• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Chế Lan Viên

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Chế Lan Viên

    Ông tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 tại Cam An, Cam Lộ, Quảng Trị.

    Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành Chung thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Có thể xem đây là quê hương thứ hai của Chế Lan Viên, nơi đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn của nhà thơ.

    Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi. Năm 17 tuổi, ông xuất bản tập thơ đầu tay với tên "Điêu tàn" với bút danh Chế Lan Viên, mà lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn" (tiêu biểu với Hàn Mặc Tử). Từ đây, cái tên Chế Lan Viên trở nên nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Ông cùng nhóm thơ với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn sáng lập ra "trường thơ loạn" được gọi là Bàn thành tứ hữu của Bình Định.

    Năm 1939 ông ra học tại Hà Nội, sau vào Sài Gòn làm báo rồi ra Thanh Hóa dạy học. Năm 1942 ông cho ra đời tập văn "Vàng Sao", tập thơ triết luận về đời với mầu sắc siêu hình, huyền bí
    Cách mạng tháng Tám thành công, ông tham gia phong trào Việt Minh tại Quy Nhơn, sau ra Huế tham gia Đoàn xây dựng cùng với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Đào Duy Anh, viết bài và làm biên tập cho các báo Quyết thắng, Cứu quốc, Kháng chiến. Phong cách thơ của ông giai đoạn này cũng chuyển dần về trường phái hiện thực. Tháng 7 năm 1949, Chế Lan Viên gia nhập Đảng Lao động Việt Nam.

    Năm 1954, Chế Lan Viên tập kết ra Bắc làm biên tập viên báo "Văn học". Từ năm 1956 đến năm 1958, ông công tác ở Phòng Văn nghệ, Ban tuyên huấn Trung ương và đến cuối năm 1958 trở lại làm biên tập tuần báo "Văn học" (sau là báo "Văn nghệ"). Từ năm 1963 ông là Ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban thư kí Hội Nhà văn Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa IV, V, VI; Ủy viên Ban Văn hóa - Giáo dục của Quốc hội.

    Sau 1975, ông vào sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất ngày 19 tháng 6 năm 1989 (tức ngày 16 tháng 5 năm Kỷ Tỵ) tại Bệnh viện Thống Nhất, thành phố Hồ Chí Minh.

    Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.
    ____________Quoc Ky_____________
    sống là thực hiện kế hoạch do mình vạch ra
    Similar Threads
  • #31

    Hoa đào nở sớm

    Hoa đào trước ngỏ em qua
    Sáng nay bỗng ướm cành hoa vào mùa
    Đầy vườn lộc biết cây tơ
    Năm đi chưa hết, đã ngờ xuân đâu

    Bỗng dưng một đóa hoa đầu.
    Nghe như đất lạ năm nào gặp em
    Phải rằng xe xích thời gian
    Vầng dương bên ấy mọc sang bên này ?

    Nắng hoe, bướm trở mình bay
    Cành non nở vội kịp ngày chào hoa.
    Lòng anh tự độ em qua
    Hoa bay bướm dạo cùng ta vào đời.
    ____________Quoc Ky_____________
    sống là thực hiện kế hoạch do mình vạch ra

    Comment

    • #32

      Kém mắt

      Tặng Tế Hanh

      Trời chiều nắng xuân đẹp
      Khó đọc sách trong chiều
      Tuổi năm mươi mắt kém
      Đôi mắt thường phải nheo

      Khám mắt, bác sĩ bảo
      Thị lực anh giảm nhiều
      Mấy phàn trăm gì đó
      Ai biết là bao nhiêu!

      Chữ lớn ở trên tường
      Đứng xa không đọc nổi
      Chữ nhỏ ở cuối trang
      CÀng nhìn càng nhức nhối

      Ra ngoài tuổi năm mươi
      Thời gian đi như chạy
      Cái dòng nước tỉ tê
      Nghe ồ ồ rồi đấy.

      Thời gian quy luật sắt
      Tế bào ta mòn dần
      Thần kinh như hoa xuân
      Sắc hương vào bước ngoặt

      Bút vội vã sang hàng
      Chữ dài xin viết tắt
      Thi với bão thời gian
      Sách đời ta lật gấp

      Đeo kính để thêm ngày
      Ta lấn vào trong tối
      Nơi mắt nhìn không tới
      Thì lòng ta đến thay.
      ____________Quoc Ky_____________
      sống là thực hiện kế hoạch do mình vạch ra

      Comment

      • #33

        Di chúc của Người

        Hãy nghĩ đến việc bình thường này: cái chết
        Sau mỏm đá cuối cùng, nó đấy, trùng khơi
        Cái đen thẳm lặng câm mà sóng vỗ liên hồi
        Hễ ai đã lên cao thường thấy nó
        Có tột đỉnh thiên tài còn khiếp sợ
        Ta dưới thấp bị che sau vợ con, áo quần, nhà cửa
        Tầm nhìn xa từ nỗi đau con đến cái vui gần
        Nhưng lấy gì che mắt sáng vĩ nhân
        Khỏi thấy bể?... Hạo Nhiên từng rưng rưng giọt lệ
        Họ ngỡ họ ở ngoài vòng nhân thế
        Rốt cùng ra là trong bể, trong vòng.

        Có kẻ chớp mắt nhiều, nhìn sững, nhìn trân, rồi ngã quỵ
        Kẻ khác nữa, uy danh lừng thế kỷ
        Gào uy lực tuổi tên mà chọi với Vô Cùng

        Bác đương đầu cái chết tựa thanh xuân
        Quan nhìn sự vật giữa hai bề đối lập
        Sống chết, ngày đêm, mất còn, rụng mọc
        Cách mạng là chấp nhận quy luật này. Người rất ung dung.

        Bác viết Di chúc sáng nay trầm tĩnh trong lòng
        Trong suốt lời văn Bác sửa từng dấu cân, chấm phảy
        Ngỡ như để khuây ta, BÁc có cười kia đấy
        Ta không thấy rõ Bác cười, chỉ bởi chúng ta đau!
        Cái chết tung sóng cuộn anh Ba ra khỏi sàn tàu
        Từng vùi dập trái tim người quét tuyết
        Cái chết giữa nhà ngục Tỉnh Tây hay giữa đại ngàn gió rét

        Trước họng súng quân thù dăng lưới bủa vây
        Cái chết đến bên Bác bao lần. Nó phải lui ngay
        Bác nhìn nó. Hãy lui ra cho Người làm việc!
        Giờ việc đã gần xong. Nó biết
        Chắc Người có thể ra đi. Nắng sắp xong ngày.

        Chưa xong đâu. Đêm đêm miền Nam lắng tiếng Bác trên đài
        Một hơi thở mệt, một cơn ho cũng làm lòng dân xao xuyến
        Ngọn cờ Bác thiêng liêng đầu trận tuyến
        Nhận loại yên tâm khi thấy Bác cười
        Thuộc về nhân dân từng hơi thở của Người
        Bác là tài sản của nhân dân giao Bác giữ.
        Như ngọn nến vạch một đường đi giữa gió
        Bát nước qua bão cuồng không đổ, không chao
        Kẻ thù giờ đây đâu phải ngục tù, xiềng xích, gươm đao
        Cái trận đánh với gió trời hanh làm Bác mệt
        Cái thời tiết thời gian như rết bò, như mọt khoét
        Cơn yếu đau trong mỗi tế bào
        Trận đánh diễn ra trong mỗi hồng cầu
        Khi là nó, khi không phải nó
        Kẻ thù rất vô hình mà mọi chỗ
        Trong hơi thở dồn, trong khớp xương đau
        Người chống chọi qua từng bữa ăn giấc ngủ
        ngỡ như trên đầu mũi kim, Người làm chủ lấy mình
        Bỗng bàn tay cầm gậy chẳng run run, bằng trận ho cố nén.
        Bằng viên đá xiết vào tay rèn luyện
        Bằng mỗi bước trên đường xoài Bác cố bước đi nhanh

        Bác bình yên viết Di chúc ngay giữa ngày sinh nhật
        Khi non sông đang chúc thọ Người
        Dẫu ra đi cũng là ngày gieo hạt
        Giấu niềm đau dưới một ngày vui.
        Di chúc không viết lên đá, khắc lên vàng chói lọi

        Mà trên bản tin hàng ngày, lật lại,
        Sau bản tin một hôm, Người ký thác chuyện muôn đời.
        Người không muốn lúc ra đi làm ta đột ngột
        Bảo cái sinh cái tử cũng thường thôi
        Câu thơ Đỗ Phủ "cổ lai hi", Người sẽ nhắc
        Bác chẳng muốn ta cau vầng trán nhìn quy luật
        Bác không nói tuổi già, Bác bảo tám mươi xuân!
        Lời văn trong suốt trong veo như nước mắt,
        Cái nỗi đau đã lọc đến trong ngần.

        Ôi, muôn vàn tình thương yêu tỏa ra lúc ấy
        Muôn vàn tình thương yêu tràn lên khắp núi sông
        Ngỡ như trên nghìn đỉnh non cao, vạn dòng nước chảy
        Có tình thương của Bác bao trùm.

        Người sắp xa nhân dân từng yêu suốt một đời
        xa miền Nam nửa thế kỷ rồi chẳng gặp
        Xa các cháu nhi đồng, mùa hoa Tổ quốc
        Gần Mác, Lênin, nhưng sắp chia tay đồng chí đấy rồi!

        Di chúc người viết cho ta, đâu phải vì Người
        Bác sợ khi Bác đi rồi, ta sẽ lạnh
        Sợ ta đau, sợ rồi ta lơ đễnh,
        Sợ ta quên...

        Người gửi lại một niềm tin
        Còn như Người, Người đã hóa hương sen,
        Trở về làng Sen muôn thuở
        Mắt rưng lệ, ta đọc Di chúc Người từng câu từng chữ
        Ngỡ như trước mắt, trên cao đâu đó, Bác nhìn.
        ____________Quoc Ky_____________
        sống là thực hiện kế hoạch do mình vạch ra

        Comment

        • #34

          Khoảng cách

          Khi em xoay lưng lại với anh
          Hai đứa cách nhau một vòng quay Trái Đất
          Khi hai đứa mắt đã soi trong mắt
          Thì không gian còn khoàng cách nào đâu
          ____________Quoc Ky_____________
          sống là thực hiện kế hoạch do mình vạch ra

          Comment

          • #35

            Chế Lan Viên - Người làm vườn vĩnh cửu


            Trần Mạnh Hảo


            Ông đang ngồi nấu cám heo trong bếp, thấy khách tới, vội chạy ra mở cổng. Ông xin lỗi khách, chờ tí, vì nhà đi vắng hết, vả nồi cám heo đang sôi ở mức cao trào. Với gương mặt mồ hôi nhễ nhại, ông gân sức lực của người gần bảy mươi tuổi, ngoáy tít nồi cám heo bằng chiếc đũa cả sừng sỏ dáng vẻ rất chuyên nghiệp, như thể ông khiêu vũ cái vũ điệu của bếp núc.
            Mới ngày hôm qua, từ cuộc hội thảo văn học tại Bồ Đào Nha về, với bao nhiêu chuyện trên trời, dưới đất, nào mây bay đi, nào hồn ở lại, nào các thiên hà có biết suy tưởng hay không đến sự ô nhiễm môi trường ăn mòn nhân tính...

            Vâng, từ chân trời của thơ ca thế giới, với những hội nghị quốc tế, gặp gỡ đàm đạo với những nghệ sĩ lừng danh, những khách sạn sang trọng, những bữa ăn đắt tiền... Chế Lan Viên trở về với chân trời của riêng ông với gà heo, vườn tược và những bản thảo dập xóa như vườn cây bị nghìn bão đi qua. Từ năm 1937, năm tập thơ “Điêu tàn” ra đời cho đến ngày ông mất, Chế Lan Viên đã bày, đã soạn cho người Việt Nam, cho văn hoá Việt Nam những bữa ăn thơ thịnh soạn, ngon lành, trìu mến và sang trọng; chúng ta nào đã một lần biết được bếp núc thi ca ông vất vả, tần tảo và cực nhọc biết bao. Vâng, đôi khi văn học cũng cần phải có những nồi cám heo của mình, với những tro cùng trấu, những củi cùng lửa, những muỗi cùng ruồi, những mồ hôi cùng nước mắt...

