Tóc bạc trắng đêm nay
Lâm Thanh Huyền Phạm Khê
Ủng mao đối phương tùng,
Link" align="right" border="0" alt="" style="padding:7px;" />
Do lai hồi bất đồng
Phất tùng kim nhật bạch,
Hoa thị tùy triều lộ, thinh hương trục vãn phong
Hà tu đãi linh lạc.
Nhiên hậu thỉ tri không.
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Ôm áo tựa rừng thông,
Nguyên do đến chẳng đồng
Tóc bạc trắng đêm nay,
Hoa rực rỡ năm nao
Sắc hoa nhờ sương sớm,
Hương thơm quyện gió chiều
Sao đợi đến lúc tàn,
Mới biết cả cành không?
Nếu như có ai hỏi, phải dùng từ ngữ nào để diễn tả những quang cảnh đẹp đẽ nhưng quang cảnh đẹp đẽ những ngắn ngủi, hư ảo, không thật trong đời, có lẽ chúng ta phải mượn đến sáu chữ “Hoa trong gương, trăng đáy nước”. Hai hiện tượng này thường cho chúng ta những cảm giác vô thường bất định, vì vậy mà trong thi ca của Thiền có nhiều đoản khúc ngâm vịnh đã dùng đến hiện tượng Kính Hoa Thủy Nguyệt. Khi những vị Thiền Sư ngắm nhìn những vị Thiền Sư ngắm nhìn những cánh hoa đẹp đẽ nở rộ trong gió Xuân ấm áp, họ đã dự đoán đến một cảnh điêu tàn của những cánh hóa sẽ phải xuất hiện sau đó không bao lâu. Điều này chắc chắn có sự khác biệt đối với cặp mắt của người bình thường.
Vào đời nhà Tùy, Linh Tạng Hoa Thượng đã viết một bài thơ Xem Hoa diễn tả các chí khí hào sảng của ông như sau:
Mãn sơn hồng trịch trục
Thù thắng Mẫu Đơn Hoa
Phú quí sinh do tử
Bần hàn chí bất xa.
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Đầy núi màu rực rỡ
Đẹp nhất Mẫu Đơn hồng
Phú quý sinh lại tử
Bần hàn chí không phai.
Đời nhà Đường có Ngộ Đạt Quốc Sư (còn có pháp danh là Trí Huyền Thiền Sư) dựa vào quan điểm vô thường của nhà Phật mà viết nên một bài kệ Vịnh Hoa như sau:
Hoa Khai mãn thụ hồng
Hoa lạc vạn chi không
Duy dư nhất đỏa tại
Minh nhật định tùy phong
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Hoa nở muôn thân rực rỡ hồng
Hoa rơi ngàn cành lại trống không
Duy một nụ đào còn sót lại
Ngày mai theo gió biết còn chăng?
Đời nhà Tống có Hòa Thượng Thanh Hồng đã viết một bài Sơn Hoa để nói lên sự việc ngộ đạo không phải ở chỗ hữu tình vô tình mà vấn đề là con người có được đôi mắt sáng hay không:
Kỷ thụ sơn hoa hồng chước chước
Nhất trì thanh thủy lục y y
Nạp tăng nhược cụ siêu tông nhãn
Bát đãi vô tình vi phát cơ.
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Ven núi cành hoa nở rộn ràng
Ao Thu sóng nước gợn lăng tăng
Người tu nếu được đôi mắt sáng
Chẳng đợi vô tình mới ngộ chân.
Giữa đời nhà Minh, Đạo Nguyên Thiền Sư đã nhìn cành hoa mai nở sớm mà thấy được cảnh ngộ của người tu hành nên ông đã viết lên một bài Hoa Mai Nở Sớm sau:
Vạn thụ hàn vô sắc
Nam chi độc hữu hoa
Hương văn lưu thủy xứ
Ảnh lạc dã nhân gia.
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Ngàn cây lạnh không màu
Cành Nam đôc một nụ
Hương thoảng về đầu suối
Ảnh lạc chốn hoang tiêu.
Cách một khoảng thời gian và không gian, chúng ta lật lại những trang sách cũ, đọc những áng văn chương để tìm hiểu xem tâm cảnh của những vị thiền sư của thời xa xưa, trong đó chúng ta sẽ bắt được câu chuyện ngắm hoa thật ra không giản dị và rõ ràng, đây chẳng phải là một tiểu đạo. Đời nhà Thanh có Hòa Thượng Kim An trông thấy những cành hoa đào tan tác bay trong gió rơi rụng xuống giòng suối mới ngộ ra cuộc đời con người cũng giống như bọt nước. Ông đã đốt hai ngón tay để cúng dường chư Phật và Bồ tát rồi từ đó tự xưng là Bát Chỉ Đầu Đà. Đây là thí dụ của việc ngắm hoa một cách triệt để nhất. Sinh mạng của một cánh hoa thoảng hoặc một vài giờ cho đến một vài ngày, so với con người thì quá ngắn ngủi. Thế nhưng trong vũ trụ vĩnh hằng trường không vạn cổ thì sinh mạng trăm năm của con người có phải cũng sớm nở tối tàn như một cành hoa? Diễm lệ như hoa Đào cũng bị cuốn theo chiều gió, cao quí như Mẫu Đơn cũng tùy theo thời tiết mà tàn rũ, ngay cả thanh cao như hoa Mai cũng không biết ngày mai lưu lạc phương nào? Nếu một người nào có thể từ sự việc ngắm hoa để liên tưởng đến cuộc đời, họ sẽ thấy rằng vấn đề sinh tử của con người cũng không khác biệt cuộc sống ngắn ngủi của cánh hoa là bao nhiêu? Cũng chính vì vậy mà tôi rất thích bài thơ Vịnh Hoa của Thanh Lương Văn Ích. Ông tự ví bản thân như một cành hoa, cảm khái sự việc tóc bạc trắng đêm nay (Đêm nay đã già cằn cỗi, cần gì phải đợi đến ngày mai?). Cũng từ chỗ đó mà ông đã ngộ ra bao sự điêu tàn của một đời người, không cần phải đợi đến lúc gần đất xa trời mới cảm nhận được không tướng, mà ngay trong lúc ta còn đang ở trong giai đoạn thanh xuân cũng phải biết đến kết cuộc đó rồi. Thanh Lương Văn Ích là một cao tăng thời Ngũ Đại. Ông thường giáo hóa môn đồ nên tùy theo thời tiết nhân duyên, đừng nên bỏ phí thời giờ quí báu. Ông đã từng nói với các đệ tử: “Thánh nhân vì không bao giờ có sự Chấp Nhất trong lòng, cho nên không có một chuyện gì trên đời là không nằm trong hoài bảo của họ cả” (Thánh nhân vô kỷ, ma sở bất kỷ). Ông lại có học thuyết cho rằng: “Muốn biết nghĩa tính của Phật, nên thường xuyên quan sát thời tiết nhân duyên” (Dục tri Phật tính nghĩa, đương quán thời tiết nhân duyên). Điều này nói lên rằng kẻ tu hành không phải đứng riêng rẽ bên ngoài cuộc sống thế gian mà phải hài hòa với mọi sự việc trên thế giới, trong bao thời tiết nhân duyên, ta đều có thể khai ngộ được Phật tính trong con người.
Vì vậy, trước khi học Thiền, tu Thiền, ta nên học hỏi cách ngắm nhìn một cành hoa, biết đâu đó chẳng là một phương cách nhập môn hay nhất. Tiếc rằng, khi mỹ nhân soi gương thì họ thường chỉ thấy duy một nụ hồng mà lại không mường tượng được cái cảnh ngày mai theo gió. Người anh hùng khi đứng trên đầu ngọn núi thường ví họ là cành nam độc một nụ, mà không biết thân phận của họ một lúc nào đó cũng chỉ là ảnh lạc chốn hoang liêu mà thôi.
Một ngày nào, khi ta soi gương mà thấy trong đó hiện lên rõ ràng bóng hình một cành hoa; hoặc giả lúc ngắm nhìn một cành hoa mà lại thấy trong nhụy hoa ẩn hiện diện mạo của ta, thì lúc đó, có lẽ chúng ta sẽ phần nào hiểu được cảm giác của những giòng thơ trên đây.
Lâm Thanh Huyền Phạm Khê
Ủng mao đối phương tùng,
Do lai hồi bất đồng
Phất tùng kim nhật bạch,
Hoa thị tùy triều lộ, thinh hương trục vãn phong
Hà tu đãi linh lạc.
Nhiên hậu thỉ tri không.
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Ôm áo tựa rừng thông,
Nguyên do đến chẳng đồng
Tóc bạc trắng đêm nay,
Hoa rực rỡ năm nao
Sắc hoa nhờ sương sớm,
Hương thơm quyện gió chiều
Sao đợi đến lúc tàn,
Mới biết cả cành không?
Nếu như có ai hỏi, phải dùng từ ngữ nào để diễn tả những quang cảnh đẹp đẽ nhưng quang cảnh đẹp đẽ những ngắn ngủi, hư ảo, không thật trong đời, có lẽ chúng ta phải mượn đến sáu chữ “Hoa trong gương, trăng đáy nước”. Hai hiện tượng này thường cho chúng ta những cảm giác vô thường bất định, vì vậy mà trong thi ca của Thiền có nhiều đoản khúc ngâm vịnh đã dùng đến hiện tượng Kính Hoa Thủy Nguyệt. Khi những vị Thiền Sư ngắm nhìn những vị Thiền Sư ngắm nhìn những cánh hoa đẹp đẽ nở rộ trong gió Xuân ấm áp, họ đã dự đoán đến một cảnh điêu tàn của những cánh hóa sẽ phải xuất hiện sau đó không bao lâu. Điều này chắc chắn có sự khác biệt đối với cặp mắt của người bình thường.
Vào đời nhà Tùy, Linh Tạng Hoa Thượng đã viết một bài thơ Xem Hoa diễn tả các chí khí hào sảng của ông như sau:
Mãn sơn hồng trịch trục
Thù thắng Mẫu Đơn Hoa
Phú quí sinh do tử
Bần hàn chí bất xa.
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Đầy núi màu rực rỡ
Đẹp nhất Mẫu Đơn hồng
Phú quý sinh lại tử
Bần hàn chí không phai.
Đời nhà Đường có Ngộ Đạt Quốc Sư (còn có pháp danh là Trí Huyền Thiền Sư) dựa vào quan điểm vô thường của nhà Phật mà viết nên một bài kệ Vịnh Hoa như sau:
Hoa Khai mãn thụ hồng
Hoa lạc vạn chi không
Duy dư nhất đỏa tại
Minh nhật định tùy phong
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Hoa nở muôn thân rực rỡ hồng
Hoa rơi ngàn cành lại trống không
Duy một nụ đào còn sót lại
Ngày mai theo gió biết còn chăng?
Đời nhà Tống có Hòa Thượng Thanh Hồng đã viết một bài Sơn Hoa để nói lên sự việc ngộ đạo không phải ở chỗ hữu tình vô tình mà vấn đề là con người có được đôi mắt sáng hay không:
Kỷ thụ sơn hoa hồng chước chước
Nhất trì thanh thủy lục y y
Nạp tăng nhược cụ siêu tông nhãn
Bát đãi vô tình vi phát cơ.
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Ven núi cành hoa nở rộn ràng
Ao Thu sóng nước gợn lăng tăng
Người tu nếu được đôi mắt sáng
Chẳng đợi vô tình mới ngộ chân.
Giữa đời nhà Minh, Đạo Nguyên Thiền Sư đã nhìn cành hoa mai nở sớm mà thấy được cảnh ngộ của người tu hành nên ông đã viết lên một bài Hoa Mai Nở Sớm sau:
Vạn thụ hàn vô sắc
Nam chi độc hữu hoa
Hương văn lưu thủy xứ
Ảnh lạc dã nhân gia.
(Thanh Lương Văn Ích Thiền Sư)
Ngàn cây lạnh không màu
Cành Nam đôc một nụ
Hương thoảng về đầu suối
Ảnh lạc chốn hoang tiêu.
Cách một khoảng thời gian và không gian, chúng ta lật lại những trang sách cũ, đọc những áng văn chương để tìm hiểu xem tâm cảnh của những vị thiền sư của thời xa xưa, trong đó chúng ta sẽ bắt được câu chuyện ngắm hoa thật ra không giản dị và rõ ràng, đây chẳng phải là một tiểu đạo. Đời nhà Thanh có Hòa Thượng Kim An trông thấy những cành hoa đào tan tác bay trong gió rơi rụng xuống giòng suối mới ngộ ra cuộc đời con người cũng giống như bọt nước. Ông đã đốt hai ngón tay để cúng dường chư Phật và Bồ tát rồi từ đó tự xưng là Bát Chỉ Đầu Đà. Đây là thí dụ của việc ngắm hoa một cách triệt để nhất. Sinh mạng của một cánh hoa thoảng hoặc một vài giờ cho đến một vài ngày, so với con người thì quá ngắn ngủi. Thế nhưng trong vũ trụ vĩnh hằng trường không vạn cổ thì sinh mạng trăm năm của con người có phải cũng sớm nở tối tàn như một cành hoa? Diễm lệ như hoa Đào cũng bị cuốn theo chiều gió, cao quí như Mẫu Đơn cũng tùy theo thời tiết mà tàn rũ, ngay cả thanh cao như hoa Mai cũng không biết ngày mai lưu lạc phương nào? Nếu một người nào có thể từ sự việc ngắm hoa để liên tưởng đến cuộc đời, họ sẽ thấy rằng vấn đề sinh tử của con người cũng không khác biệt cuộc sống ngắn ngủi của cánh hoa là bao nhiêu? Cũng chính vì vậy mà tôi rất thích bài thơ Vịnh Hoa của Thanh Lương Văn Ích. Ông tự ví bản thân như một cành hoa, cảm khái sự việc tóc bạc trắng đêm nay (Đêm nay đã già cằn cỗi, cần gì phải đợi đến ngày mai?). Cũng từ chỗ đó mà ông đã ngộ ra bao sự điêu tàn của một đời người, không cần phải đợi đến lúc gần đất xa trời mới cảm nhận được không tướng, mà ngay trong lúc ta còn đang ở trong giai đoạn thanh xuân cũng phải biết đến kết cuộc đó rồi. Thanh Lương Văn Ích là một cao tăng thời Ngũ Đại. Ông thường giáo hóa môn đồ nên tùy theo thời tiết nhân duyên, đừng nên bỏ phí thời giờ quí báu. Ông đã từng nói với các đệ tử: “Thánh nhân vì không bao giờ có sự Chấp Nhất trong lòng, cho nên không có một chuyện gì trên đời là không nằm trong hoài bảo của họ cả” (Thánh nhân vô kỷ, ma sở bất kỷ). Ông lại có học thuyết cho rằng: “Muốn biết nghĩa tính của Phật, nên thường xuyên quan sát thời tiết nhân duyên” (Dục tri Phật tính nghĩa, đương quán thời tiết nhân duyên). Điều này nói lên rằng kẻ tu hành không phải đứng riêng rẽ bên ngoài cuộc sống thế gian mà phải hài hòa với mọi sự việc trên thế giới, trong bao thời tiết nhân duyên, ta đều có thể khai ngộ được Phật tính trong con người.
Vì vậy, trước khi học Thiền, tu Thiền, ta nên học hỏi cách ngắm nhìn một cành hoa, biết đâu đó chẳng là một phương cách nhập môn hay nhất. Tiếc rằng, khi mỹ nhân soi gương thì họ thường chỉ thấy duy một nụ hồng mà lại không mường tượng được cái cảnh ngày mai theo gió. Người anh hùng khi đứng trên đầu ngọn núi thường ví họ là cành nam độc một nụ, mà không biết thân phận của họ một lúc nào đó cũng chỉ là ảnh lạc chốn hoang liêu mà thôi.
Một ngày nào, khi ta soi gương mà thấy trong đó hiện lên rõ ràng bóng hình một cành hoa; hoặc giả lúc ngắm nhìn một cành hoa mà lại thấy trong nhụy hoa ẩn hiện diện mạo của ta, thì lúc đó, có lẽ chúng ta sẽ phần nào hiểu được cảm giác của những giòng thơ trên đây.
Comment