Hà Nội vào hè sớm hơn các vùng quê. Bởi thiếu những không gian xanh, lại bị giam hãm trong những khối gạch ngói, bê-tông, dưới một khung trời nhỏ hẹp. Báo hiệu cho mùa hè là những cành phượng vĩ nặng trĩu những chùm hoa rực lửa. Và nhất là tiếng ve sầu râm ran, ra rả suốt ngày.
Vào đầu thập niên 30, nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu đã phát huy sáng kiến diệt lũ sâu bọ chỉ được cái nỏ mồm nhưng vô tích sự ấy. Rút cuộc chúng vẫn sống nhăn. Thế là cái đám người giàu có ở trong các khu phố Tây đành ngậm bồ hòn làm ngọt, để cho chúng tiếp tục quấy rối giấc ngủ trưa của họ.
Cùng với tiếng ve sầu là tiếng rao của các hàng quà rong mà cái âm thanh réo rắt hoặc cộc lốc của họ đã tắt lịm trong một thời gian dài từ mùa đông trải qua hết mùa xuân. "Ai kem một xu đi!" "Chè trân châu" "lát xê" (glacé) "Xệch cấu"! Tiếng rao pha trộn cả ba thứ tiếng: Ta, Tàu, Tây. Nhưng "xệch cấu" là cái gì? Một thứ kem chanh trắng như tuyết xốp, ăn tới đâu mát rượi tới đó. Ra hỏi các ông Tàu Hàng Buồm người ta mới biết đó là từ ngữ thạch cao phát âm theo tiếng Quảng Đông. Còn món bánh cuốn hấp tại sao lại gọi là "lốc bỉu", thì người ta đành chịu thua, không hiểu nó xuất xứ từ một phương ngữ nào ở bên Tàu?
Ngay từ tinh mơ, người Hà Nội đã bị đánh thức bởi những tiếng rao ơi ới. "Lạp xường lồ mái phàn". Những đĩa xôi nóng hổi với những lát lạp xường mỏng tang tưởng như gió thổi cũng bay. Phải có một đôi tay điêu luyện mới thực hiện được những thao tác chính xác như thế. Để cho miếng lạp xường không bị vỡ và hình thù của nó không bị lệch lạc.
Hàng "Cà phê ô lê (au lait)" bánh Tây xuất hiện sớm nhất, khi thành phố hãy còn đỏ đèn. Còn tiếng rao buồn thảm nhất "Bánh dày bánh gi... ò... ò" vỗ vàomột không gian vắng lặng như báo cho mọi người biết rằng đêm đã về khuya. Nhưng cũng có những hàng quà chẳng bao giờ thèm cất tiếng rao. Như bún chả. Người đàn bà chít khăn mỏ quạ, ngồi ở một góc phố quạt phành phạch vào cái bếp than. Trong chốc lát, mùi thịt nướng tỏa ra thơm phức. Giờ ăn quà chiều của những người Hà Nội trung lưu. Hoặc như bún ốc. Với đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, người phụ nữ buôn Tần bán Sở biết rõ những nơi nào mình dừng lại. Hai món quà này bán theo từng mẹt. Bún cũng được cuốn lại thành từng lọn tròn như cái bánh dày Quán Gánh, để khi đưa vào miệng cùng với con ốc thì vừa gọn một miếng. Khi nào có khách tới ăn, người ta mới nhể ốc, chứ không nhể đại trà để sẵn cả một rổ như thường thấy dạo sau này. Trông mất cả ngon!
Người bán quà rong lười rao nhất là các ông hàng phở. Năm thì mười họa mới nghe vẳng lên một tiếng "phở... ở"! Điểm đặc biệt của họ là cái mũ đội trên đầu. Nếu là mũ phớt (feutre) chí ít cũng có vài ba lỗ thủng và mầu dạ cũng bạch phếch. Nếu là mũ cát (casque) thì cái chóp cũng không còn nữa. Và từ những lỗ thủng ấy lòi ra những sợi tóc. Người Hà Nội gọi đó là những cái mũ phở.
Những tiệm phở ngon của thành phố có thể đếm được trên đầu ngón tay. Phở Mi-xô (Michaud), phở Nghi Xuân, phở Cầu Gỗ... Thông thường chỉ có mấy món, tái, chín, gầu. Sau này người ta mới vẽ ra những thứ tái sách, tái bắp, rồi nạm, vè, sụn. Nhưng ly kỳ nhất là phở... chó. Dĩ nhiên nó chỉ xuất hiện ở một vài vùng ngoại thành hoặc một vài nơi phố huyện miền quê.
Thời bấy giờ cả Hà Nội chỉ có vài ba tiệm thịt chó tại phố Hàng Hòm, nơi sản xuất những chiếc va-li và hòm bằng gỗ. ít lâu sau mới mọc thêm một tiệm nữa ở phố Hàng Đồng. Lui tới những chốn này thường là những tay giang hồ tứ chiếng, dân anh chị hoặc những người lao động. Họ xắn quần móng lợn, quấn khăn đầu rìu, đi chân đất, cười nói oang oang trông như các hảo hán Lương Sơn Bạc. Thuở ấy, hình như người Hà Nội chưa biết thưởng thức cái thú "sống ở trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?".
Vào giữa những năm 30, Hà Nội vắng tiếng ồn. Có khi cả ngày không nghe thấy một tiếng còi ô-tô. Mỗi khi thấy một thằng Tây râu xồm cưỡi mô-tô phóng đi vun vút, trẻ con lại ùa nhau ra xem. Chúng gọi đó là xe bình bịch. Và người lớn cũng bắt chước gọi theo, để khỏi phải dùng tiếng Tây.
Mùa hè đã thổi vào thành phố một luồng sinh khí mới, để cho nó ầm ĩ hẳn lên, thoát ra khỏi giấc ngủ đông xuân dài dặc. Nắng hạ reo vui trên những tàng cây bàng, tỏa sáng trên mặt hồ gợn sóng thủy tinh, tráng bạc trên những cành liễu, soi rọi vào những hang cùng ngõ hẹp để cho khung cảnh bớt tối tăm.
Mùa hè mới đích thực là mùa của thiếu nhi. Nhất là với các em con nhà nghèo. Bước ra đường, chúng không còn phải co ro trong chiếc áo trấn thủ, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nắng hạ tạo cho chúng cái điều kiện để được "đầu đội trời, chân đạp đất!". Thời đó hiếm có em nào được đi dép, huống chi là giày. Thông thường, chỉ đi guốc. Nhưng cái dụng cụ ấy lại rất bất tiện mỗi khi chạy nhảy. Các em bèn đi chân trần. Cũng nên biết cách đây 6, 7 thập kỷ, các cụ sinh đẻ... không có kế hoạch.
Người chồng nghĩ sẵn một hai vế chữ Hán, để cho bà vợ cứ theo đó mà đặt tên con: "Lực năng cử đỉnh, thế khả bạt sơn" hoặc "Tu thân tề gia, trị quốc bình thiên hạ". Nếu người đàn bà tiếp tục sinh sản thì người chồng sẽ lại nghĩ thêm những chữ khác. Càng nhiều anh chị em, các em lại càng ít được chăm sóc chu đáo.
Hà Nội 36 phố phường có tới mười mấy cái ngõ với bảng tên đường đàng hoàng. Ngõ Trạng Trình, ngõ Huyện, ngõ Tràng An, ngõ Trạm, ngõ Tạm Thương, ngõ Tố Tịch, ngõ Phất Lộc, ngõ Gạch, ngõ Hàng Đũa, ngõ Yên Thái, ngõ An Chung, ngõ Văn Chương, ngõ Nam Ngư, ngõ Cấm Chỉ (nay trở thành một trung tâm ăn uống ban đêm)... Đó là chưa kể những xóm, như xóm Vạn Thái với những tiếng chát tiếng tom cùng với tiếng đàn tiếng phách, để thi đua với khu Khâm Thiên có cả một dãy nhà cô đầu. Như xóm Hạ Hồi mà đa số là những biệt thự kín cổng cao tường, ở đó người ta sống trong sự yên ắng, xa lìa hẳn với những tiếng động. Tuy nhiên, vào lúc quá trưa về chiều cũng thấy vẳng lên tiếng rao của một người đàn bà "Ai có chai bao chè, đồng nát, lông vịt, tóc rối đổi kẹo không!". Người Hà Nội gọi họ là những bà đồng nát.
Nhưng ồn ào nhất là khu Đường Thành. Bởi nó nằm kế cận các trại lính. Tiếng kèn "rê vầy" (véveil) từ trong thành vọng ra mở đầu cho một ngày mới. Trẻ con dựa vào cái làn điệu ấy để đặt thành câu hát "Con bò kéo xe, con bò kéo xe, con bò xe kéo". Và tiếng kèn ngủ đánh dấu sự khép lại của một ngày "Trèo tường mà ra, trèo tường mà ra". Sau tiếng kèn này, các chú lính ba gai thường rủ nhau trèo tường ra ngoài chơi, rồi trở về sau nửa đêm.
Hàng Buồm có một sắc thái sinh hoạt riêng biệt của nó. Tiếng rao của các hầu sáng báo cho nhà bếp biết những món ăn mà họ phải thực hiện. Tiếng chặt thịt quay, thịt ngỗng - hạ xuống cái thớt với bề dày cả gang tay và to bằng cái mâm đồng có chân - của chú khách Tân Phúc Điền. Tiếng hô "can pêi" (cạn ly) của những tửu đồ người Hoa sau khi đã đánh ngã vài ba chai Mao đài hay Mai quế lộ. Tại phố này có hai tiệm ăn nổi tiếng: Mỹ Kinh và Đông Hưng Viên với cái cầu thang thếp vàng sáng lóe được gọi là "Escalier d'or". Một số học sinh ở cỡ tuổi 14, 15 tới đây sau khi ăn xong đã ném bớt những cái đĩa trống xuống khu đất bỏ hoang ở phía dưới. Khi thanh toán, người bồi chỉ căn cứ vào những cái đĩa còn lại để tính tiền.
Đặc biệt hơn cả là khu tam giác Hàng Bạc - Sầm Công - Quảng Lạc. Với ba rạp hát, Hiệp Thành, Quảng Lạc và Sán Nhiên Đài, nơi trình chiếu hai bộ phim Việt Nam đầu tiên: "Cánh đồng ma" và "Trận phong ba". Nó cũng là nơi cắm chốt của gánh hát Kim Chung sau này. Tối tối, họ khua thanh la, não bạt rồi trống rong cờ mở để quảng cáo cho những đào kép của họ.
Sở thú mi-ni của cô Ba Tí nằm ở phố Hàng Bạc. Trong chuồng không có hổ, báo, cũng chẳng có voi như ở vườn bách thú, nhưng có gấu, lợn lòi, rồi vượn và khỉ. Vào những ngày nữ chủ nhân ngồi hầu bóng, người ta nghe thấy tiếng đàn phưng phưng và tiếng hát õng ẹo của anh kép chầu văn. Những trẻ em láu lỉnh tìm cách lọt qua cái ải gác cửa sẽ được cô Ba ban tài phát lộc.
Dĩ nhiên thành phố nào mà chẳng có tiếng ồn. Nhưng ở Hà Nội có những tiếng ồn rất đáng yêu, đáng nhớ. Tiếng chuông tàu điện, nó kêu leng keng, leng keng êm ái chứ không rộn ràng như tiếng kính coong của chuông xe đạp, hoặc làm nhức nhối điếc cả tai như còi tàu hỏa. Với những trẻ em nghịch ngợm, tàu điện là một phương tiện giao thông không mất tiền. Bởi chúng nhảy tàu thuộc vào hàng cự phách. Cứ thoăn thoắt như vượn. Khi bị soát vé, chỉ việc nhảy xuống rồi lại chạy theo bám vào toa sau. Những ngày nghỉ học, chúng có thể chu du khắp thành phố, có khi đi vào mãi tận Hà Đông. Không phải mua vé tàu, chúng dùng tiền ấy để ăn thịt bò khô mà người bán rao hàng bằng một phương thức rất đơn giản: nhắp nhắp cái kéo cho nó phát ra những âm thanh lách cách. Hoặc tới quán Mụ Béo ở Bờ Hồ để uống si tông ca la đinh (citron, grenadine: si-rô chanh, lựu). Người đàn bà ấy là một nhân vật trong giới hắc đạo của Hà Nội năm xưa đấy. Hình ảnh người phụ nữ mập mạp có nước da đen giòn đã in sâu vào tâm khảm các học sinh trong suốt một thời gian dài. Đi nộp học phí bị kẻ gian móc túi hoặc ra bờ sông đá banh bị mất xe đạp, chỉ cần nói rõ vụ việc với bà ta là trong vòng một ngày của mất đi sẽ được hoàn lại cho cố chủ.
Sẽ là một thiếu sót khi nói về Hà Nội năm xưa mà lại bỏ quên ông Tàu già ngồi bán lạc rang ở bên ngoài cái cổng tò vò, cách chợ hàng hoa không bao xa, và trông chéo sang phía trụ sở của Créditfoncier (Tín dụng ruộng đất) mà trên nóc có đặt một cái còi báo hiệu 12 giờ. Hàng ngày, cứ đúng ngọ, nó lại rú lên một hồi dài, vang dội ra tới ngoại thành và phía bên kia đê sông Hồng.
Có những người Hà Nội sống xa quê hương, mỗi khi hướng về thủ đô thường gửi gắm tình cảm của mình vào hình ảnh Hồ Gươm và tháp Rùa. Nhưng riêng tôi, tôi lại nhớ những đoàn tàu điện và nhà Gô Đa.
Phan Nghị
Vào đầu thập niên 30, nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu đã phát huy sáng kiến diệt lũ sâu bọ chỉ được cái nỏ mồm nhưng vô tích sự ấy. Rút cuộc chúng vẫn sống nhăn. Thế là cái đám người giàu có ở trong các khu phố Tây đành ngậm bồ hòn làm ngọt, để cho chúng tiếp tục quấy rối giấc ngủ trưa của họ.
Cùng với tiếng ve sầu là tiếng rao của các hàng quà rong mà cái âm thanh réo rắt hoặc cộc lốc của họ đã tắt lịm trong một thời gian dài từ mùa đông trải qua hết mùa xuân. "Ai kem một xu đi!" "Chè trân châu" "lát xê" (glacé) "Xệch cấu"! Tiếng rao pha trộn cả ba thứ tiếng: Ta, Tàu, Tây. Nhưng "xệch cấu" là cái gì? Một thứ kem chanh trắng như tuyết xốp, ăn tới đâu mát rượi tới đó. Ra hỏi các ông Tàu Hàng Buồm người ta mới biết đó là từ ngữ thạch cao phát âm theo tiếng Quảng Đông. Còn món bánh cuốn hấp tại sao lại gọi là "lốc bỉu", thì người ta đành chịu thua, không hiểu nó xuất xứ từ một phương ngữ nào ở bên Tàu?
Ngay từ tinh mơ, người Hà Nội đã bị đánh thức bởi những tiếng rao ơi ới. "Lạp xường lồ mái phàn". Những đĩa xôi nóng hổi với những lát lạp xường mỏng tang tưởng như gió thổi cũng bay. Phải có một đôi tay điêu luyện mới thực hiện được những thao tác chính xác như thế. Để cho miếng lạp xường không bị vỡ và hình thù của nó không bị lệch lạc.
Hàng "Cà phê ô lê (au lait)" bánh Tây xuất hiện sớm nhất, khi thành phố hãy còn đỏ đèn. Còn tiếng rao buồn thảm nhất "Bánh dày bánh gi... ò... ò" vỗ vàomột không gian vắng lặng như báo cho mọi người biết rằng đêm đã về khuya. Nhưng cũng có những hàng quà chẳng bao giờ thèm cất tiếng rao. Như bún chả. Người đàn bà chít khăn mỏ quạ, ngồi ở một góc phố quạt phành phạch vào cái bếp than. Trong chốc lát, mùi thịt nướng tỏa ra thơm phức. Giờ ăn quà chiều của những người Hà Nội trung lưu. Hoặc như bún ốc. Với đôi quang gánh kĩu kịt trên vai, người phụ nữ buôn Tần bán Sở biết rõ những nơi nào mình dừng lại. Hai món quà này bán theo từng mẹt. Bún cũng được cuốn lại thành từng lọn tròn như cái bánh dày Quán Gánh, để khi đưa vào miệng cùng với con ốc thì vừa gọn một miếng. Khi nào có khách tới ăn, người ta mới nhể ốc, chứ không nhể đại trà để sẵn cả một rổ như thường thấy dạo sau này. Trông mất cả ngon!
Người bán quà rong lười rao nhất là các ông hàng phở. Năm thì mười họa mới nghe vẳng lên một tiếng "phở... ở"! Điểm đặc biệt của họ là cái mũ đội trên đầu. Nếu là mũ phớt (feutre) chí ít cũng có vài ba lỗ thủng và mầu dạ cũng bạch phếch. Nếu là mũ cát (casque) thì cái chóp cũng không còn nữa. Và từ những lỗ thủng ấy lòi ra những sợi tóc. Người Hà Nội gọi đó là những cái mũ phở.
Những tiệm phở ngon của thành phố có thể đếm được trên đầu ngón tay. Phở Mi-xô (Michaud), phở Nghi Xuân, phở Cầu Gỗ... Thông thường chỉ có mấy món, tái, chín, gầu. Sau này người ta mới vẽ ra những thứ tái sách, tái bắp, rồi nạm, vè, sụn. Nhưng ly kỳ nhất là phở... chó. Dĩ nhiên nó chỉ xuất hiện ở một vài vùng ngoại thành hoặc một vài nơi phố huyện miền quê.
Thời bấy giờ cả Hà Nội chỉ có vài ba tiệm thịt chó tại phố Hàng Hòm, nơi sản xuất những chiếc va-li và hòm bằng gỗ. ít lâu sau mới mọc thêm một tiệm nữa ở phố Hàng Đồng. Lui tới những chốn này thường là những tay giang hồ tứ chiếng, dân anh chị hoặc những người lao động. Họ xắn quần móng lợn, quấn khăn đầu rìu, đi chân đất, cười nói oang oang trông như các hảo hán Lương Sơn Bạc. Thuở ấy, hình như người Hà Nội chưa biết thưởng thức cái thú "sống ở trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?".
Vào giữa những năm 30, Hà Nội vắng tiếng ồn. Có khi cả ngày không nghe thấy một tiếng còi ô-tô. Mỗi khi thấy một thằng Tây râu xồm cưỡi mô-tô phóng đi vun vút, trẻ con lại ùa nhau ra xem. Chúng gọi đó là xe bình bịch. Và người lớn cũng bắt chước gọi theo, để khỏi phải dùng tiếng Tây.
Mùa hè đã thổi vào thành phố một luồng sinh khí mới, để cho nó ầm ĩ hẳn lên, thoát ra khỏi giấc ngủ đông xuân dài dặc. Nắng hạ reo vui trên những tàng cây bàng, tỏa sáng trên mặt hồ gợn sóng thủy tinh, tráng bạc trên những cành liễu, soi rọi vào những hang cùng ngõ hẹp để cho khung cảnh bớt tối tăm.
Mùa hè mới đích thực là mùa của thiếu nhi. Nhất là với các em con nhà nghèo. Bước ra đường, chúng không còn phải co ro trong chiếc áo trấn thủ, hai hàm răng va vào nhau lập cập. Nắng hạ tạo cho chúng cái điều kiện để được "đầu đội trời, chân đạp đất!". Thời đó hiếm có em nào được đi dép, huống chi là giày. Thông thường, chỉ đi guốc. Nhưng cái dụng cụ ấy lại rất bất tiện mỗi khi chạy nhảy. Các em bèn đi chân trần. Cũng nên biết cách đây 6, 7 thập kỷ, các cụ sinh đẻ... không có kế hoạch.
Người chồng nghĩ sẵn một hai vế chữ Hán, để cho bà vợ cứ theo đó mà đặt tên con: "Lực năng cử đỉnh, thế khả bạt sơn" hoặc "Tu thân tề gia, trị quốc bình thiên hạ". Nếu người đàn bà tiếp tục sinh sản thì người chồng sẽ lại nghĩ thêm những chữ khác. Càng nhiều anh chị em, các em lại càng ít được chăm sóc chu đáo.
Hà Nội 36 phố phường có tới mười mấy cái ngõ với bảng tên đường đàng hoàng. Ngõ Trạng Trình, ngõ Huyện, ngõ Tràng An, ngõ Trạm, ngõ Tạm Thương, ngõ Tố Tịch, ngõ Phất Lộc, ngõ Gạch, ngõ Hàng Đũa, ngõ Yên Thái, ngõ An Chung, ngõ Văn Chương, ngõ Nam Ngư, ngõ Cấm Chỉ (nay trở thành một trung tâm ăn uống ban đêm)... Đó là chưa kể những xóm, như xóm Vạn Thái với những tiếng chát tiếng tom cùng với tiếng đàn tiếng phách, để thi đua với khu Khâm Thiên có cả một dãy nhà cô đầu. Như xóm Hạ Hồi mà đa số là những biệt thự kín cổng cao tường, ở đó người ta sống trong sự yên ắng, xa lìa hẳn với những tiếng động. Tuy nhiên, vào lúc quá trưa về chiều cũng thấy vẳng lên tiếng rao của một người đàn bà "Ai có chai bao chè, đồng nát, lông vịt, tóc rối đổi kẹo không!". Người Hà Nội gọi họ là những bà đồng nát.
Nhưng ồn ào nhất là khu Đường Thành. Bởi nó nằm kế cận các trại lính. Tiếng kèn "rê vầy" (véveil) từ trong thành vọng ra mở đầu cho một ngày mới. Trẻ con dựa vào cái làn điệu ấy để đặt thành câu hát "Con bò kéo xe, con bò kéo xe, con bò xe kéo". Và tiếng kèn ngủ đánh dấu sự khép lại của một ngày "Trèo tường mà ra, trèo tường mà ra". Sau tiếng kèn này, các chú lính ba gai thường rủ nhau trèo tường ra ngoài chơi, rồi trở về sau nửa đêm.
Hàng Buồm có một sắc thái sinh hoạt riêng biệt của nó. Tiếng rao của các hầu sáng báo cho nhà bếp biết những món ăn mà họ phải thực hiện. Tiếng chặt thịt quay, thịt ngỗng - hạ xuống cái thớt với bề dày cả gang tay và to bằng cái mâm đồng có chân - của chú khách Tân Phúc Điền. Tiếng hô "can pêi" (cạn ly) của những tửu đồ người Hoa sau khi đã đánh ngã vài ba chai Mao đài hay Mai quế lộ. Tại phố này có hai tiệm ăn nổi tiếng: Mỹ Kinh và Đông Hưng Viên với cái cầu thang thếp vàng sáng lóe được gọi là "Escalier d'or". Một số học sinh ở cỡ tuổi 14, 15 tới đây sau khi ăn xong đã ném bớt những cái đĩa trống xuống khu đất bỏ hoang ở phía dưới. Khi thanh toán, người bồi chỉ căn cứ vào những cái đĩa còn lại để tính tiền.
Đặc biệt hơn cả là khu tam giác Hàng Bạc - Sầm Công - Quảng Lạc. Với ba rạp hát, Hiệp Thành, Quảng Lạc và Sán Nhiên Đài, nơi trình chiếu hai bộ phim Việt Nam đầu tiên: "Cánh đồng ma" và "Trận phong ba". Nó cũng là nơi cắm chốt của gánh hát Kim Chung sau này. Tối tối, họ khua thanh la, não bạt rồi trống rong cờ mở để quảng cáo cho những đào kép của họ.
Sở thú mi-ni của cô Ba Tí nằm ở phố Hàng Bạc. Trong chuồng không có hổ, báo, cũng chẳng có voi như ở vườn bách thú, nhưng có gấu, lợn lòi, rồi vượn và khỉ. Vào những ngày nữ chủ nhân ngồi hầu bóng, người ta nghe thấy tiếng đàn phưng phưng và tiếng hát õng ẹo của anh kép chầu văn. Những trẻ em láu lỉnh tìm cách lọt qua cái ải gác cửa sẽ được cô Ba ban tài phát lộc.
Dĩ nhiên thành phố nào mà chẳng có tiếng ồn. Nhưng ở Hà Nội có những tiếng ồn rất đáng yêu, đáng nhớ. Tiếng chuông tàu điện, nó kêu leng keng, leng keng êm ái chứ không rộn ràng như tiếng kính coong của chuông xe đạp, hoặc làm nhức nhối điếc cả tai như còi tàu hỏa. Với những trẻ em nghịch ngợm, tàu điện là một phương tiện giao thông không mất tiền. Bởi chúng nhảy tàu thuộc vào hàng cự phách. Cứ thoăn thoắt như vượn. Khi bị soát vé, chỉ việc nhảy xuống rồi lại chạy theo bám vào toa sau. Những ngày nghỉ học, chúng có thể chu du khắp thành phố, có khi đi vào mãi tận Hà Đông. Không phải mua vé tàu, chúng dùng tiền ấy để ăn thịt bò khô mà người bán rao hàng bằng một phương thức rất đơn giản: nhắp nhắp cái kéo cho nó phát ra những âm thanh lách cách. Hoặc tới quán Mụ Béo ở Bờ Hồ để uống si tông ca la đinh (citron, grenadine: si-rô chanh, lựu). Người đàn bà ấy là một nhân vật trong giới hắc đạo của Hà Nội năm xưa đấy. Hình ảnh người phụ nữ mập mạp có nước da đen giòn đã in sâu vào tâm khảm các học sinh trong suốt một thời gian dài. Đi nộp học phí bị kẻ gian móc túi hoặc ra bờ sông đá banh bị mất xe đạp, chỉ cần nói rõ vụ việc với bà ta là trong vòng một ngày của mất đi sẽ được hoàn lại cho cố chủ.
Sẽ là một thiếu sót khi nói về Hà Nội năm xưa mà lại bỏ quên ông Tàu già ngồi bán lạc rang ở bên ngoài cái cổng tò vò, cách chợ hàng hoa không bao xa, và trông chéo sang phía trụ sở của Créditfoncier (Tín dụng ruộng đất) mà trên nóc có đặt một cái còi báo hiệu 12 giờ. Hàng ngày, cứ đúng ngọ, nó lại rú lên một hồi dài, vang dội ra tới ngoại thành và phía bên kia đê sông Hồng.
Có những người Hà Nội sống xa quê hương, mỗi khi hướng về thủ đô thường gửi gắm tình cảm của mình vào hình ảnh Hồ Gươm và tháp Rùa. Nhưng riêng tôi, tôi lại nhớ những đoàn tàu điện và nhà Gô Đa.
Phan Nghị