            Đúng như nhà phê bình Hoài Thanh nhận xét từ năm 1941: "Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở giữa thế kỷ hai mươi, Chế Lan Viên đứng sừng sững như một Tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật... đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị...". Từ độ 16 tuổi đến lúc viên tịch, quả thực, Chế Lan Viên vẫn chắc chắn và lẻ loi, bí mật, thậm chí sau khi hai tập thơ di cảo đồ sộ của ông ra mắt, ông vẫn tiếp tục để lại sau mình vô vàn niềm kinh dị cho người đọc như lời tiên tri của Hoài Thanh.
            Như một lữ hành đơn độc, Chế Lan Viên đã lầm lũi vượt qua sa mạc siêu hình, đi từ "thung lũng đau thương đến cánh đồng vui" (đầu đề một bài viết của C.L.V.). Ra đến cánh đồng vui rồi, sao đôi lúc gương mặt ông vẫn đầm đìa giọt khóc? Và thơ ông, kỳ lạ thay, vẫn bàng bạc một nỗi đau như mưa phùn, như đom đóm, như thể những vết thương xưa của ông chưa chịu khép miệng mà chúng đang ca hát. Có lẽ, chính vì nỗi đau ma ám ấy, cái nỗi buồn thương định mệnh ấy đã làm nên cái bất tử của tập thơ “Ánh sáng và phù sa” do Nxb. Văn học ấn hành năm 1960, với số lượng phát hành kỷ lục: 6.070 cuốn. Tập thơ đã gây một tiếng vang cực lớn thời đó, chỉ trong vài ba tháng đầu đã bán hết. Có thể nói không ngoa rằng, “Ánh sáng và phù sa” đã thành cái mốc chuyển biến quan trọng của thơ Chế Lan Viên nói riêng, của thơ Việt Nam nói chung. Sau hai mươi lăm năm, kể từ Thơ Mới ra đời, đến lúc “Ánh sáng và phù sa”, thơ Việt Nam đã xuất hiện một thi pháp mới, một giọng điệu mới, một cách cảm nghĩ mới. Rất tiếc, một tập thơ quan trọng như thế của thi ca hiện đại, ba mươi tư năm rồi chưa được tái bản. Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, hầu hết các nhà thơ trên dưới năm mươi tuổi sống trên đất Bắc, những bước đầu chập chững làm thơ, đều có chịu ảnh hưởng của “Ánh sáng và phù sa”.
            Cái chết, niềm hư vô và niềm cô đơn là nỗi ám ảnh khôn cùng của thơ ông ngay từ thời niên thiếu. Tâm hồn ông hầu như đã biến thành vỏ ốc của sự chết, để ngọn gió hư vô thổi vào và ngân lên bài ca bi ai, hoan lạc của bản hòa tấu cô đơn. Mới mười lăm, mười sáu tuổi, ông đã đi lại trên mặt đất như một cái Tháp Chàm. Ông mơ trong cả khi tỉnh thức. Đôi mắt của hồn ông chỉ nhìn thấy thế giới siêu hình, toàn là những bóng ma, những âm hồn phiêu dạt, những óc phọt, những xương trào, máu cuộn. Ông coi cái thế giới bên kia mới là đích thực hơn cái thế giới bên này, tin vào hư mà ngờ thực. Rất may là trời chưa kịp ban cho ông đôi cánh. Nếu không, ông đã bay lên tít mù xanh thẳm, biến thành tinh cầu vô định, nơi con người cũng như thơ ca không còn một chút trọng lượng. Và vì chưa có đôi cánh, ông đã coi vòm trời kia bất quá cũng chỉ là một bóng cây, các vì tinh tú cũng chẳng khác gì một trái ổi:

            “Kìa em trông một vì sao đang rụng
            Hãy nghiêng mình mà tránh đi nghe em...”
            (Đêm tàn)

            Ông hợp nhất mình với vũ trụ như làn hương hợp nhất với vòm trời. Tuy nhiên, ông thừa biết trò chơi của tạo hoá: vũ trụ vô tận kia cũng mong manh như một cánh phù dung, nên khuyên người yêu cũng chính là để khuyên mình. Những vì sao chói ngời và run rẩy kia, mi có thể rụng như sung vào tình yêu của ta bất cứ lúc nào. Quả thực, mỗi ban mai, những vì sao kia rụng đâu hết cả. Và vì vậy, chừng như những người đang yêu vì phải né tránh cái rơi rụng của các tinh cầu, nên dáng đi của họ có vẻ nghiêng nghiêng, nếu không muốn nói rằng như vệt nắng xiên khoai... Tuồng như Chế Lan Viên suốt đời phải đi kiểu nắng xiên khoai như vậy, để né tránh các tinh cầu hư vô rớt xuống từ bầu trời cô đơn, cắt rừng siêu hình ra mà tìm đến con người. Và khi ông tìm thấy con người, ông đã gặp được nỗi đau. Nỗi đau ấy ông gọi là hạnh phúc.

            Những ngày hoàn tất tập thơ “Ánh sáng và phù sa”, Chế Lan Viên vừa trải qua bệnh phổi nặng. Đến nỗi ông tin rằng mình sắp chết. Chừng như niềm hư vô như một con mọt đang ăn rỗng ngực ông như nó từng ăn rỗng cả vũ trụ. Bên cạnh đó, số phận đã bắt ông phải uống chén đắng của cuộc tình tan vỡ, khiến ông gần như không còn nơi bám víu nữa. Nhưng, ở bên bờ tuyệt vọng, ông đã may mắn gặp được nàng thơ của mình. Nàng thơ đó có tên là cuộc sống.
            Chừng như mỗi lần cái chết tính gõ cửa hồn ông, ông lại có thơ hay. Có thể nói, trong phản ứng hoá học của tư tưởng và cảm xúc để tạo ra một chất thứ ba là thi ca, cái chết hầu như là một chất xúc tác kỳ diệu của Chế Lan Viên. Và những cơn đau chính là nhiệt độ, là lửa để tạo ra phản ứng thi ca của ông. Ông đã có những câu thơ rất hay về đất nước, về con người, những câu thơ ám ảnh suốt một thời trai trẻ của tôi và nhiều bạn bè khác:

            “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét”
            ...
            “Con nhớ em con thằng em liên lạc
            Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ...”
            ...
            Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
            Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn”
            (Tiếng hát con tàu)

            Đây là cái nhìn của ông, một người miền Trung về đất Bắc :

            “Chỉ còn máu sông Hồng trong quả ngọt
            Con chim ăn thấy vị phù sa trong tiếng hót”
            (Giữa tết trồng cây)

            Ông nhìn chân trời trong bài “Đọc Kiều”:

            “Cỏ bên trời xanh một sắc Đạm Tiên”

            Ông nhìn thấy được tiếng chim và nghe được mùi hương quả chín từ thẳm xa đưa tới, trong một tình thương bình dị mà thẳm sâu đến sững sờ:

            “Tiếng cu xa gáy đến phòng em
            Bóng nhãn theo vào với tiếng chim
            Bệnh yếu, em chưa về hái quả
            Thương em, mùa lại đến đây tìm”
            (Tiếng chim)

            Quả thực, Chế Lan Viên có rất nhiều thơ hay, tứ thơ hay, nhiều bài thơ tứ tuyệt tuyệt vời, vừa rưng rưng sương khói cảm xúc, lại vừa chói lòa ánh sáng của trí tuệ. Ông tìm thấy ánh trăng sao trong bùn đất, thấy cái tơ non ngay trong linh hồn đá sỏi; thấy cái nước, cái lạnh trong lửa và ngược lại. Tôi đồ rằng ông đã suy tưởng bằng trái tim và xúc cảm bằng bộ óc? Và vì vậy, Thượng Đế chừng như đã cấu tạo nên cơ thể ông trong lúc Ngài mải làm thơ trong trạng thái hưng phấn không bình thường, nên đã bỏ lộn trái tim ông vào hộp sọ và đem bỏ hai bán cầu não ông xuống phía ngực trái?
            Có người hận ông vì điều gì đó đã cho rằng, tâm hồn của ông “Điêu tàn” thuở nào như vầng trăng non đã bị gấu ăn hết. Rằng, Chế Lan Viên chỉ còn thuần có bộ óc. Rằng, ông chỉ làm thơ bằng trí thông minh, bằng trò chơi ma giáo của chữ nghĩa...Do đó, thơ ông trong suốt như nước phèn, không sinh vật cá tôm nào, thậm chí đến cả phù sa cũng không sống nổi trong cái dung dịch thơ lý trí kia (!) Không, vầng sáng của trí tuệ Chế Lan Viên đầy năng lượng sương khói, cái lý trí đầy ắp bản năng của ông bao giờ cũng là mảnh vườn màu mỡ cho thi ca sinh trưởng. Chúng ta thử đọc qua một bài thơ tứ tuyệt: "Tháp Bay-on bốn mặt", ông đề dưới là viết trong mùa bệnh 1988, xem ông viết bằng trí thông minh hay viết bằng tình cảm :

            "Anh là tháp Bay-on bốn mặt
            Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
            Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc
            Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình"

            Vâng, có thể ông đã viết bài thơ này bằng trí thông minh, nhưng là trí thông minh của nỗi đau, của niềm nhức nhối. Hồn ông hình như vẫn lảng vảng, lẩn khuất đâu đây như ánh trăng, như hơi thở của ngôi nhà lý trí. Khi bài thơ đã đạt được sự hay, nó không còn phân biệt đâu là tư tưởng, đâu là cảm xúc, đâu là xác, đâu là hồn nữa.

            "ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO BẠN
            HÃY TỰ HỎI BẠN ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC"

            Comment

            • #36

              Chế Lan Viên - Người làm vườn vĩnh cửu


              (tiếp theo)

              Có người bảo Chế Lan Viên là người hai mặt trong đời và hai mặt trong thơ. Người ta đã cố ý biến ông thành con thò lò, thành con rối của thời thế, để đổ hết lỗi của những người khác vào ông. Làm như chính ông đã gây ra những thảm hoạ, những bi kịch của đời sống, những tráo trở bất nhẫn của kiếp người. Họ vẽ chân dung ông ra thành con ngáo ộp của văn nghệ, chuyên bắt nạt và sát phạt anh em (!) Như bài thơ vừa trích dẫn, Chế Lan Viên tuyên bố rằng ông như tháp Bay-on có đến bốn mặt cơ, phải giấu đi ba mà chỉ bày ra một mặt. Đừng hiểu cái mặt này theo ý nghĩa chính trị. Xét về ý nghĩa triết học, mỗi con người quả tình có đến nghìn muôn bộ mặt giấu bên trong. Cái con người bên trong của chúng ta đã được tôn giáo diễn đạt bằng tượng Phật nghìn mắt, nghìn tay và dĩ nhiên phải hiểu là có cả nghìn gương mặt. Vậy cái chuyện bảo Chế Lan Viên có hai bộ mặt âu là chuyện thừa. Mỗi bộ mặt của hồn thơ ông hầu như quay về những hướng khác nhau, kéo bản thể của ông đi về muôn phía, toàn là những phía trái ngược nhau. Do đó, cái con người tinh thần của ông từng phút giây đều phải đau cái nỗi đau đoạn trường của Vệ Ưởng bị bảy con trâu kéo nát thịt da về bảy hướng. Nỗi đau chính là tình nhân đầu tiên và cuối cùng của thơ ông :

              “Dẫu là Chúa cũng sinh từ ruột máu
              Ta đẻ ra đời sao khỏi những cơn đau”
              (Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?)

              Từ “Điêu tàn” đến “Ánh sáng và phù sa”, Chế Lan Viên phải mất gần hai mươi năm trăn trở, quằn quại, vật vã trên con đường đau khổ như chữ dùng của nhà văn Nga A-lếch-xây Tôn-xtôi. Ông đã phải bỏ đi, phải vượt qua cả một tập thơ của mình: "Gửi các anh". Tập thơ này hầu như không phải do chính tay ông viết, nhợt nhạt và ấm ớ, giản đơn và tầm thường. Nó chính là một tập thơ đệm, một trạm trung chuyển, một gã ăn theo. Cũng giống như trong các tập thơ hùng vĩ của mình, đâu đây vẫn thấy thơ ông còn những bài đệm, những bài thơ trung tính, trung bình, những bài thơ cảm xúc bò như sên và lý lẽ thì phóng nhanh như tên lửa. Nhưng đó là chuyện bình thường, đừng vì một hạt sạn bé con mà bỏ đi cả nồi cơm gạo tám thơm ngon.

              Chế Lan Viên là một thiên tài. Mà tất cả các thiên tài đều tự mâu thuẫn, nhiều giằng xé không sao giải quyết. Trong ông, con sư tử và con nai ở chung với nhau, mèo phải hội họp với chuột, cái ác và cái thiện là một cặp bài trùng chuyên môn cãi lộn nhau, sự thuỷ chung và sự phản bội phải làm phép hôn phối trước vị linh mục có tên là nhân tính. Ông phức tạp hơn cái người ta hiểu bội phần. Thậm chí, cái sự phức tạp, nhiêu khê, rối rắm, thậm chí hỏa mù của thế giới nội tâm mình, ông cũng không tự nhận thức nổi.
              Trong cuộc chiến tranh thành Troie của tư tưởng nhập cuộc, của hành động dấn thân chống lại cái tình cảm hồng hoang mù sương của tầng tháp cổ, của bóng ma trơi siêu hình, siêu tưởng, tâm hồn ông bao giờ cũng là một bãi chiến trường đầy ắp thương vong và chiến tích. Nói cho cùng, cuộc đời của một thi sĩ kể ra cũng chẳng lấy gì làm sung sướng, toàn là đau dùm và khổ mượn, lấy nỗi buồn của chim sa cá nhảy làm nỗi buồn của chính mình, dại dột cõng vòm trời trên lưng như cõng một em bé, để rồi ấm ớ luôn hồ nghi, luôn tự hỏi mình đang đi, đang sống đây hay là một đám mây, một quầng lau trắng?

              Từ “Ánh sáng và phù sa” rồi qua các tập thơ lừng danh: “Hoa ngày thường - chim bào bão”, “ Đối thoại mới”, “Hái theo mùa”, “ Hoa trên đá”... và hai tập thơ di cảo, Chế Lan Viên luôn luôn phải đơn độc chống trả với thế giới siêu hình. Ghét của nào trời trao của đó, cố gắng đến cạn sức lực để chống lại cuộc chiến tranh không giới tuyến, mà đám giặc-siêu-hình kia luôn luôn “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”, nên Chế Lan Viên đến phút lìa đời vẫn không thoát khỏi ám ảnh siêu hình. Bởi vì, cái siêu hình kia nó không nằm ở ngoài ông, mà nó tồn tại, nó đóng tổng hành dinh trong chính tâm hồn ông, trong tốc độ vũ trụ của tư duy ông, nó bày binh bố trận trong hơi thở, trong cái nhìn bản năng ông. Cái mà trong đoạn thơ dưới đây trích trong bài thơ “Gió lật lá sen hồ” ông viết năm 1988, tức là trước khi mất một năm, ông gọi là “ai đó”. Bởi, “ai đó” cứ ném thia lia trong hồn ông:

              “Gió thổi lá sen hồ lật lại phía bên kia
              Phía ấy gọi anh về
              Về đâu chưa biết nữa
              Chỉ biết hồn anh lật lại cùng với gió
              Ở trong hồn ai đó ném thia lia”

              Ôi cái phía bên kia, cái phía gọi anh về, chắc là ông đã linh cảm được phía ấy, nhưng vì sợ nên chưa gọi thẳng tên nó ra mà thôi. Cái phía bên kia của mặt trăng, cái bên kia của thế giới có tên là cái chết. Mà cái chết với Chế Lan Viên chính là tên gọi thứ hai của cõi siêu hình. Từ bỏ cõi siêu hình trở về cõi thực, Chế Lan Viên hầu như đã phải chết đi một con người, cứ tưởng ông đã hồi sinh thành một con người khác. Ai dè, sau những cơn vui chiến thắng, sau những hò reo, những hoan hô, ca tụng, những hạnh phúc đầm đìa khóe mắt, ông lại trơ ra chỉ còn lại một mình với con mọt hư vô đang từng ngày gậm nhấm cuống phổi mình như chuột gặm. Mà suốt mấy chục năm reo cười, hò hát bản anh hùng ca thời đại hết sức tuyệt vời, hết sức chân thành và cảm động, riết rồi cũng mệt, riết rồi cũng khản tiếng, tàn hơi. Nói cho cùng, niềm vui hầu như không có khả năng tạo ra thế giới; chỉ có tiếng cười như pháo tết đâu có thể tạo ra nghệ thuật. Vâng, cuộc đời thực kia, ông đã yêu đến cạn cùng hai lá phổi, yêu như “đêm xuân người vợ trẻ yêu chồng”, yêu đến nghẹn thở, đến cuống quýt, ồn ào. Tuy nhiên, chạy một mạch mấy chục năm như con trẻ chạy theo con diều giấy, Chế Lan Viên đột ngột dừng lại suy nghĩ về cái thế giới “danh vọng ầm ào, vinh quang xí xố”! Và, nói đi rồi cũng phải nói lại mới toại lòng nhau, chẳng ai nỡ bắt bẻ một thi sĩ suốt đời cúc cung tận tụy cho lý tưởng, khi chợt một ngày nào đó trước nỗi chết, ông theo phép biện chứng mà lộn trái các sự vật:

              “Xưa nghiêm túc, nghiêm trang
              Giờ nửa khôn, nửa dại
              Lộn lèo trong gió trái”
              ...“Chơi trò hề lăng nhăng
              Bớt cái điều trọng đại”
              ...“Bắt chước đào lộn hột
              Vỏ tâm hồn lộn tuốt
              Bớt bớt điều kiêng khem”
              (Lộn trái - 1988, ba hôm trước ngày lật trái phổi ra cắt)

              Cuộc đời thì vui vẻ thế, cớ sao thời thế lại hắt hiu như một người ngồi đánh cờ với chính bản thân mình: "Để anh chơi chỉ có một mình". Nhà thơ chợt buồn đến lặng cả người khi: "Chả hiệp sĩ nào buồn xách gươm lên ngựa / Gươm muốn làm lành cùng cối xay". (Don Quichotte). Chế Lan Viên đã đi, đã chạy, đã bay mà không đuổi kịp chân trời: "Vọng phu tình ái, vọng phu thơ, vọng phu lý tưởng". Bởi ông hiểu thấu cái nỗi đời trớ trêu, tưởng được đó mà mất đó, vừa thấy TẠO xong, đã HOÁ liền:

              “Ai có một chân trời
              Và mất gì sau đó phía chân mây?”
              (Vọng phu)

              Ngỡ đã tới đích của đời, ai dè đấy lại là khoảng trống vô cùng của hư vô, cái lỗ kim siêu hình mà cả đời ông chạy theo xâu chỉ hiện thực:

              “Tôi như người xâu sợi chỉ vào cây kim ngay trước mặt
              Chỉ đã lọt rồi, kim bỗng lùi xa
              Tôi đã bước lên một bước, Kim lùi thêm một bước”
              (Hồi ký bên bàn viết)

              "Có lúc chỉ lọt vào rồi lại sẩy
              Xâu vừa xong gió tuột nửa chừng
              Lỗ kim...lỗ kim trước mắt"
              (Xâu kim)

              Giờ đây, ở thế giới bên kia, bằng sợi chỉ duy vật, hẳn là Chế Lan Viên đã xâu được cái lỗ kim tôn giáo, cái lỗ kim vô hình mà con lạc đà trong Kinh Thánh không thể nào chui lọt. Cái lỗ kim ấy cũng có tên là chân trời, là xa vời lý tưởng, là cõi đích thực của cái đẹp vĩnh hằng; nơi sinh thời, suốt bảy mươi năm, ông đã kéo bản thân mình ra thành sợi chỉ, lầm lũi và đăm đăm hướng tới như con chiên hướng về tín ngưỡng của mình. Nhưng chừng như tất cả đều vô vọng, tất cả còn vẫn ở đâu đâu. Phép lạ, có lẽ chỉ có khả năng xảy ra sau khi ta ngừng thở. Rốt ráo, tính nhân văn cao cả của thơ Chế Lan Viên chừng như đọng lại thành phù sa, thành ánh sáng ở chỗ này đây. Ông ví mình như con ong của thời thế, đến đây yêu xong là chết, vất vả cực nhọc, cúc cung tận tụy, tận hiến, tận trung, tận tình mà chẳng hề mang về cho mình một chút gì ngoài niềm đau, thi ca và cái chết : "Làm nên mật đạo đức / Chả hút gì ở môi". Sinh thời, ông không hề ta thán oán trách gì, đòi hỏi mè nheo gì. Nhưng, đối với thời đại này, ông quả là một đại công thần về văn hóa. Ông đã đi hầu khắp thế giới, trừ có Mỹ châu, để làm người thuyết khách, người rao giảng của cách mạng, của cuộc kháng chiến cứu nước. Trong thời chống Mỹ, tùy bút “Những ngày nổi giận” có sức mạnh tinh thần của cả mười đạo binh. “Những bài thơ đánh giặc”... của ông có sức mạnh ngang hàng với sức mạnh của những dàn tên lửa Sam một, Sam hai. Sự đóng góp của ông thật vô cùng to lớn. Thế nhưng, ông được đãi ngộ cái gì? Ông chưa hề được cấp nhà một lần trong đời, không bao giờ có được cái điện thoại. Cho đến khi mất, ông chưa hề được những nhà xuất bản nhà nước tái bản một cuốn sách nào. Ông sống đạm bạc mà thanh cao, tự tại nơi khuất nẻo xa xôi trong góc ngoại ô phía Tân Bình. Đến nhà ông mùa mưa thì lầy lội, mùa khô thì bụi mù. Ngôi nhà của ông quá đỗi đơn sơ, chẳng có gì quý giá ngoài trang bản thảo.
              Nhưng con người ông với tất cả nội lực phi thường, vẫn thung thăng đi tiếp về phía chân trời của triệu người, từ chân trời tháp cổ cô đơn của mình như lời khuyên của P. Eluard. Ông là người “ăn cây nào rào cây nấy”, chẳng như ai kia “được ăn, được nói, được gói mang đi, được hòn chì ném lại “. Thế mà có lắm người cuống cả lên, làm như Chế Lan Viên đã ăn hết lộc của thiên hạ. Ông ăn gạo nhà Chu và ông có bổn phận rào cây lúa nhà Chu. Bá Di, Thúc Tề lên rừng ăn lá ư? Nhưng rừng kia cũng vẫn của nhà Chu cơ mà? Điều đó giải thích thái độ quyết liệt, thậm chí riết róng, dữ dằn đằng đằng sát khí của ông trong hàng loạt bài tiểu luận về quan điểm nghệ thuật khi phải tranh biện, cãi vã. Và vì vậy, có khá nhiều người không ưa ông, rồi không ưa luôn cả thơ ông nữa. Nhưng ở đời, cái gì ra cái ấy, sự nghiệp thi ca đồ sộ của ông đã thành tài sản chung của dân tộc. Ông có thể vay trả, ân oán với người đời ở chỗ khác; nhưng với thơ, ông mãi mãi là cây đại thụ của thế kỷ hai mươi trong lịch sử văn học nước nhà. Có thể ông đúng. Cũng có thể ông sai. Nhưng ông có quyền bảo vệ những quan điểm chính trị của mình. Chỉ có điều thuộc về tính khí, trong tranh biện, ông là người đôi khi truy đối phương tới cùng, quyết không cho đối phương đứng lại thở. Vâng, mỗi con người đều có những khiếm khuyết để tồn tại, huống hồ ông lại là một tài năng lớn, một người tầm cỡ mang trong mình tất cả thiện ác của thời đại, tất cả nghịch lý của kiếp người, cái mâu thuẫn không sao giải quyết của số phận. Trong bài thơ “Từ thế chi ca”, ngay cả khi trăn trối mà ông còn đáo để:

              "Những kẻ nguyền rủa anh sẽ buồn
              Chả còn anh cho họ giết
              Dao sẵn rồi họ không dễ để yên"

              Chế Lan Viên, xin ông hãy yên trí làm vườn lan nhà họ Chế ở bên kia biển, bên kia trời siêu hình; bởi trên đời này, người yêu ông, kính trọng và khâm phục ông nhiều vô kể. Những người không ưa ông còn ở trong quá khứ. Nhưng ông và thơ ông đã bay về phía tương lai của con người!
              Chế Lan Viên là người Mác-xít. Vâng, cả Picasso, Romain Rolland, Eluard, Aragon, Néruda...cũng đã từng là người Mác-xít. Điều kiện tiên quyết để trở thành người Mác-xít là phải theo chủ nghĩa vô thần. Nhưng Chế Lan Viên lại cho rằng con người có linh hồn và khi chết rồi, linh hồn con người bất tử. Ông trăn trối lại cho vợ con sau khi ông chết, hãy đốt xác ông, lấy tro đem gởi vô chùa. Và như vậy, chết rồi ông mới đi tu, mới trở về với Phật mà khi sống ông không ngớt hồ nghi. Tôn giáo là nỗi ám ảnh khôn nguôi suốt một đời ông sống. Nhà Mác-xít Chế Lan Viên tự mâu thuẫn với nhà Phật học Chế Lan Viên. Như trên đã nói, ông tập trung mọi nghịch lý, mọi mâu thuẫn của thời đại quá nhiều tôn giáo mà thiếu đức tin này. Đúng như lời của Jiri Wolker: "Qua nhà thơ, người ta thấy tầm cỡ thời đại mà ông ta sống". Chế Lan Viên chính là một thời đại của thi ca của lịch sử xã hội Việt Nam trong thế kỷ đầy đau thương mà đầy hùng khí. Tráng ca, anh hùng ca cũng là ông, mà bi ca, khốc ca cũng lại chính là ông. Điều đó làm ta dễ hiểu khi đọc những bài thơ làm giật thót mình các phía như bài “Trừ đi” và “Bánh vẽ”. Phàm con người muốn biện chứng phải biết phản biện, muốn tin tưởng, cần phải học được cách nghi ngờ. Mác cũng từng khuyên người trí thức luôn phải biết nghi ngờ. Bởi vì khoa học chỉ có thể là chính nó, khi nó tồn tại trong niềm nghi hoặc của con người. Suốt một đời đi xuôi, trước lúc lìa đời, con người cần phải đi vài bước ngược lại, quay lại một chút mà ngẫm nghĩ, mà suy tưởng về thân phận mình. Vì vậy, chúng ta càng yêu ông hơn vì cái nỗi đau đời, cái nỗi buồn tủi, cái niềm biết thân, biết phận của mình rất chi là người, là trần gian, rơm rác, bụi bặm, đời thường :

              "Anh đẽo tâm hồn thành con rối để yêu em
              Anh hoá gỗ, hoá dây, hoá dại khờ, ngũ sắc
              Tuồng tích ấy chú rối mình đủ khóc
              Cần chi bàn tay nào đến giật giật dây thêm
              Anh rối nước muốn lên bờ cùng rối cạn
              Em đi xa, ao thương nhớ hoá đầy

              ... Anh đứng giữa lệ mình trơ trơ không dám khóc
              Vui nỗi gì khán giả vỗ ran tay?"
              (Rối cạn và rối nước)

              Bài thơ làm nhức nhối người đọc, huống hồ là người viết ra nó phải đau, phải nhân tình thế thái biết là chừng nào. Nói về mình khi chưa gặp cách mạng, Chế Lan Viên viết: "Lòng ta thành con rối / Cho cuộc đời giật dây". Ngày đó ông mới vừa hai mươi lăm tuổi, sân khấu đời ông đã kịp diễn gì đâu? Con rối ấy hoạ có chăng là rối siêu hình? Còn giờ đây, con rối nước xưa đã bò lồm ngồm lên cạn như ếch nhái, để lại diễn đủ trò cho thiên hạ vỗ tay. Còn mình thì vẫn rối như sợi chỉ hiện thực trước lỗ kim vô cùng?

              Càng gần tới cái chết, thơ ông viết càng hay, càng bớt chất luận đề, chính luận, càng thêm cảm xúc và sâu đọng. Hầu hết các nhà thơ mới, kể cả Xuân Diệu, Huy Cận, cái phần thơ hay nhất, đóng góp lớn nhất cho thi đàn lại là những thi phẩm ra đời trước năm 1945. Chỉ có Chế Lan Viên và phần nào Tế Hanh, mà những trước tác sau này thậm chí còn đồ sộ, còn hay hơn nhiều thời tiền chiến. Sau Thơ Mới, ông đã làm cho Thơ Mới được mới thêm một lần nữa. Đấy chính là sự đóng góp có tính tiền phong, tính mở đường của thơ Chế Lan Viên cho thời đại thi ca mới. Chính ông mới là nhà thơ hiện đại đúng nghĩa nhất của nó.
              “Lòng ta mục đồng / Cũng đi chăn đấy”... ... “Tôi chỉ là nhà thơ cưỡi trâu”. Do đó, đôi khi thi ca cũng cần được tung tăng hồn nhiên như con nghé ọ. Nhà thơ không cưa sừng làm nghé, vì tâm hồn ông đã được thả rông trên đời này để có lúc vừa ăn cỏ của đời sống, vừa uống nước sông Ngưu siêu hình của trời xanh:

              "Con trâu nghé ọ
              Có cặp sừng bỡ ngỡ
              Chiều buồn không biết cọ vào đâu"
              (Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh -1988)

              Câu thơ viết như chơi, viết như đùa, như không mà hay đến nghi hoặc. Yêu biết bao nhiêu cái cặp sừng non bỡ ngỡ của thi ca. Này con nghé ọ, mi đang cọ sừng vào cõi hư vô mà chẳng biết. Nhà thơ bảy mươi tuổi nhưng thi ca của ông sinh ra muôn đời phải là con trẻ, phải là con nghé ọ của đời. Con nghé thơ sẽ lớn thành con trâu kéo cày trên cánh đồng văn học. Và, trâu thơ ơi, sau khi người chết đi, người đời sẽ mượn da người làm trống, để đánh lên nhịp nhảy, nhịp sống của con người. Và trâu thơ ơi, xin mi để lại cặp sừng làm chiếc tù và báo động. Đi từ cặp sừng non của con nghé đến chiếc tù và của con trâu, Chế Lan Viên vẫn tiếp tục cất lên tiếng trống, tiếng tù và, báo hiệu một ngày mới trên cánh đồng vĩnh cửu của thi ca...

              Thành phố Hồ Chí Minh 3 giờ sáng 22/5/1994
              (Nhân ngày giỗ thứ 5 nhà thơ Chế Lan Viên 19/6/1994)
              (Bài đã in báo VĂN, TP HCM, số 32, 6/1994 và trên Văn nghệ Quân đội số tháng 12/1994)

              "ĐỪNG HỎI TỔ QUỐC ĐÃ LÀM GÌ CHO BẠN
              HÃY TỰ HỎI BẠN ĐÃ LÀM GÌ CHO TỔ QUỐC"

              Comment

              • #37

                Chế Lan Viên: Cắt đứt lòng anh trăng của em

                Chế Lan Viên: Cắt đứt lòng anh trăng của em



                Nhà thơ Chế Lan Viên


                Chế Lan Viên là một hiện tượng độc đáo trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Năm 16 tuổi, quyển Điêu tàn của ông "đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị" (Hoài Thanh). Nhận xét ấy đúng đâu phải chỉ với tập thơ đầu tay, mà với cả sự nghiệp thơ của Chế Lan Viên. Đặc biệt là với những tập Di cảo ra đời sau khi nhà thơ đã mất.


                Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Chế Lan Viên gắn bó chặt chẽ với nhà văn Vũ Thị Thường, một cây bút truyện ngắn gần gũi với mảng đề tài nông thôn Việt Nam. Từ khi Chế Lan Viên qua đời, nhà văn Vũ Thị Thường đã coi việc sưu tầm, góp nhặt, tuyển chọn và xuất bản những di cảo thơ của ông là công việc quan trọng nhất của đời mình.

                Cách đây nhiều năm, trong chương trình Điểm tựa tài năng, một chương trình rất có ý nghĩa, nhằm tôn vinh những người mẹ, người vợ của các bậc tài danh của đất nước do Nhà văn hoá Lao động và Báo Phụ nữ T.P HCM kết hợp tổ chức, bà Vũ Thị Thường đã khiến bao khán giả phải trào nước mắt vì xúc động, khi nghe bà kể lại những kỷ niệm trong đời sống thường ngày cũng như trong hoạt động sáng tạo của cặp vợ chồng nghệ sĩ này.
                Tình yêu và lòng quý trọng đối với người chồng là một nhà thơ có tài đã giúp bà có thêm lòng quyết tâm và nghị lực khi bắt tay vào thực hiện công việc của mình. Ba tập Di cảo thơ ra đời có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó giúp cho nhiều thế hệ bạn đọc có một cái nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về một nhà thơ lớn của thời kỳ hiện đại.

                Tuy vậy Chế Lan Viên còn có một cuộc đời khác. Hay nói chính xác hơn, cuộc đời ông còn có thời kỳ gắn bó với một người phụ nữ khác - là người vợ đầu của ông. Nhưng người ta ít nói đến vì một lẽ đơn giản là hai người đã chia tay nhau từ lâu. Mọi chuyện đã trở thành quá khứ.

                Sau khi chia tay cả hai người đều đã có một gia đình khác, một cuộc sống khác. Nhưng chắc chắn rằng người phụ nữ ấy đã có thời là tất cả tình yêu của nhà thơ Chế Lan Viên. Và điều đáng nói hơn cả ở đây là cuộc chia tay của họ có một vẻ gì đó thật khác thường, được ghi dấu bằng một bài thơ tứ tuyệt chưa bao giờ được công bố.



                Nhà thơ Chế Lan Viên (thứ 2 từ trái sang) cùng các nhà thơ Tế Hanh, Hoàng Trung Thông, Nông Quốc Chấn.


                Từ nỗi đau của sự chia cắt và ly biệt, từ cảnh ngộ của riêng mình nhà thơ đã gửi gắm tình cảm của mình qua những câu thơ giản dị, chân thành mà trĩu nặng ưu tư. Để có thể hiểu rõ hơn hoàn cảnh ra đời của bài thơ, xin được nói đôi lời về người đàn bà đã từng đi qua đời nhà thơ Chế Lan Viên, vào những năm tháng trẻ trung, sôi nổi nhất.

                Bà tên là Nguyễn Thị Giáo. Bà Giáo vốn là bạn đồng trang lứa và lại là người đồng hương Đà Nẵng với cha tôi - nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận. Cụ thân sinh ra bà là thầy giáo dạy cha và các chú tôi (Lưu Quý Thảo, Lưu Trùng Dương) ở một trường trung học tại thành phố Đà Nẵng những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945.

                Chế Lan Viên cũng có thời từng là học trò của cụ. Thời con gái, bà Giáo được nhiều chàng trai ở thành phố biển Đà Nẵng thầm yêu trộm nhớ, vì vẻ đẹp mặn mòi và nét duyên dáng của một cô tiểu thư khuê các. Nhưng bà đã nặng lòng với người thi sĩ mang họ Chàm từ khá sớm. Vượt qua nhiều khó khăn trở ngại từ phía gia đình, bà nhất quyết đi theo tiếng gọi của lòng mình.

                Tháng 9 năm 1943, hai người tổ chức đám cưới. Khi đó Chế Lan Viên 23 tuổi và cô thiếu nữ Nguyễn Thị Giáo vừa tròn 18 tuổi. Cuộc sống hạnh phúc của ông bà kéo dài được 15 năm. Kết quả của tình yêu đó là ba người con, hai trai (Phan Lai Triều, Phan Trường Định) và một gái (Phan Thị Chấn Thanh) lần lượt ra đời.

                Năm 1958, sau một chuyến đi chữa bệnh dài ngày ở Trung Quốc của nhà thơ Chế Lan Viên, gia đình ông gặp chuyện sóng gió. Khi thấy nguy cơ đổ vỡ của gia đình, Chế Lan Viên rất đau khổ và không hề muốn điều đó xảy ra. Ông sẵn lòng chấp nhận tất cả, sẵn sàng bỏ qua mọi chuyện để giữ được tổ ấm của mình.
                Tình yêu còn đến đâu thì chưa biết, nhưng chắc chắn ông thương các con của mình, khi đó đang còn bé dại cả. Nhưng có thể vì lòng tự ái hay vì một lí do riêng nào đó mà bà Giáo từ chối mọi lời đề nghị của Chế Lan Viên. Cuộc chia tay không thể nào tránh khỏi. Mọi lời khuyên can, hòa giải đều vô ích. Bạn bè văn nghệ sĩ và những người đồng hương đều tiếc cho hai ngưòi.

                Ngày hai ông bà ra tòa chia tay nhau có mặt cha tôi. Ông đến dự phiên toà với tư cách là đại diện cơ quan (ngày đó ly hôn phải có đại diện cơ quan) và với tư cách là bạn lâu năm của cả hai người. Cha tôi kể lại rằng suốt buổi hôm đó Chế Lan Viên ngồi im lặng. Sau khi đã xong hết mọi thủ tục, trước khi ra về, ông mới lặng lẽ đứng lên và đọc bài thơ, thay cho lời nói cuối cùng.
                Đến chỗ đông người anh biệt em
                Quay đi thôi chớ để anh nhìn
                Mày em trăng mới in ngần thật
                Cắt đứt lòng anh trăng của em
                Sự việc đó khiến mọi người vô cùng sửng sốt. Đúng là có một không hai.
                Thông cảm với nỗi đau của ông, người ta càng thêm kính trọng nhân cách và lòng nhân hậu, vị tha của một thi sĩ tài năng. Nếu ai đã gặp bà Giáo, thì càng thấy cảm phục cái tài và cái tình của Chế Lan Viên. Nét nổi bật nhất trên gương mặt của bà Giáo là cặp lông mày hình vòng cung, cong như lá liễu.
                Khi đã là một người đàn bà ở tuổi 80, đôi lông mày của bà vẫn còn nguyên nét mảnh mai, son trẻ như mảnh trăng đầu tháng. Ấn tượng mà bài thơ từ biệt của Chế Lan Viên để lại trong lòng cha tôi thật sâu đậm. Nhiều năm sau này ông vẫn còn kể về nó. Đặc biệt là sau những lần bà Giáo đến nhà thăm cha tôi, cùng với những người bạn đồng hương.

                Nhiều năm tháng đã đi qua trong cuộc đời mỗi người. Nhà thơ Chế Lan Viên và bà Nguyễn Thị Giáo từ lâu đều đã có một gia đình khác, có những niềm hạnh phúc khác. Nhưng chắc rằng những tháng năm chung sống cùng nhà thơ Chế Lan Viên đã trở thành một phần đời không dễ nguôi quên đối với bà Giáo.

                Trong một lần trò chuyện với anh Phan Lai Triều, con trai cả của nhà thơ và bà Giáo, tôi được biết rằng khi nhà thơ Chế Lan Viên đang đau nặng, nằm điều trị ở bệnh viện Chợ Rẫy, bà Giáo đã yêu cầu anh đưa bà vào thăm. Nhưng để tránh sự xúc động quá lớn cho cả hai người, anh Triều đã khuyên mẹ không nên gặp lại cha mình khi cả hai đều đang đau yếu (lúc đó bà Giáo mới trải qua một cơn tai biến não).
                Bà Giáo đã nghe theo lời con trai và ra về, chỉ nhờ anh chuyển đến Chế Lan Viên một chút quà. Hiện nay tuổi đã cao, sức yếu, bà sống với con tại TP HCM. Cách đây hơn nửa thế kỷ nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nói về Chế Lan Viên: "Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường mà hòng đo được".

                Tất nhiên chúng ta đều hiểu rằng nhận xét đó là để nói về thơ của ông. Nhưng chỉ qua một bài thơ tứ tuyệt được ra đời trong một hoàn cảnh đặc biệt như vậy, chúng ta thấy lời khen ấy thật là xác đáng cả về tài năng cũng như tấm lòng của một thi sĩ mà tầm vóc đã vươn tới một chiều kích khác


                * Lưu Khánh Thơ


                ************



                * Lưu Khánh Thơ :Em gái nhà thơ Lưu Quang Vũ.
                ----------------------------

                Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

                Comment

                Working...
                X
                Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom