là bao. Ở tuổi hoa niên, tôi quen nhiều bạn biết uống rượu, nhưng tôi chưa thấy ai uống hào bằng Đinh Hùng và Văn Cao. Riêng Hùng có thể uống hai lít đế không cần đồ nhắm, vì thế Hùng mới có gan đối ẩm với Tản Đà hàng nửa ngày trời”. Và cũng vì thế mà bạn bè không ai cảm thấy bất ngờ khi hay tin Hùng bị ung thư gan ở tuổi 48.
    Những tác phẩm thi ca của Đinh Hùng Thi sĩ Đinh Hùng có hai thi phẩm lớn là Mê Hồn ca và Đường vào tình sử là nổi bật hơn hết. Cho nên các nhà thơ tên tuổi vào những năm 60, 70 thế kỷ trước từng tranh cãi về giá trị của hai tập thơ này. Theo nhà thơ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt chọn Đường Vào Tình Sử, thì nhà văn Trần Phong Giao lại chọn Mê Hồn Ca. Trần Tuấn Kiệt nói :“Mê Hồn Ca tuy đặc biệt nhưng thua xa tiếng thơ của tập Đường Vào Tình Sử”. Còn Trần Phong Giao nói :“Ai cũng bảo Mê Hồn Ca là tuyệt tác, chỉ có ́mình cậu là khác”. Rồi Trần Phong Giao khẳng định : “Trong tất cả những tác phẩm của Đinh Hùng, gặp trường hợp chỉ được quyền cất giữ một cuốn thì tôi sẽ không ngần ngại gì trong việc chọn lựa Mê Hồn Ca. Vì đó là tất cả vũ trụ thơ anh. Vì đó là tất cả anh”.
    Nhận định về thi phẩm Mê Hồn Ca, nhà nghiên cứu Phạm Việt Tuyền cho rằng “thi phẩm này thuộc loại thơ nói ít hiểu nhiều, cái hay cốt ở chỗ sử dụng nghệ thuật ném hỏa mù mơ mộng lên những mảnh thực tại tản mác, điều mà Đinh Hùng chắc đã chịu ảnh hưởng ít nhiều nơi các nhà thơ tượng trưng của Pháp như Baudelaire, Rimbaud. Thế giới Mê Hồn Ca là thế giới của đắm đuối say mê, của hoang sơ man dại, của chết chóc lạnh lùng, của nhiệm mầu huyền bí. Tình yêu trong Mê Hồn Ca thiết tha, mănh liệt và kinh khủng. Có nhà thơ nào đã xây dựng được cả một khu nghĩa trang huyền ảo như những bài Tìm bóng tử thần, Màu sương linh giác, Cầu hồn, Thoát duyên trần cấu, Gửi người dưới mộ… như Đinh Hùng?”
    Còn nhà thơ nhà giáo Bàng Bá Lân cũng thích Mê Hồn Ca hơn Đường Vào Tình Sử, thích nhất Bài Ca Man Rợ vì bài thơ này rất giàu vần điệu và gợi hình, nhạc thơ toàn bài hùng mạnh một cách man rợ hợp với nhan đề..
    Những ngày cuối cùng của Đinh Hùng
    Vào trưa ngày 23/8/1967 – trước ngày Đinh Hùng mất – các bạn thơ và văn nghệ sĩ họp mặt trong một quán nhỏ, nhà văn Thanh Nam bộc bạch đọc bốn câu thơ mà ông rất thích :

    Khi tôi ngồi xuống ở bên em,
    Giở tập thư xưa đọc trước đèn.
    Vẫn ngọn đèn mờ, trang giấy lạnh,
    Tiếng mùa thu động, tiếng mưa đêm.
    Nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà ở đó, tấm tắt khen thơ hay quá, nhưng khi hỏi xuất xứ thì nhà văn Thanh Nam không nhớ, chỉ biết đó là thơ Đinh Hùng trong cuốn Đường Vào Tình Sử. Về đến nhà nhà thơ Kiên Giang vội tìm cuốn Đường Vào Tình Sử để đọc bài thơ có bốn câu ấy. Đó là bài Gặp nhau lần cuối.
    Tháng 7 năm 1967 khi bệnh tình của thi sĩ Đinh Hùng bỗng trở nặng, các thân hữu liền đưa ông vào bệnh viện Bình Dân để cứu chữa, nhưng bệnh ung thư chỉ có thầy tiên thuốc thánh mới cứu nổi.
    Khi nhà thơ Tô Kiều Ngân vào thăm thì “trước mắt tôi không phải là chàng thơ phong vận từng bơi qua Hồ Tây, từng đánh đàn mandoline trong các phòng trà, nói chuyện có duyên, làm thơ tình ái rất hay. Người nằm đó chỉ là một bệnh nhân, mắt rất buồn, hơi thở mệt nhọc, đang chờ mổ mà tin tưởng thì rất mong manh… Người thơ của chúng ta trầm mình trong nỗi cô đơn giữa bốn bức tường bệnh viện lạnh lùng, đôi vai gầy, gầy thêm, khuôn mặt nhỏ, nhỏ thêm. Cuộc sống ở đây hoàn toàn bị lùi xa, bị tách rời”.
    Có những người “vô danh” tình nguyện cho ông máu để đủ sức chịu đựng khi giải phẫu, nhưng đến nơi thì ông đã đuối quá ra đi rồi.
    Tô Kiều Ngân viết tiếp : “Trước giờ liệm Hùng, tôi giở tấm vải trắng nhìn anh lần chót. Mớ tóc xõa ra, đôi mắt nhắm nghiền, da mặt trắng xanh. Buồn quá, không ngờ Hùng chết nhanh như vậy. 48 năm, thôi thế cũng được, 48 năm miệt mài với thơ, với nhạc, với Bộ lạc, Hải tần, Kỳ nữ, với “mây trắng bay đầy gối”, với “hiu hắt tiếng dương cầm”, đời anh toàn gắn liền với thơ, với rượu, kể ra đã thừa chất đẹp”
    Hôm đưa tang Đinh Hùng vào chủ nhật 27-8-1967 tức 22 tháng 7 năm Đinh Mùi – là một ngày trong tiết thu sơ, bầu trời ảm đạm. Bạn bè đi đưa tuy không đông lắm nhưng ai nấy đều chan chứa trong lòng niềm tiếc thương vô hạn một nhà thơ tài hoa mà yểu mệnh.
    “Bên chiếc huyệt đào sẵn, Vũ Hoàng Chương gọi lớn : “Đinh Hùng ! Đinh Hùng !” nhưng người thơ phong vận không bao giờ lên tiếng nữa. Bậc đàn anh Vi Huyền Đắc ngậm ngùi bên bờ huyệt, Vũ Khắc Khoan lặng lẽ ném một hòn đất xuống quan tài. Thanh Nam bỏ ra ngoài lặng lẽ đưa khăn lau mắt, Hoàng Anh Tuấn khóc lăn bên nấm mộ… Khi ra về, đi bên cạnh Tuấn, tôi mới hỏi “Toa hôm nay xúc động quá nhỉ !”Tuấn nói “Đâu mình có khóc Đinh Hùng, khóc cho mình đấy chứ !” (Ký giả Lô-Răng).
    Và như lời tiên tri, thi sĩ Đinh Hùng từng có bài thơ “Cung đàn tưởng niệm” để khi ông chết như một di chúc để lại cho mọi người, đọc khi đến viếng mộ ông, một thi sĩ tài danh yểu mệnh :
    Cung đàn tưởng niệm

    Khi anh chết, các Em về đây nhé,
    Vị chút tình lưu luyến với nhau xưa.
    Anh muốn thấy các em cùng nhỏ lệ,
    Tay cầm hoa, xoã tóc đứng bên mồ.
    oOo
    Em lả lướt, Em là Buồn cố kết,
    Tự ngày anh ra sống kiếp trần ai.
    Em khóc cho anh mối hận tình dài,
    Em nói cho anh tấm lòng cô lữ.
    oOo

    Và em nữa, ôi Sầu-Hoài-Thương-Nữ !
    Anh thường mê tiếng hát của Em xưa.
    Những ngày vui, bóng mộng mất không ngờ,
    Em thân ái vẫn cùng anh tưởng nhớ.
    oOo
    Anh quên đấy: còn người em duyên số,

    Em đã về chưa nhỉ ? Hỡi Đau Thương !
    Nhớ cùng Em đối bóng mấy canh trường,
    Tự đêm ấy cầm tay nhau không nói…
    oOo
    Anh tưởng niệm các Em về một buổi,
    Ở bên mồ, cỏ úa sắc chiều rơi.
    Ngược Sông Mê, bàng bạc nẻo luân hồi,
    Sầu rũ tóc, ngậm ngùi in khóe mắt.
    oOo
    Anh đã thấy dáng Em Buồn cúi mặt,
    Anh cảm lòng vì lệ của Thương đau.

    Các Em sang vĩnh biệt tấm thân sầu,
    Các Em khóc các Em buồn lắm nhỉ?
    oOo
    Phải xa anh, từ đây đường nhân thế,
    Các Em đi, phiêu bạt giữa thời gian.
    Và từ đây trong khe núi, bên ngàn,
    Các Em dạo, làm những hồn oan khổ.
    oOo
    Anh bơ vơ lạc trên đường thiên cổ,
    Lạnh tâm tư, mờ tỏ ánh tinh cầu.
    Mất anh rồi, Các Em sẽ về đâu ?
    Đinh Hùng chết để sự nghiệp thơ ông trở thành bất tử” (Văn học hiện đại).
    NGUYỄN VIỆT
    Đinh Hùng (1920-1967) là một nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Ngoài việc ký tên thật Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết
    (MVX sưu tầm)
    Đã chỉnh sửa bởi Mayvienxu; 22-12-2011, 08:41 PM.

    Comment

    Working...
    X
    Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom