• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Một bài thơ chưa từng được công bố của Xuân Diệu

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Một bài thơ chưa từng được công bố của Xuân Diệu

    Một bài thơ chưa từng được công bố của Xuân Diệu


    Cây đại thụ của nền thi ca Việt Nam - thi sĩ Xuân Diệu để lại khoảng 450 bài thơ. Ông được biết đến như một "ông hoàng của thơ tình". Rất nhiều bài thơ của ông vẫn nằm trong di cảo chưa được công bố.


    Thi sĩ Xuân Diệu sinh ngày 2.2.1916; mất ngày 18.2.1985. Ông nổi tiếng từ phong trào thơ mới với tập Thơ Thơ và Gửi hương cho gió. Những bài thơ tình của ông thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình đời nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Vì thế, ông được mệnh danh là "ông hoàng thơ tình".




    Nhà thơ Xuân Diệu

    Chúng tôi xin được giới thiệu bút tích một bài thơ của thi sĩ Xuân Diệu, lần đầu tiên được phát hiện, trong bản chép thơ tặng một người đàn ông vốn là đồng hương của thi sĩ tài danh.

    “Ba lời cảm ơn” nơi xứ người…
    Trên nền tờ giấy đã ngả màu ố vàng, bài thơ "Ba lời cảm ơn" cùng lời đề tặng của thi sĩ Xuân Diệu vẫn sắc lẹm như ngày nào:


    "Cảm ơn trời đất thật tài hoa
    Đưa hết tình anh với đậm đà
    Đem cả bài thơ và khúc nhạc
    Sắc trời hương đất tạo em ra.

    Cảm ơn thầy mẹ khéo nhân duyên
    Sinh tạc ra em khối diệu huyền
    Dáng nét làm cho anh quyến luyến
    Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên.

    Lắm lúc nhìn em sững mắt anh
    Cảm ơn em đã đón anh nhìn
    Anh nhìn như thể rơi con mắt
    Và cả thời gian cũng đứng im".

    Những lời lẽ tình tứ trong bài thơ dễ khiến người đọc nghĩ bài thơ được tặng cho một cô gái, một khối tình si mê đối với thi sĩ Xuân Diệu. Nhưng thực chất, bài thơ này được Xuân Diệu đề tặng cho một người đàn ông: "Chép tặng Đặng Của với tình đồng hương Bình Định và tình bạn tri âm".

    Đặng Của - nhận vật được thi sĩ tặng thơ vốn là một tiến sĩ trong ngành dầu khí. Đặng Của sinh ngày 7/1/1938 tại làng Nho Lâm, Phước Hưng, Tuy Phước, Bình Định. Thi sĩ Xuân Diệu cũng sinh tại tỉnh Bình Phước nhưng ở làng Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước. Quê của Đặng Của và Xuân Diệu cách nhau đúng 3km.




    Bài thơ của Xuân Diệu

    Những kỷ niệm bên trời Matxcơva

    Tiến sĩ Đặng Của kể rằng, cái ngày mà Xuân Diệu chép tặng bài thơ Ba lời cảm ơn là vào ngày 1/8/1982 tại Matxcơva hoa lệ. Khi ấy Đặng Của được cử sang Liên Xô để mua thiết bị cho giàn khoan dầu trong nước. Họ gặp và ở cùng nhau suốt một tuần liền tại nhà khách của sứ quán.

    Những buổi chiều đi dạo dưới Matxcơva hoa lệ, những bữa cơm thân tình hay những đêm dài nhớ quê giữa cái giá lạnh đến tê người ở xứ sở bạch dương khiến mối thâm giao giữa hai người đồng hương càng trở nên sâu lắng. "Đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in những ngày ở sứ quán bên Matxcơva, chỉ một tuần đó cũng khiến một người trong ngành tự nhiên như tôi thấu hiểu phần nào tâm hồn lãng mạn của thi sĩ tài danh Xuân Diệu. Tôi thực sự cảm thấy rất xúc động khi Xuân Diệu chép tặng tôi bài thơ Ba lời cảm ơn ngay trên đất bạn", ông Đặng Của bồi hồi nhớ lại. Bản chép tay của Xuân Diệu ngày ấy, bao năm nay được Đặng Của giữ gìn cẩn thận và trân trọng như một báu vật.

    Theo tìm hiểu của chúng tôi, đây là bút tích bài thơ chưa từng được công bố của thi sĩ Xuân Diệu. Tuy nhiên, để có được câu trả lời chắc chắn và khách quan, chúng tôi sẽ tham khảo ý kiến các nhà thơ, nhà phê bình văn học và tiếp tục thông tin đến bạn đọc.




    Ông Đặng Của thời trẻ

    (Gia đình & Xã hội)

    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 09-04-2010, 08:28 PM.
    ----------------------------

    Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.
    Similar Threads
  • #2

    Người phụ nữ duy nhất của Xuân Diệu trải lòng về cuộc hôn nhân 6 tháng


    Sau khi Báo đăng tải bài thơ "Ba lời cảm ơn", lần đầu tiên được công bố của Xuân Diệu, chúng tôi đã mang bản chép tay này đến nơi ở của đạo diễn Bạch Diệp - người đàn bà duy nhất trong cuộc đời Xuân Diệu.

    Nữ đạo diễn tài hoa từng là vợ của thi sĩ đã tiết lộ những câu chuyện riêng tư trong suốt thời gian hai người là vợ chồng.

    Mối lương duyên "không cùng"!

    Trong ngôi nhà nhỏ trên phố Đội Cấn, nữ đạo diễn điện ảnh đầu tiên của Việt Nam và là người đàn bà duy nhất trong cuộc đời "ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu, dường như vẫn không thôi niềm cảm nhớ khi nhắc đến người chồng đầu tiên ấy. Cùng quan điểm với Phó Viện trưởng Viện Văn học Nguyễn Đăng Điệp và nhà thơ Vũ Quần Phương, bà cũng khẳng định, lần đầu tiên bà được đọc bài thơ "Ba lời cảm ơn" mà Xuân Diệu tặng cho Tiến sĩ ngành dầu khí Đặng Của. Giờ đây, đã ở cái tuổi ngoài 80, đã trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, cuộc tình ngắn ngủi với thi sĩ Xuân Diệu như cuộc gặp gỡ định mệnh đem lại biết bao hạnh phúc và cả khổ đau, dằn vặt tâm can bà bao năm qua.





    Nhà thơ Xuân Diệu và NSND Bạch Diệp khi trẻ.

    Bạch Diệp trở thành vợ của "ông hoàng thơ tình Việt Nam" Xuân Diệu năm 1958, lúc ấy bà đã bước sang tuổi 29, còn Xuân Diệu thì gấp ghé 40. Thời điểm đó, bà đang làm phóng viên Báo Nhân Dân. Công việc bận rộn của nghề báo đã cuốn bà đi qua những năm tháng tươi trẻ nhất của tuổi thanh xuân lúc nào không hay. Tổng biên tập Báo Nhân Dân khi ấy - ông Hoàng Tùng liền mai mối Bạch Diệp với Xuân Diệu. Bạch Diệp khi đó là một người yêu thơ ca và cô rất phục tài năng của thi sĩ Xuân Diệu. Những bài thơ tình của Xuân Diệu được cô thuộc lòng và còn chép vào cuốn sổ tay.

    Nhưng thi sĩ ngày ấy khá ít nói, ngay cả khi chỉ có hai người với nhau. Ông chỉ trở nên hoạt bát và nói năng lưu loát khi bàn về thơ ca. Ngày ấy, Bạch Diệp là nguồn cảm hứng để Xuân Diệu viết nên bài thơ tình tứ tuyệt bất hủ:

    "Tôi cầm mùi dạ lan hương
    Trong tay đi đến người thương cách trùng
    Dạ lan thơm nức lạ lùng
    Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương".
    Hồi đó, gia đình Bạch Diệp ở cuối phố Bà Triệu, nơi có những hàng dạ lan thơm lừng cả góc phố. Còn nhà Xuân Diệu thì ở mãi 24 Cột Cờ:

    "Nhà tôi 24 Cột Cờ
    Ai yêu thì ghé, hững hờ thì qua"

    Mùi hương dạ lan và cô gái Bạch Diệp ngày ấy khiến thi sĩ như đắm say trong men tình ái và áng thơ tình bất hủ ra đời trong hoàn cảnh ấy. Nhưng dường như cái cảm giác thương yêu vô bờ bến xen lẫn cảm giác mất mát "Tưởng như đi mãi không cùng mùi hương" trong bài thơ ấy, cũng chính là điềm báo cho mối nhân duyên của họ sau này.

    Những ngày còn đi lại, tìm hiểu nhau trong mùi thơm ngây ngất của hương hoa dạ lan, thi sĩ Xuân Diệu vẫn thi thoảng ở lại nhà Bạch Diệp ăn cơm cùng gia đình cô. Ngày ấy, dù yêu thơ, nể phục thi sĩ tài hoa nhưng cô vẫn có cảm giác về sự xa cách của hai thế hệ. Cô chợt nhận ra thơ và cuộc đời thực có khoảng cách khác nhau khá xa. Nhưng lúc ấy, cả "ông mai" Hoàng Tùng và ba mẹ cô đều suốt ruột về tuổi tác của con gái nên luôn miệng giục giã chuyện cưới xin với Xuân Diệu. Cô liền đồng ý lấy Xuân Diệu làm chồng.
    Cơ quan cô liền đứng ra tổ chức một buổi uống rượu mừng cô dâu chú rể mới. Ngày ấy, Bạch Diệp nói với Xuân Diệu đi đăng ký kết hôn bởi lúc đó đăng ký kết hôn là một viêc đặc biệt quan trọng nhưng Xuân Diệu lại bảo từ từ, không việc gì phải vội. Giục mấy lần mà Xuân Diệu vẫn không chịu đi, Bạch Diệp cũng không nhắc đến việc này nữa. Và dường như chính cái sự chần chừ của Xuân Diệu lúc ấy đã báo trước một điều gì đó cho cuộc hôn nhân của họ.

    Một người chồng rất chiều vợ

    Những ngày làm vợ "ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu, hàng ngày Bạch Diệp đi làm ở Báo Nhân Dân, Xuân Diệu ở nhà. "Sau mỗi ngày đi làm, tôi thường chuẩn bị thức ăn mang về để chuẩn bị bữa tối cùng mẹ chồng. Bà ở nhà suốt nên cũng đỡ đần giúp chúng tôi việc nhà cửa, cơm nước. Bữa tối gia đình ngày ấy rất ấm cúng, cả nhà bao giờ cũng có mặt đầy đủ trong bữa ăn sum họp", nữ đạo diễn Bạch Diệp nhớ lại.

    Bà bảo, Xuân Diệu là một người chồng rất chiều vợ. Bạch Diệp tâm hồn lãng mạn, bay bổng nên thích đi lang thang đây đó trên đường phố hoặc về các vùng quê hẻo lánh, Xuân Diệu chiều vợ nên chở bà đi khắp nơi. Chiếc xe đạp kẽo kẹt ngày ấy như chiếc thuyền tình chở đôi uyên ương rong chơi khắp chốn. Vùng Chèm, Bồ Đề hay Chùa Thầy tận bên xứ Đoài xa xôi ngày ấy đều in dấu chân của ông hoàng thơ tình và vợ. Bạch Diệp có sở thích đứng trên cầu ngắm cảnh, Xuân Diệu lúc ấy đã xấp xỉ tuổi 40 nhưng luôn chiều theo ý thích của vợ. Bất cứ lúc nào cô muốn lên cầu ngắm sông nước, mây trời, ông đều vác xe đưa vợ đến giữa cây cầu Long Biên cổ kính. Bạch Diệp nhớ lại "Tôi còn rất thích đi xem phim, xem kịch, Xuân Diệu cũng chiều theo, luôn chở tôi đi xem chứ không như nhiều người đàn ông thời bấy giờ không muốn cho vợ đi đến rạp".

    Nhưng rồi mối lương duyên giữa hai con người tài năng này cũng không kéo dài được bao lâu. "Tổng cộng thời gian chúng tôi làm vợ chồng là 6 tháng, chia tay rồi tôi lại về Bà Triệu ở với cha mẹ", Bạch Diệp bồi hồi nhớ lại. Chia tay rồi, Xuân Diệu cũng không còn đi qua mùi dạ lan để đến thăm bà nữa. Nhưng khi vô tình gặp nhau ở đâu đó, Xuân Diệu lúc nào cũng rất vui vẻ, hỏi han người vợ cũ tận tình. Họ cư xử với nhau như hai người bạn thân, trân trọng và quý mến nhau.

    Đoạn kết cuộc tình với "ông hoàng thơ tình" Xuân Diệu, Bạch Diệp bảo: "Đó như một luồng gió mát đi qua cuộc đời tôi trong một khoảng thời gian ngắn nhưng luồng gió ấy để lại mãi ấn tượng trong tâm hồn tôi. Một luồng gió thoảng nhưng đã giữ lại cả một niềm thương mến". Với bà, niềm cảm thương rõ nhất là thương mến sự cô đơn của Xuân Diệu, nỗi niềm ấy càng như tăng theo cấp số nhân khi con người ấy vốn là một người rất nhiều tình cảm, đòi hỏi rất nhiều tình cảm. Vậy mà vẫn cô đơn.

    Trong đám tang của người chồng đầu tiên ấy, Bạch Diệp đã không đi mua vòng hoa như muôn người khác, mà bà ra hàng hoa tươi chọn cho được một bó hoa chỉ toàn cúc và lay ơn trắng, phía dưới là những tán lá dừa toả bóng xanh. Và trong cái ngày cuối cùng nghĩa nặng tình sâu ấy, bà đã ngồi lên xe tang, bên cạnh linh cữu của Xuân Diệu để đưa ông về cõi vĩnh hằng.


    .
    ----------------------------

    Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

    Comment

    • #3

      Giải mã "nghi án" giới tính của Xuân Diệu



      Những gì xẩy ra trong của sống của nhà thơ Xuân Diệu thủa sinh thời qua lời kể của những nhân chứng đã từng được công bố, những vần thơ "lạ" của ông đã để lại để lại cho dư luận nhiều thắc mắc.



      Bài 1: Từ những câu chuyện nửa thực nửa hư

      Nhà thơ Xuân Diệu không chỉ nổi tiếng với một tài sản thi ca đồ sộ tạo dựng nên danh xưng bất khả xâm phạm "ông hoàng thơ tình Việt Nam" mà cuộc sống riêng của ông cũng nổi tiếng không kém. Trong suốt một thế kỷ qua, nghi án giới tính của Xuân Diệu vẫn là một dấu hỏi lớn. Có nhiều lý do, đặc biệt là đặc điểm xã hội trước đây còn e dè với vấn đề giới tính nên nghi án của Xuân Diệu cứ lúc chìm lúc nổi đây đó qua hồi ký, bài viết của một số nhà văn. Ngày nay, khi xã hội đã có một cái nhìn cởi mở về vấn đề giới tính, chúng tôi quyết định đi tìm sự thật của bí mật đã tồn tại gần một thế kỷ qua.

      Trong quá trình tìm tư liệu cho loạt bài này, chúng tôi cũng được sự giúp đỡ nhiệt tình và sự đồng tình của những người bạn văn và đặc biệt là những người thân của nhà thơ Xuân Diệu như: Đạo diễn Bạch Diệp - người vợ duy nhất; Luật sư Cù Huy Hà Vũ - người thừa kế duy nhất của nhà thơ Xuân Diệu. Việc giải mã nghi án giới tính của Xuân Diệu là để hiểu hơn về cuộc đời của một nhà thơ lớn, qua đó cảm nhận sâu hơn, hiểu đầy đủ hơn giá trị tài sản thi ca khổng lồ của "ông hoàng thơ tình Việt Nam".





      Nhà thơ Xuân Diệu




      Lời thơ mê đắm tặng người... đồng giới

      Phó Viện trưởng Viện Văn học Nguyễn Đăng Điệp đánh giá Thơ mới Việt Nam chỉ có "tứ bất tử" gồm Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, và Nguyễn Bính. Nhưng trong suốt một thế kỷ qua, dường như ngai vàng của "Vua thơ tình" vẫn chỉ có một mình Xuân Diệu ngự trị. Những áng thơ tình bất hủ, những câu chữ mê đắm như:

      Em bước điềm nhiên không vướng chân
      Anh đi lững thững chẳng theo gần
      Vô tâm - Nhưng giữa bài thơ dịu
      Anh với em như một cặp vần...
      Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy
      Lòng anh thôi đã cưới lòng em.

      Không ít người mê thơ Xuân Diệu đều mơ tưởng về người phụ nữ được thi sĩ yêu tha thiết, đắm đuối đến như vậy, hẳn sẽ là người hạnh phúc nhất nhân gian này. Đó hẳn là một trang tuyệt sắc giai nhân hoặc là một người có tâm hồn lớn lao, có trái tim yêu cùng nhịp đập với thi sĩ, được thi sĩ nâng niu, mê mải vô vàn:

      Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ?
      Anh tham lam, anh đòi hỏi quá nhiều.
      Anh biết rồi, em đã nói em yêu
      Sao vẫn muốn nhắc một lời đã cũ?.

      Nhưng rồi một loạt những bài thơ như Tình trai, Em đi... và cả những bài thơ tình đắm đuối khác tặng người đồng giới đã khiến văn đàn Việt Nam dấy lên dấu hỏi đầy nghi ngờ về giới tính của Xuân Diệu. Và đặc biệt là sau khi cuốn hồi ký Cát bụi chân ai của nhà văn Tô Hoài được xuất bản năm 1993, nghi án này lại thêm một lần nữa bùng nổ. Lúc ấy, những câu hỏi về cuộc đời riêng tư của "ông hoàng thơ tình" và khơi lại câu chuyện về người đàn bà duy nhất trong cuộc đời Xuân Diệu, đó là nữ đạo diễn nổi tiếng Bạch Diệp.

      Những nghi ngờ về các mối "tình trai", những mối quan hệ với người đồng giới của Xuân Diệu càng lớn hơn khi người ta biết rằng cuộc hôn nhân với người vợ duy nhất ấy chỉ kéo dài vẻn vẹn 6 tháng. Tuy nhiên, cho đến nay, thực sự chưa có một bằng chứng rõ rệt nào chứng minh về sự "đồng tính" của Xuân Diệu ngoài những lời đồn thổi và một số những mẩu chuyện được kể qua hồi ức của một số người. Dù vậy, chính từ nhiều bài thơ của Xuân Diệu đã khiến người ta không thôi đặt dấu hỏi nghi vấn.

      Trong bài thơ Ba lời cảm ơn của Xuân Diệu vừa được công bố lần đầu tiên cách đây vài tuần có những lời thơ tình thật thắm thiết:

      Cảm ơn trời đất thật tài hoa
      Đưa hết tình anh với đậm đà
      Đem cả bài thơ và khúc nhạc
      Sắc trời hương đất tạo em ra.
      Cảm ơn thầy mẹ khéo nhân duyên
      Sinh tạc ra em khối diệu huyền
      Dáng nét làm cho anh quyến luyến
      Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên.
      Lắm lúc nhìn em sững mắt anh
      Cảm ơn em đã đón anh nhìn
      Anh nhìn như thể rơi con mắt
      Và cả thời gian cũng đứng im.

      Nhà thơ Vũ Quần Phương nhận xét, giọng điệu bài thơ như là tặng cho một người phụ nữ mà Xuân Diệu yêu say đắm. Nhưng thực chất, bài thơ đó lại được Xuân Diệu chép tặng cho một người đàn ông, sau một thời gian hai người ở cùng nhau trong đại sứ quán Việt Nam ở Liên Xô (cũ). Người đàn ông đó chính là một tiến sĩ trong ngành Dầu Khí - ông Đặng Của.

      Theo phân tích của nhà thơ Vũ Quần Phương thì: "Thơ Xuân Diệu tặng cho đàn ông mà như viết cho phụ nữ. Cũng có thể hiểu người làm thơ phải thế, không phải cứ bê y nguyên như sự thực ngoài đời. Nhưng gần đây người ta lại bảo Xuân Diệu là người đồng tính, điều đó thì cũng chưa khẳng định được". Những ngôn từ mạnh mẽ: Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên.. Anh nhìn như thể rơi con mắt/ Và cả thời gian cũng đứng im", tưởng như là tình yêu say đắm với một người phụ nữ, mà cuối cùng hoá ra lại chép tặng một người... đàn ông.

      Niềm cảm mến vô ngần với Hoàng Cát

      Những vần thơ đầy cô đơn sau sự chia lìa:

      Từ nay anh lại trên đời
      Bữa cơm lại với một đôi đũa cầm
      Giường kia một chiếu anh nằm
      Phòng văn một bóng đăm đăm sớm chiều
      Muôn ngàn cảm tạ em yêu
      Chất cho anh được bao nhiêu ân tình
      Cho hay anh đã để dành
      Nén hương một thuở thơm thanh suốt đời
      Sống bằng nhớ lại nguồn vui
      Nhớ khi ôm cả đất trời cùng em.

      Những tưởng đó là lời thơ tạ từ, thể hiện nỗi buồn chỉ còn lại một mình thi sĩ đơn côi sau khi chia tay với người vợ duy nhất là Bạch Diệp. Nhưng sau đó, người ta lại cho rằng khúc thương tâm đó không phải dành cho Bạch Diệp, mà dành cho một người đàn ông tên Hoàng Cát. Đó là một nhà báo trẻ, điển trai rất yêu thơ Xuân Diệu và còn là người em nuôi của Xuân Diệu.

      Khi Hoàng Cát đi vào chiến trường miền nam, Xuân Diệu có nhiều bài thơ tiễn Hoàng Cát, trong đó có những câu như:

      Bốn năm, nhưng cũng qua mau
      Cõi trần ai được ở lâu thiên đường
      Giã từ, từ biệt, đôi phương
      Đôi nơi, đôi ngả, đôi đường, khổ anh
      Bốn năm lại khép trời xanh
      Nhớ em như một mộng lành mà thôi...

      Đúng là kể từ ngày họ quen nhau cho đến lúc Hoàng Cát đi chiến trường là đúng bốn năm.

      Nhưng có lẽ điển hình nhất thể hiện niềm yêu mến, cảm nhớ của Xuân Diệu với Hoàng Cát là bài Em đi viết vào đêm ngày 11/7/1965 với đề tặng cho Hoàng Cát ở phía dưới:

      Em đi, để tấm lòng son mãi
      Như ánh đèn chong, như ngôi sao
      Em đi, một tấm lòng lưu lại
      Anh nhớ thương em, lệ muốn trào.

      Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở ga
      Chưa chi ta đã phải chia xa!
      Nụ cười em nở, tay em vẫy
      Ôi mặt em thương như đoá hoa.

      Em hỡi! Đường kia vướng những gì
      Mà anh mang nặng bước em đi!
      Em ơi, anh thấy như anh đứng
      Ôm mãi chân em chẳng chịu lìa.

      Nhưng bóng em đi đã khuất rồi
      Đứt lìa khúc ruột của anh thôi!
      Tình ta như mối dây muôn dặm
      Buộc mãi đôi chân, dẫu cách vời

      Em hẹn sau đây sẽ trở về
      Sống cùng anh lại những say mê…
      Áo chăn em gửi cho anh giữ
      Xin gửi cùng em cả hẹn thề!.

      Một tấm lòng em sâu biết bao
      Để anh thương mãi, biết làm sao!
      Em đi xa cách, em ơi Cát
      Em chớ buồn, nghe! Anh nhớ yêu...".

      Lần đầu tiên Xuân Diệu và Hoàng Cát gặp nhau là năm 1958, khi ấy Hoàng Cát mới 17 tuổi, trâu bị lạc, anh đang chạy đi tìm thì gặp Xuân Diệu ngồi nghỉ dưới tán cây giữa cánh đồng làng anh. Lúc ấy Xuân Diệu đang trong chuyến đi thực tế về Nghệ An, tay cầm cặp bánh chưng, anh cho Hoàng Cát một cái bánh. Nhà văn Nguyễn Quang Lập trong bài viết về Hoàng Cát- chuyện văn, chuyện đời có ghi: "Có một người nữa khi đang vui hễ ai nhắc đến là mặt Hoàng Cát cũng đờ ra, đó là Xuân Diệu. Ai cũng biết Hoàng Cát và Xuân Diệu là anh em kết nghĩa nhưng quan hệ của họ đã vượt quá tình anh em, đạt đến cái gọi là tình yêu, có lẽ điều này thì nhiều người không biết".

      Sau buổi gặp gỡ trên cánh đồng làng ở khúc ruột miền trung, Hoàng Cát và Xuân Diệu trở nên thân thiết nhau. Nhà văn Nguyễn Quang Lập viết: "Từ đó anh em thân nhau, rồi yêu nhau, chính xác chỉ có Xuân Diệu yêu Hoàng Cát, còn Hoàng Cát suốt cả đời mình chỉ biết thương Xuân Diệu, thương đến vô cùng. Thương quá hoá chiều, Hoàng Cát chỉ chiều yêu Xuân Diệu mà thôi... Và Hoàng Cát khóc, nước mắt chan chứa, vừa khóc vừa đọc bài thơ Xuân Diệu viết tặng anh 45 năm về trước, ngày anh lên đường nhập ngũ. Anh nói: ầy, tau không yêu Xuân Diệu theo kiểu trai gái yêu nhau, ầy, nhưng mà tau thương, thương lắm bay nờ...". Rồi Nguyễn Quang Lập hỏi "Xuân Diệu có yêu anh không thì Hoàng Cát nói yêu chớ, Xuân Diệu yêu tau thiệt mà, yêu lắm mi nờ".

      Nhưng câu chuyện nhiều bí ẩn và gây nhiều câu hỏi nhất là cuộc hôn nhân ngắn ngủi giữa nhà thơ Xuân Diệu và nữ đạo diễn Bạch Diệp. Họ đã rất hạnh phúc nhưng bất ngờ chia tay chỉ sau 6 tháng mà không rõ nguyên nhân...



      .


      Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 15-04-2010, 06:01 AM.
      ----------------------------

      Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

      Comment

      • #4

        .

        Tình Trai

        Xuân Diệu


        Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine,
        Hai chàng thi sĩ choáng hơi men.
        Say thơ xa lạ, mê tình bạn,
        Khinh rẻ khuôn mòn, bỏ lối quen.

        Những bước song song xéo dặm trường,
        Đôi hồn tươi đậm, ngát hoa hương,
        Họ đi tay yếu trong tay mạnh,
        Nghe hát ân tình giữa gió sương.

        Kể chi chuyện trước với ngày sau;
        Quên ngó môi son với áo màu;
        Thây kệ thiên đường và địa ngục!
        Không hề mặc cả, họ yêu nhau.





        BÀI ĐỌC THÊM NGOÀI LỀ :



        Rimbaud và Verlaine - tình trai vô vọng


        Arthur Rimbaud - “con người có đế giày gió” và Paul Verlaine - “thi sĩ cuồng say” đã đến với nhau trong một thứ tình trai dị kỳ và đau đớn. Mối tình nổi loạn của họ bị người thân và xã hội lên án gay gắt nhưng đã góp phần để lại cho kho tàng thi ca nhân loại những vần thơ kiệt xuất.


        Arthur Rimbaud sinh năm 1854 tại Charleville, là con trai của một sĩ quan quân đội Pháp. Bố ông thường xuyên vắng nhà nên Rimbaud chủ yếu lớn lên trong sự nuôi nấng và dạy dỗ của người mẹ nghiêm khắc và sùng đạo. Cuộc sống nặng nề lễ nghi của gia đình đã gieo vào lòng cậu bé Rimbaud mầm mống của sự nổi loạn và khát vọng về một cuộc sống tự do, giang hồ phiêu lãng. Đến tuổi 15, Rimbaud đã bỏ gia đình, lang thang, như một chú chim chưa đủ lông cánh lạc vào trong gió lạnh, nhờ gió cuốn đi từ nơi này đến nơi khác. Chính vì vậy, người đương thời gọi ông là kẻ mang “đôi chân có đế giày gió” hay “đứa con của mặt trời”.

        Paul Verlaine sinh năm 1844 tại Metz - thành phố phía Bắc nước Pháp, con trai của một sĩ quan công binh. Năm 14 tuổi, cậu bé đã đọc Những bông hoa Ác của Baudelaire và bắt đầu viết những bài thơ nhỏ. Năm 1851, gia đình ông chuyển đến Paris, tại đây, ông theo học trường Luật nhưng suốt ngày rượu chè bê tha và thường xuyên phải nhập viện trong tình trạng say xỉn. Dù có những biểu hiện đồng tính luyến ái nhưng năm 1870, ông vẫn kết hôn với Mathilde Mauté de Fleurville. Hôn nhân thực sự là một địa ngục với cả hai người. Vốn nghiện ngập, lại nóng nảy, thô lỗ, không ít lần nhà thơ đánh đập, hành hạ vợ, thậm chí, một lần, không hiểu do cố ý hay sơ suất, ông còn ném cả đứa con trai còn ẵm ngửa của mình vào chân tường.
        Năm 1871, Rimbaud gửi những bài thơ đầu tiên của mình cho Verlaine (trong đó có cả bản thảo tập thơ nổi tiếng Con tàu say). Ấn tượng trước giọng thơ tài hoa và sáng tạo của tác giả trẻ (Verlaine hơn Rimbaud 10 tuổi), Verlaine đã viết thư mời Rimbaud đến nhà mình. Cuộc gặp gỡ thiên định này đã khởi đầu cho mối quan hệ đầy sóng gió, môt mối tình đẩy hai người đến chỗ bị xã hội xa lánh và khinh ghét.




        Chân dung Verlaine (trái) và Rimbaud. Ảnh: jacketmagazine


        Trong những ngày ở Paris, Rimbaud đã làm đảo lộn cuộc sống gia đình Verlaine. Người thân Verlaine không ai chịu nổi vị khách mời kiêu căng, ngạo mạn, cục cằn và thô lỗ hiện diện nghênh ngang trong nhà mình. Trước tình hình đó, Verlaine đành phải đưa ông bạn thơ của mình đến trú ngụ tại nhà của người khác. Nhưng giải pháp này xem ra càng trở nên tệ hại hơn khi tác giả của Tình yêu bỏ rơi vợ, suốt ngày say sưa với Rimbaud. Hai người chìm trong rượu, say sưa từ cơn này đến cơn khác. Những lúc say, Verlaine thường xuyên hành hạ, sỉ nhục vợ; nhưng tỉnh ra, ông ân hận và thề rằng, ông chỉ yêu có mỗi bà thôi.

        Mối tình trai giữa hai thi nhân nổi tiếng rốt cuộc không thoát khỏi ánh mắt hiếu kỳ của dư luận. Không dễ dàng được chấp nhận, họ đã quyết định rời Paris, đến London tận hưởng cuộc sống như những người bạn đi du lịch cùng nhau. Sau gần 2 năm chịu đựng thói giận dỗi và những cơn nóng nảy vô cớ của Rimbaud, năm 1873, Verlaine bỏ rơi “bạn tình” ở London, một mình đến Brussels (Bỉ). Không một xu dính túi, Rimbaud đã viết hàng chục bức thư cầu xin Verlaine trở lại. Trong đó, có những câu ông viết: “Anh nghĩ là đi với người khác đời anh sẽ hạnh phúc hơn ư?”, “Chỉ có sống cùng tôi, anh mới có được tự do thôi?”.

        Mùa hè năm 1873, hai người gặp nhau tại Brussels. Sau một trận tranh cãi gay gắt, Verlaine đã rút súng ra và chĩa vào Rimbaud. Vết đạn xuyên qua cổ tay Rimbaud. 2 năm tù giam là cái giá mà Verlaine phải trả cho hành động chấm dứt tranh cãi quá mạnh tay ấy. Trong những ngày tháng ngồi tù, Verlaine đã viết Những bài ca không lời với những câu dành tặng Rimbaud như: “Này là trái, là hoa, là cành lá/ Là trái tim tôi thổn thức chỉ vì em”. Năm 1875, khi Verlaine ra tù, hai người bạn còn gặp lại nhau ở Đức nhưng tình cảm của họ đã nguội lạnh, không bao giờ còn hâm nóng lại được như xưa.

        Mất bạn, cuộc hôn nhân mà Verlaine đã ruồng bỏ cũng không còn cứu vãn được. Chưa bao giờ ông cô đơn và mất mát lớn đến vậy. Verlaine lại chìm trong rượu. Những lúc tỉnh táo, ông tham gia dạy tiếng Anh, tiếng Pháp và tranh thủ đi đây đó để sáng tác. Thời gian này, ông “cặp” với Lucien Leátinois - một cậu sinh viên, người đồng hành với ông trong những chuyến đi xa. Những năm cuối đời, Verlaine đau ốm nhiều, ông nằm viện nhiều hơn ở nhà. Verlaine qua đời tại Paris 1/1896.

        Sau khi xa rời Verlaine, Rimbaud trở lại nông trang của gia đình và tập trung hoàn thành tập thơ Một mùa ở địa ngục như một lời đề tặng dành cho Verlaine. Đến năm 20 tuổi, Rimbaud dường như đã gác bút. Máu giang hồ lãng tử trong ông trỗi dậy. Năm 1876, Rimbaud sung vào đội quân viễn chinh tình nguyện chiến đấu ở tận Indonesia. 10 năm sau, ông trở về Pháp và tiếp tục lang bạt đến Abyssinia (nay là Ethiopia) và Aden (nay thuộc địa phận Yemen), làm nghề bốc vác và buôn súng. Trong những ngày này, nhà thơ bị ung thư xương chân, ông trở về Pháp và bị cắt cụt chân phải. “Đứa con của mặt trời” đã vĩnh viễn mất đi đôi cánh giang hồ của mình. Tháng 11/1891, nhà thơ qua đời tại một nhà thương làm phúc ở Marseille, khi mới chỉ 37 tuổi.


        Là những người sáng tạo của dòng thơ tượng trưng - một trường phái thơ coi trọng hình ảnh và âm thanh hơn là ý nghĩa ngôn từ của câu chữ, Verlaine và Rimbaud để lại những ảnh hưởng lớn lao đến nền thi ca hiện đại thế giới. Tuy cuộc sống riêng tư bị dị nghị nhưng đương thời tài năng thi ca của hai người đã được đông đảo bạn đọc mến mộ và tôn kính. Đám tang của Verlaine đã lấy đi nước mắt của hàng nghìn người hâm mộ, còn Rimbaud được André Breton gọi là “Chúa trời của lứa tuổi hoa niên”. Hai ông đã trở thành bậc tiền bối cho những nhà thơ nổi loạn “thế hệ Beat” như Henry Miller, Jack Kerouac và những nhạc sĩ của dòng nhạc punk rock như Bob Dylan, Jim Morrison và Patti Smith.


        (Nguồn: Tổng hợp)



        .


        Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 15-04-2010, 06:36 AM.
        ----------------------------

        Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

        Comment

        • #5

          Phải công nhận người đời nhiều chuyện quá sức tưởng tượng luôn đó. Cho tớ hơi nhiều chuyện một bữa nhá. Theo như tó nghĩ thì sau khi bị một cú sốc lớn về tình ái, ông Xuân Diệu sợ yêu luôn đó mờ. Phải gọi là mất …tự tin! Có thể là ổng cảm thấy không thể lo nổi cho cuộc sống vật chất của vợ con bằng không khí, gió và trăng….nên cáo từ đàn bà. Thế thôi! Nếu là đàn ông thật sự, biết suy nghĩ thì ai cũng thế cả! Còn nếu là giới tính thứ ba thì lấy vợ làm gì? Sao lại làm thơ cho đàn bà hay vậy?

          Còn khi ổng nói về gió, về trăng, về mọi sự vật trong trời đất... hỏng lẽ ổng muốn kết hôn với những thứ đó. Thiệt đúng là vớ vẩn! Người đời vớ vẩn.
          Theo tớ khi làm thơ, trong một phút, một thoáng giây nghĩ về người nào, về cái gì đó là mạch thơ tuôn ra… Không và không bao giờ có bài thơ nào mà tớ làm lâu hơn 5 phút. May là tớ không phải là thi sĩ mà còn vậy đó. Nếu tớ là thi sĩ thì người đời chắc cũng bàn về…giới tính của tớ luôn chắc! Tớ là nữ 100%, nếu muốn làm thơ cho bạn nữ, tớ cũng làm luôn, sợ gì ai? Tớ yêu bạn nữ luôn chắc? Cũng vớ vẩn luôn! Ngoài đời ai mà nói tớ vậy là tớ chơi trò “cẩu sực xí quách” liền cho mà coi! Chết không biết tại sao mình…xui!
          Ông Xuân Diệu ổng mà sống dậy, tớ nghĩ ổng cũng làm như tớ. Sực kẻ nào nói xấu mình.

          Comment

          • #6

            ..::~Trích dẫn nguyên văn bởi Uất Kim Hương View Post
            Phải công nhận người đời nhiều chuyện quá sức tưởng tượng luôn đó. Cho tớ hơi nhiều chuyện một bữa nhá. Theo như tó nghĩ thì sau khi bị một cú sốc lớn về tình ái, ông Xuân Diệu sợ yêu luôn đó mờ. Phải gọi là mất …tự tin! Có thể là ổng cảm thấy không thể lo nổi cho cuộc sống vật chất của vợ con bằng không khí, gió và trăng….nên cáo từ đàn bà. Thế thôi! Nếu là đàn ông thật sự, biết suy nghĩ thì ai cũng thế cả! Còn nếu là giới tính thứ ba thì lấy vợ làm gì? Sao lại làm thơ cho đàn bà hay vậy?

            Còn khi ổng nói về gió, về trăng, về mọi sự vật trong trời đất... hỏng lẽ ổng muốn kết hôn với những thứ đó. Thiệt đúng là vớ vẩn! Người đời vớ vẩn.
            Theo tớ khi làm thơ, trong một phút, một thoáng giây nghĩ về người nào, về cái gì đó là mạch thơ tuôn ra… Không và không bao giờ có bài thơ nào mà tớ làm lâu hơn 5 phút. May là tớ không phải là thi sĩ mà còn vậy đó. Nếu tớ là thi sĩ thì người đời chắc cũng bàn về…giới tính của tớ luôn chắc! Tớ là nữ 100%, nếu muốn làm thơ cho bạn nữ, tớ cũng làm luôn, sợ gì ai? Tớ yêu bạn nữ luôn chắc? Cũng vớ vẩn luôn! Ngoài đời ai mà nói tớ vậy là tớ chơi trò “cẩu sực xí quách” liền cho mà coi! Chết không biết tại sao mình…xui!
            Ông Xuân Diệu ổng mà sống dậy, tớ nghĩ ổng cũng làm như tớ. Sực kẻ nào nói xấu mình.

            ----------------------------

            Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

            Comment

            • #7

              Xuân Diệu - Tô Hoài và Mối Tình Trai




              Xuân Diệu - Tô Hoài và Mối Tình Trai


              Trần Nghi Hoàng


              Cuối thế kỷ 20, bước qua đầu thế kỷ 21, “đồng tính luyến ái” gần như được “bình thường hóa” trong xã hội con người của nhiều vùng đất trên thế giới.

              Đã có một thời, ở Việt Nam người ta xếp loại đồng tính luyến ái là một căn bệnh. Những người đồng tính luyến ái, cả nam lẫn nữ thường hay bị dè bĩu, diễu cợt, xem thường… Trong nhiều thập niên cận đại, những người đồng tính đã chứng minh cho thấy sự thông minh, khả năng nhạy cảm và hiệu quả trong công việc làm của họ. Ở hầu hết mọi lãnh vực, nhất là nghệ thuật sáng tạo, người đồng tính thường có nhiều phát kiến đi trước thời đại. Phải chăng, điều này nảy sinh từ tâm thức tự do, phá vỡ những cái bình thường của suy tưởng tiềm thức “vượt mọi biên giới” trong con người đồng tính, đã cho họ nguồn lực quý giá của một con người sáng tạo?

              Giới văn học, đặc biệt Tây Phương, nhiều tác giả lừng danh vốn là người đồng tính. André Gide cuối thế kỷ XIX của Pháp, Allen Ginsberg cuối thế kỷ XX của Mỹ .v.v… chẳng phải là hai tên tuổi lừng lẫy trên khắp địa cầu sao?

              Xuân Diệu dĩ nhiên là một trong những tài danh khai phá của nền Thơ Tiền Chiến Việt Nam. Xuân Diệu còn là nhà thơ đồng tính của thi ca Việt Nam đầu tiên được ghi nhận. Tôi nói là “đầu tiên được ghi nhận”, vì biết đâu trong giới thi, văn sĩ Việt Nam từ thời xa xưa, đã có những người đồng tính. Nhưng những người này vì bối cảnh xã hội thời đó, vì những quan niệm, lề thói đạo đức phong kiến và thành kiến, nên đã suốt đời đành dấu diếm, nén đè đi cái con người thực của chính mình!

              Tô Hoài, tác giả Cát Bụi Chân Ai, cuốn hồi ký do nhà Thanh Văn Paris xuất bản và đã giới thiệu nơi trang bìa cuối những dòng trang trọng như sau:

              “Quyển sách không hề tỏ lộ một lời bào chữa hay kết tội nào đối với cái chế độ mà Tô Hoài phục vụ nửa thế kỷ ròng rã. Chỉ là những cảm nghĩ, những điều mắt thấy tai nghe. Chỉ là những lời thuật lại không hơn không kém., không cường điệu cũng như bi thảm hóa. Cái lối kể chuyện của một bà già nhà quê, ngồi bệt xuống đất, ngay lề đường, ngay đầu ngõ. Cái lối kể chuyện luôn luôn bắt đầu bằng cách lấy gấu quần lau những giọt mồ hôi, có thể giấu trong những giọt mồ hôi này đôi ba giọt lệ mà người nghe phải tinh ý mới nhận thấy. Chính vì thế mà thái độ chính trị mới mạnh làm sao. Nó làm những người nghe phải đau đớn quằn quại cho sự thật. Một chế độ thản nhiên chà đạp lên tấm lòng của mọi con người, chế độ đó không thể nào tồn tại được. Một chế độ dựa vào sự dối trá và bạo lực cho dù có khống chế được xã hội, thì cũng chỉ khống chế được một thời khoảng nào đó. Khi mọi con người trong xã hội đó đã không còn sợ hãi, khi mà những nhà văn đã biết khát khao sự thật, khi mà những công thần đã phải đổi giọng thì đó chính là giờ cáo chung của chế độ”.

              (Tô Hoài, Cát Bụi Chân Ai, trang bìa sau)

              Tuy nhiên, trong bài viết này tôi sẽ chỉ nói về chuyện “Tình Trai” của Xuân Diệu với Tô Hoài trong Cát Bụi Chân Ai, qua chính lời kể của Tô Hoài một cách hết sức nồng nàn và cảm động.

              Chuyện tình giữa Xuân Diệu và Tô Hoài, thực ra, từ bao lâu đã có nhiều lời đồn và nghi vấn. Lần này, khi viết hồi ký về đời mình, Tô Hoài đã ngang nhiên kể lại mối tình đó. Một hành động vô cùng chân thật đầy tính “cách mạng” với xã hội Việt Nam hãy còn rất nhiều những thành kiến; một thái độ can đảm dứt khoát để nói với Đảng và Nhà Nước Việt Nam về hai chữ Tự Do.

              Tô Hoài ghi:

              Rời thành phố, lên đến Yên Dã đã tối lắm rồi. Tôi quen Xuân Diệu trước năm 1945. Tôi cũng là người Xuân Diệu rủ đi nghe và cổ vũ Xuân Diệu lần đầu tiên diễn thuyết đề tài Thanh Niên Với Quốc Văn ở giảng đường trường đại học Hà Nội. Xuân Diệu nói “Hoài ơi đi ủng hộ Diệu”. Anh Hiến sinh viên mặt tái xanh nhút nhát ra giới thiệu lung túng. Không sao, Xuân Diệu áo Tuýt so lụa mỡ gà, cà vạt lấm tấm vàng sẫm, làn tóc rậm đen loăn xoăn trên đài trán đã thu hút người nghe vào ngay câu chuyện. Đột nhiên, Xuân Diệu nói nhịu chữ “tâm hồn” – như một bà già trong làng bán bánh đúc có tật nói nhịu nhảm. Nhưng Xuân Diệu vẫn tiếp tục sang sảng hùng biện, không ai kịp sững sốt.

              Xuân Diệu và Huy Cận lên Nghĩa Đô, ở chơi cả buổi và ăn cơm. Dịu dàng, âu yếm, Xuân Diệu cầm cổ tay tôi, nắm chặt rồi vuốt lên vuốt xuống. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối. Xuân Diệu gắp thức ăn cho tôi. Cử chỉ thân thiết quá, hơi lạ với tôi, nhưng mà tôi cảm động. Tôi sướng mắt nhìn tập Thơ Thơ khổ rộng nhà in Trung Bắc phố hàng Buồm. Hai chữ Xuân Diệu nét chì sắc gợn, không phải chữ gỗ giẹp đét.”

              (Tô Hoài, Cát Bụi Chân Ai, Thanh Văn (không thấy ghi năm xb), trang 188 & 189)

              Điều trước hết phải nên ghi nhận, Xuân Diệu quả là một người mê đắm và đỏm dáng! Những đặc tính rõ nét của một người đồng tính. Áo Tuýt so lụa mỡ gà, cà vạt lấm tấm vàng sẫm… Xem ra, nét ăn mặc của Xuân Diệu từ hơn nửa thế kỷ trước, so với những tay đỏm dáng hiện đại chả có gì thua sút lạc điệu.

              “Hoài đi ủng hộ Diệu”. Câu nói nhẹ nhàng, mỏng manh đầy nữ tính nhưng quyết liệt. Và hai chữ “tâm hồn” nói nhịu. Tại sao? Nói nhịu như một bà già bán bánh đúc trong làng có tật nói nhịu nhảm! Đó là cái ám ảnh của bản chất, hay là sự thể phản ảnh của một nỗi cuồng si?

              Xuân Diệu cầm tay Tô Hoài và âu yếm vuốt lên, vuốt xuống. Nhưng là “bốn mắt nhìn nhau đắm đuối”. Có nghĩa, Tô Hoài cũng đã đắm đuối nhìn vào mắt Xuân Diệu. Cái đắm đuối mà Tô Hoài chẳng thể nào hiểu nhưng nó có làm Tô Hoài cảm động và rung động!

              Tô Hoài kể tiếp. Rành mạch, rõ ràng với một trí nhớ xanh tươi:

              Thỉnh thoảng, Xuân Diệu lại lên nhà tôi. Vẫn nắm tay cả buổi, nhìn tha thiết. Xuân Diệu yêu tôi. Nhớ những tình yêu con trai với nhau, ở trong làng và ở lớp, khi mới lớn. Học lớp nhất trường Yên Phụ, nói vỡ tiếng ồ ồ mặt sùi trứng cá, chúng nó cứ bảo tôi là con gái. Nhiều thằng cặp đôi với tôi, đòi làm vợ chồng. Có hôm chúng nó tranh vợ đánh nhau lung tung. Có đứa xô vào ôm chặt, sờ soạng toạc cả đũng quần tôi. Nhiều hôm đi học không dám đến sân trường sớm. Phải lẩn vào trong ngõ Trúc Lạc, nghe trống mới chạy ù đến sắp hàng vào lớp.”

              (Tô Hoài, sđd, trang 189)

              Tô Hoài hôm nay đã là một ông già. Nhưng ông già Tô Hoài vẫn chưa hiểu lắm về sự khác biệt giữa “Tình Trai” và những nghịch phá của tuổi học trò con nít. Chắc rằng Tô Hoài lúc bé ẻo lã và giống con gái. Cho nên lũ bạn tiểu học mới dỡ những trò chơi tinh quái đó. Nhưng với Xuân Diệu thì khác! Đúng như Tô Hoài đã xác định: Xuân Diệu yêu Tô Hoài. Tình yêu thật sự của tuổi thanh niên trưởng thành. Tình trai, tuy là “tình trai”, ai cấm giai đoạn mở đầu vẫn khai mào bằng những gì đằm thắm, thơ mộng. Tay cầm tay. Mắt nhìn mắt. … Đắm đuối. Nồng nàn…

              Nhưng mối tình của Xuân Diệu với Tô Hoài không chỉ có thế. Không chỉ là tay cầm tay, mắt nhìn mắt. Tô Hoài làm tôi ngạc nhiên ở đoạn tôi sắp trích dẫn dưới đây, khi họ Tô kể lại, miêu tả lại bằng giọng văn tài tình có tay nghề của ông:

              “Mới xế chiều đã chập tối, chẳng còn người thò chân ra đường xóm đá tảng lầy lội. Cơm xong, nhà ăn đóng cửa, mái rạ lẫn vào sườn đồi chơ vơ. Mấy cậu văn phòng ở một mình, xong bữa lại quẳng bát đũa ngay, vào chơi ngủ luôn tại các nhà trong xóm. Có cậu việc gấp, đánh máy đêm xong rồi cũng chuồn mất. Dẫy buồng ở tập thể không đèn đóm, tối thui. Không nghe tiếng người trở mình, giát giường không ken két. Im như đất hoang. Nhà tôi ở ngoài ven ngõ giữa đồng. Rượu khuya, đường mưa lội tôi ngủ lại.

              Chúng nó sợ, đi bỏ trống cả cơ quan. Cả dạo mưa gió, Xuân Diệu ở lại không ra ngoài. Giọt gianh lách tách mái nứa goọ về những đêm ma quái, rùng rợn, say đắm. Bàn tay ma ở đâu rờn vào. Không phải. Tay người, bàn tay người đầy đặn, ấm ấm. Hai bàn tay mềm mại xoa lên mặt lên cổ rồi xuống dần xuống dần khắp mình trần truồng trong mảnh chăn dạ. Bóng tối bập bùng lên như ngọn lửa đen không có ánh, cái lạnh đêm mưa rừng ấm dần lên. Chẳng còn biết đương ở đâu, mình là ai, hai cơ thể con người quằn quại, quấn quit, cánh tay, cặp đùi như giây chão trói lại, thít lại, giằng ra. Niềm hoan lạc trong tôi vỡ ra, dữ dội giằng ngửa cái xác thịt kia.

              (Tô Hoài, sđd, trang 190 & 191)

              Tôi có thể thấy như trước mắt cái đìu hiu hoang sơ trên triền Tam Đảo. Và những cuồng mê xác thịt giữa mưa gió, bóng tối và những khoảng trống vắng trơ lạnh giữa núi rừng Yên Dã. Bao vò rượu nếp của kiến trúc sư Võ Đức Diên hẳn nhiên sẽ nung nấu dòng máu nóng của những chàng thanh niên như Tô Hoài, Xuân Diệu. Và thế là cơn đồng thiếp được gọi lên. Chỉ là ở một người. Bắt đầu ở một Xuân Diệu thi sĩ Tình Trai. Tô Hoài là kẻ bị cuốn vào cơn sóng dập dờn đó. Bằng vô thức. Không suy nghĩ suy luận phân tích gì hết. Nhưng tôi thấy rõ ở những dòng chữ kể lại của Tô Hoài một ý thức rất tỉnh táo. Và nhất là không chút mặc cảm hay vò xé (cần thiết) theo thói thường của một cái gì đó gọi là Truyền Thống Việt Nam hay Luân Thường Đạo Lý kiểu áo dài khăn đóng!

              Tô Hoài tiếp tục tỉ mĩ, rất văn chương với những dòng kể tiếp theo:

              Rồi như chiêm bao, tôi ngã ra, thống khoái. Im lặng. Nghe mưa rơi xuống tàu lá chuối trong đêm và cái mệt dịu dàng trong mình. Giữa lúc ấy, hai bàn tay mềm như lụa lại vuốt lên mặt. Làn môi và hơi thở nóng như than bò vào mắt, xuống vú, xuống rốn, xuống bẹn… Cơn sướng lại cồn lên cho đến lúc ngã cả ra, rúc vào nhau. Rồi bàn tay dịu dàng lại vuốt lên mặt. Lần này thì tôi lữ lả, tôi nguôi ra rên ư ử, như con điếm mê tơi không nhớ nổi người thứ mấy, thứ mấy nữa.”

              (Tô Hoài, sđd, trang 191)

              Tôi đã đọc Hồ Trường An, Ngô Nguyên Dũng, Hoàng Mai Đạt.v.v… viết về đồng tính. Tội cũng từng đọc vài nhà văn nữ Việt Nam ở hải ngoại viết về những mối tình, những cơn ái ân đồng tính. Theo tôi, chưa có ai xuất sắc như Ông Già Tô Hoài khi viết lại mối tình trai của ông và Xuân Diệu.

              Tô Hoài táo bạo mà vẫn nên thơ. Buông thả một cách tận cùng nhưng đồng lúc lại vẫn như e dè muốn níu lại hết. Níu lại một cái gì đó rất mơ hồ ngay chính họ Tô chẳng hề biết hiểu, chẳng hề phân biệt được:

              Trời rạng sáng. Xuân Diệu trở về màn mình lúc nào không biết. Tôi he hé mắt nhớ lại những hứng thú khủng khiếp. Những cảm giác nồng nàn kích thích trong bóng tối đã trơ ra khi sáng bạch. Tôi chạy xuống cánh đồng giữa mưa.”

              (Tô Hoài, sđd, trang 191)


              Những níu lại vô ích vô thức. Những hứng thú quả tình khủng khiếp! Nhưng vẫn là những hứng thú kỳ bí “nồng nàn kích thích”. Trong bóng tối.

              Bởi ánh sáng bạch bình minh ban ngày sẽ làm tan rã hết. Sẽ làm “lạnh” đi những “nồng nàn kích thích” trong đêm mưa gió giữa núi rừng.

              Tô Hoài chạy trốn những “khủng khiếp” của cơn hứng thú. Trong cái khựng lại e dè (tôi không thấy nói chút gì đến niềm sợ hãi hay ân hận!), vẫn có một sự “tuôn chạy băng băng” vào “chốn đó”. Dù cái “nơi chốn đó” có là thiên đàng hay địa ngục. Xin nghe Tô Hoài kể tiếp:

              “Nhưng đêm mai lại vào cuộc dữ dội. Trong đêm quái quỉ lại thấy mình như không phải mình mọi khi, cũng không biết rồi trời lại sáng. Cho đến khi thật thấy rạng sáng mới rờn rợn.”

              (Tô Hoài, sđd, trang 191)

              Chỉ là rờn rợn khi ánh sáng mặt trời đã trở về với không gian. Rờn rợn như một phản ứng thiên nhiên tự nhiên không lý giải. Do đó, khi đêm về, Tô Hoài đã không có ý niệm, không biết là rồi trời sẽ lại sáng!

              Nhưng một mối, hay những mối tình trai trong thời “kháng chiến” như vậy làm sao qua mắt nổi “cơ quan”! Và hậu quả của những cơn “hứng thú khủng khiếp” là ánh sáng. Là phải phô bày, tự thú. Là phải lôi từ đêm thẳm, từ gió mưa của rừng núi ra những lời bộc bạch. Phải mang bóng tối ra trình diện trước ánh sáng.

              “Mọi công việc cơ quan lặng lẽ, nhưng cứ tối đến thì nháo lên, nháo lên một cách âm thầm. Các chàng trai trẻ vào ngủ lang trong xóm. Thằng Đại trắng trẻo, mũm mĩm thì biến là phải. Nhưng cả đến thằng Nghiêm Bình cao to hiên ngang như thế, tối cũng lẳng lặng vác cái ghi ta ra đi. Bốn bên im như tờ. . . . .

              . . . . chiếc màn một trơ trọi của lão Hiến, đôi khi cả màn của Kim Lân, của Nguyên Hồng ở Bắc Giang sang, ngủ tạm đây. Chẳng biết đêm hôm có ông kễnh nào bị bàn tay nhung sờ vào rốn không. Cuộc kiểm điểm Xuân Diệu kéo liền hai tối. Hồi ấy chưa biết phương pháp chỉnh huấn, nhưng hàng ngày chúng tôi làm việc giờ giấc nghiêm ngặt, mỗi tổ buổi chiều trước giờ tăng gia lại hội ý rút kinh nghiệm. Cả cơ quan họp đến khuya. Chỉ có ông Phan Khôi lên buồng vẫn mắc màn sẵn đi ngủ từ chập tối, bỏ ngoài tai mọi việc.

              Xuân Diệu chỉ ngồi khóc, chẳng biết Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Nguyễn Văn Mãi, cả lão Hiến, thằng Nghiêm Bình, thằng Đại và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, nhưng cũng không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến. Lúc rồ lên, trong đêm tối quyến rũ, chính mình cũng điên kia mà. Không nói cụ thể việc ấy, nhưng ai cũng to tiếng gay gắt “tư tưởng tư sản, phải chừa đi”. Xuân Diệu nức nở “tình trai của tôi… tình trai…” rồi nghẹn lời, nước mắt lại ứa ra.”

              (Tô Hoài, sđd, trang 193)

              Hẳn là còn may mắn, vì “hồi ấy chưa biết phương pháp chỉnh huấn”, nên Xuân Diệu chỉ bị mắng mỏ là “tư tưởng tư sản, phải chừa đi”. Chỉ tội nghiệp cho cái gọi là “tư sản”! Làm như chỉ có những con người “tư sản” mới biết đến “đồng tính luyến ái”!

              Chẳng có đấu tố, khai tội và phỉ nhổ chửi bới. Chẳng có ném đá hay hành hạ cụ thể tức thì. Nhưng sau đó ít lâu, thì Xuân Diệu bị đưa ra khỏi ban thường vụ.

              “Và cũng thành một cái nếp kéo dài, từ đấy không ai nhắc nhở đến những việc chủ chốt trước kia Xuân Diệu đã phụ trách. Bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người được nhiều thời giờ chỉ chuyên đi viết. Mà Xuân Diệu cũng như xa lánh mọi công tác.”

              (Tô Hoài, sđd, trang 193)

              Xem ra, hình phạt như vậy đối với những “tội tình, bê bối” mà Xuân Diệu đã làm ra đã là quá nhẹ. Đảng Cộng sản vì trọng tài Xuân Diệu nên nương tay? Hay vì là giai đoạn cần kết nạp, cần những cán bộ tiếng tăm, có tài, nên Đảng đã ngó lơ phần nào cho Xuân Diệu? Tôi lại nghĩ những lý do vừa nêu ra có thể là vài chục phần trăm. Nhưng nhiều phần trăm chính yếu là họ đã “mắc cỡ”! Họ ngượng ngùng chẳng biết… kết tội ra làm sao với trường hợp Xuân Diệu.

              Và như thế, Xuân Diệu, theo như Tô Hoài đã ghi, vốn là một người “đào hoa” với những mối tình trai. Xuân Diệu không biết chung thủy. Xuân Diệu chỉ biết mê đắm. Tô Hoài hồi ức:

              “Từ thuở trẻ, cái bắt tay như vồ lấy, trán đụng vào nhau, bốn con mắt nghiêng ngả vuốt ve nhau. Ở đâu Xuân Diệu cũng đào hoa những mối tình trai. Buổi chiều trong kháng chiến, đã hết lo đám máy bay lên đánh bom, chúng tôi đặt ba lô nghỉ chân ở Ấm Thượng xuống sông tắm táp xong lên dạo phố. Đêm nay thị trấn mời Xuân Diệu nói chuyện thơ. Bọn con trai choai choai kháu khỉnh xúm xít quanh nhà thơ. Tuổi trẻ, trai gái thấy nhau như có điện, dù điện yêu hay điện ghét, thái độ hiện ngay ra con mắt, nụ cười, cái bỉu môi, dáng xóc cổ áo, bãi nước bọt. Đằng này, con gái đi ngang mặt dửng dưng như không, nhưng con trai xoắn xít vòng trong vòng ngoài. Sáng hôm sau còn đến chơi. Xuân Diệu nắm cổ tay từng đứa mân mê như chọn đẵn mía, và nhìn dõi vào mắt…

              (Tô Hoài, sđd, trang 196)

              Xuân Diệu quả là một tay đào hoa với những mối tình trai. Qua ngòi bút Tô Hoài, chúng ta thấy một Xuân Diệu đồng tính thản nhiên và ngây thơ không mặc cảm. Mặc cảm, một trạng thái gần như (đương nhiên và thậm chí cần thiết) bắt buộc phải có ở những con người đồng tính chẳng những vào thời thi sĩ Xuân Diệu, mà ngay cả ở thời nay tại Việt Nam!

              Và như Tô Hoài đã kể, Xuân Diệu chẳng phải là một tay chung tình. Tuy nhiên, để kết luận về Xuân Diệu, Tô Hoài viết:

              “Mỗi khi nhớ, chuyện về Xuân Diệu buồn thương, buồn cười và đáng yêu, chỉ đáng yêu…”

              (Tô Hoài, sđd, trang 193)

              Để dứt bài này, tôi xin chép lại nay một bài thơ “Tình Trai” của Xuân Diệu, gửi một người lính trẻ rời thành phố vào chiến trường. Bạn đọc nếu không biết trước, chắc chắn sẽ nhầm đây là một bài thơ Tình Gái, do một chàng trai viết gửi cho người yêu bé nhỏ của mình:


              EM ĐI

              Tặng Hoàng Cát

              Em đi, để tấm lòng son mãi
              Như ánh đèn chong, như ngôi sao
              Em đi, một tấm lòng lưu lại
              Anh nhớ thương em, lệ muốn trào

              Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở ga
              Chưa chi ta đã phải chia xa!
              Nụ cười em nở, tay em vẫy,
              Ôi mặt em thương như đóa hoa

              Em hỡi! Đường kia vướng những gì
              Mà anh mang nặng bước em đi!
              Em ơi, anh thấy như anh đứng
              Ôm mãi chân em chẳng chịu lìa

              Nhưng bóng em đi đã khuất rồi.
              Đứt lìa khúc ruột của anh thôi!
              Tình ta như mối dây muôn dặm
              Buộc mãi đôi chân, dẫu cách vời

              Em hẹn sau đây sẽ trở về
              Sống cùng anh lại những say mê…
              Áo chăn em gửi cho anh giữ,
              Xin gửi cùng em cả hẹn thề!

              Một tấm lòng em sâu biết bao
              Để anh thương mãi, biết làm sao!
              Em đi xa cách, em ơi Cát
              Em chớ buồn, nghe! Anh nhớ yêu…”







              .


              BIỂN

              Xuân Diệu

              Anh không xứng là biển xanh
              Nhưng anh muốn là bờ cát trắng
              Bờ cát dài phẳng lặng
              Soi ánh nắng pha lê

              Bờ đẹp đẽ cát vàng
              - Thoai thoải hàng thông đứng
              Như lặng lẽ mơ màng
              Suốt ngàn năm bên sóng...

              Anh xin làm biển biếc
              Hôn mãi cát vàng êm
              Hôn thật khẽ thật êm
              Hôn êm đềm mãi mãi

              Đã hôn rồi hôn lại
              Cho đến mãi muôn đời
              Đến tan cả đất trời
              Anh mới thôi dào dạt...

              Cũng có khi ào ạt
              Như nghiến nát bờ em
              Là lúc chiều yêu mến
              Ngập bến của ngày đêm.

              Anh không xứng là biển xanh
              Nhưng cũng xin làm bể biếc
              Để hát mãi bên gành
              Một tình chung không hết

              Để những khi bọt tung trắng xoá
              Và gió về bay toả nơi nơi
              Như hôn mãi ngàn năm không thoả,
              Bởi yêu bờ lắm lắm, em ơi!


              .




              Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 17-04-2010, 12:49 AM.
              ----------------------------

              Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

              Comment

              • #8

                Tâm phục khẩu phục CO luôn! Cái gì cũng thua CO hết! CO biết nhiều dẫn chứng quá! Cãi không lại. Thua rùi! Đầu hàng rùi! Chuyện thiên hạ sự, tớ miễn bàn!

                Comment

                • #9

                  Một vấn đề khác cũng rất quan trọng là: ai cũng biết người bạn thân nhất của Xuân Diệu là Huy Cận. Chúng ta không thể không thắc mắc: nếu Xuân Diệu là người đồng tính luyến ái, vậy thì Huy Cận là người như thế nào?

                  Huy Cận & Xuân Diệu
                  Chúng ta nên biết là Huy Cận có hai đời vợ, mà người vợ trước không ai khác hơn là chính em gái ruột của Xuân Diệu. Tuy nhiên, cái chuyện Huy Cận có vợ, một hay hai đời vợ cũng vậy, không có ảnh hưởng gì đến cái kết luận có thể có: ông cũng là một người đồng tính luyến ái, hoặc ít nhất là lưỡng tính luyến ái (bisexual).
                  Một điều nữa chúng ta cũng cần biết là suốt đời, lúc nào Xuân Diệu và Huy Cận cũng ở bên nhau, như hình với bóng. Từ giữa thập niên 30, họ đã chơi thân với nhau, khi cả hai còn là học sinh trung học. Lúc nào họ cũng cặp kè bên nhau. Trừ khoảng thời gian Xuân Diệu phải đi làm việc ở Mỹ Thọ, họ sống chung với nhau một nhà. Có thời gian, từ năm 1939 đến 1940, Xuân Diệu và Huy Cận sống tại số 40 phố Hàng Than, Hà Nội. Hai người sống trên gác, phía dưới là vợ chồng nhà thơ Lưu Trọng Lư. Rồi đến thời kháng chiến chống Pháp, họ cũng quanh quẩn với nhau ở chiến khu Việt Bắc. Sau năm 1954, họ sống với nhau trong căn nhà ở số 24 Cột Cờ, sau đó đổi thành đường Điện Biên Phủ ở Hà Nội. Huy Cận và vợ con ở trên gác, Xuân Diệu sống phía dưới. Trong một bài thơ, Huy Cận tả:
                  Đêm đêm trên gác chong đèn
                  Cận ngồi cặm cụi viết dòng thơ bay
                  Dưới nhà bút chẳng ngừng tay
                  Bên bàn Diệu cũng miệt mài trang thơ
                  Bạn từ lúc tuổi còn thơ
                  Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong
                  Ánh đèn trên gác, dưới phòng
                  Cũng là đôi kén nằm trong kén trời
                  Sáng ra gõ cửa: “Diệu ơi,
                  Nghe dùm thơ viết đêm rồi xem sao”.
                  Diệu còn ngái ngủ: “Đọc mau!
                  Nghe rồi, xem lại từng câu mới tường”.
                  Dưới nhà trên gác thông thương
                  Dòng thơ không dứt giữa luồng tháng năm...

                  Trong bài thơ, Huy Cận dùng chữ ‘hai ta’, ‘Hai ta hạt chín chung mùa nắng trong’. Người Việt Nam không ai dùng chữ ‘hai ta’ hay ‘đôi ta’ để chỉ hai người bạn cùng phái. Cách xưng hô như vậy rất lạ. Trong bài ‘Nửa thế kỷ tình bạn’ in trong tập Xuân Diệu, con người và tác phẩm xuất bản tại Hà Nội năm 1987, Huy Cận kể tỉ mỉ hơn về mối quan hệ giữa ‘hai ta’ đó như sau:

                  Người ở bên này, ta ở đây
                  Chờ mong phương nọ, ngóng phương này
                  Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm
                  Vạn lý sầu lên núi tiếp mây
                  Nắng đã xế về bên xứ bạn
                  Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy
                  Trông vời bốn phía không nguôi nhớ
                  Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay
                  Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt
                  Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày
                  Chiếu chăn không ấm người nằm một
                  Thương bạn chiều ôm, sầu gối tay.
                  Chi tiết đáng chú ý nhất chính là chữ ‘bạn’ được lặp lại hai lần trong bài thơ, trong câu ‘Nắng đã xế về bên xứ bạn’ và câu ‘Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay’. ‘Bạn’ chứ không phải là người yêu. Chúng ta nhớ lại sự kiện khi Xuân Diệu phải đi làm việc ở Mỹ Tho, Huy Cận sống ở Hà Nội, và lời kể của Huy Cận: "Hai đứa phải sống xa nhau, buồn đứt ruột." Một chi tiết khác quan trọng không kém, đó là câu 'Chiếu chăn không ấm người nằm một'. Lúc này Huy Cận còn là học trò, chưa lập gia đình, chưa có vợ con. Người nằm chung chăn, chung chiếu với ông không phải là vợ ông, mà chính là người bạn trai của ông. Điều này sẽ rõ hơn, thuyết phục hơn, khi chúng ta đọc thêm bài ‘Ngủ chung’ cũng của Huy Cận, in trong tập Lửa Thiêng, xuất bản năm 1940


                  T_Q
















                  Comment

                  • #10



                    Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ




                    Theo báo Tiền Phong , Thi sĩ Xuân Diệu mất khá đột ngột vào ngày 18 tháng 12 năm 1985, không có người thừa kế, cũng không để lại di chúc.
                    Cũng theo bài viết này, trong thư ngày 22 tháng 3 năm 1996 gửi Văn phòng Chính phủ, nhà thơ Huy Cận khẳng định Cù Huy Hà Vũ là "cháu ruột và con nuôi" của Xuân Diệu, hi vọng Hà Vũ sẽ "giữ gìn, bảo quản di sản văn hóa, văn học của nhà thơ để lại".

                    Tác giả bài báo cho hay: Ông Cù Huy Cận (bố đẻ Cù Huy Hà Vũ), ông Ngô Xuân Huy (em trai của thi sĩ Xuân Diệu), bà Ngô Thị Xuân Như (em gái Xuân Diệu, mẹ đẻ Cù Huy Hà Vũ) trên thực tế họp thành một "chiến tuyến" bảo vệ cho Cù Huy Hà Vũ, tuy nhiên, sau 10 năm, các ông, bà trên đều đã qua đời, nay con và cháu các ông lại phải đối diện với một vụ tranh chấp pháp lý về sở hữu của ngôi nhà, khi Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nộimuốn lấy ngôi nhà làm "phòng lưu niệm nhà thơ Xuân Diệu".

                    Cù Huy Hà Vũ cho biết: "Bộ trưởng Văn hóa Thông tin đã chính thức công nhận tôi là người thừa kế nhà thơ Xuân Diệu thông qua việc cấp cho tôi vào ngày 13/2/1995 "Giấy chứng nhận đăng kí bản quyền tác phẩm" trong đó ghi rõ Chủ sở hữu bản quyền tác giả Xuân Diệu: Cù Huy Hà Vũ (Người thừa kế)!
                    ..............................
                    .................................
                    ...................................
                    Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 20-04-2010, 11:42 AM.
                    ----------------------------

                    Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

                    Comment

                    Working...
                    X
                    Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom