• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

Một phụ nữ Mỹ cưu mang 219 cô nhi Việt

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • Một phụ nữ Mỹ cưu mang 219 cô nhi Việt

    12 tháng 4, 1975 và cuộc di tản vô tiền khoáng hậu
    Hà Giang/Người Việt (từ Seattle)


    LTS – Ðúng ngày này, 35 năm trước, chiếc máy bay quân sự Mỹ đưa 219 cô nhi Việt Nam thoát khỏi một quốc gia đang hấp hối, để vào Hoa Kỳ. Ðộc giả Người Việt cách đây ít lâu được biết đến câu chuyện của thanh niên Vũ Tiến Kinh, đi tìm, và tìm được vị bác sĩ đã cứu sống mình 35 năm trước tại bệnh viên UCLA. Vũ Tiến Kinh là một trong 219 cô nhi ấy. Nhưng, ai là người đứng đàng sau chiến dịch di tản 219 cô nhi An Lạc? Cuộc di tản vô tiền khoáng hậu được thực hiện ra sao trong những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam? Xin giới thiệu cuộc chuyện trò dưới đây, giữa phóng viên Hà Giang và người phụ nữ Hoa Kỳ có cả cuộc đời gắn liền với hàng trăm cô nhi gốc Việt.



    Bà Betty Tisdale (phải), năm nay đã 87 tuổi, với cô con gái tên Liên là 1 trong 5 người do chính bà nhận nuôi
    trong số 219 cô nhi An Lạc, trong một bữa cơm tại Seattle. (Hình: Phạm Kim/Người Việt Tây Bắc)

    ***
    Sài Gòn, cách đây 35 năm
    “Tháng 4 năm 1975, tình hình ngày càng tệ, nhiều dấu hiệu cho thấy cuộc chiến sắp tàn, Sài Gòn sẽ thất thủ, một số lớn người Việt Nam đã bồng bế nhau đi.”
    “Khi Tổng Thống Gerald Ford cho phép các máy bay vận tải (cargo aircraft) được bắt đầu di tản cô nhi ra khỏi Sài Gòn, tôi biết là đã nguy kịch lắm.”
    “Mọi việc biến chuyển quá nhanh!”
    “Hồi tháng 2, khi về Việt Nam ăn Tết với các cô nhi An Lạc, tôi thấy mọi việc xung quanh còn có vẻ bình thường.”
    “Thật không thể tưởng tượng quân đội Hoa Kỳ đã thực sự bỏ cuộc, và cộng sản Bắc Việt sẽ tiến chiếm Sài Gòn.”
    “Nhưng không có nhiều thì giờ để sửng sốt.”
    “Tôi lập tức gọi cho bà Vũ Thị Ngãi, Giám Ðốc viện mồ côi An Lạc, và người mẹ tinh thần của tôi, là hãy chuẩn bị di tản gấp, vì chỉ vài ngày nữa tôi sẽ về mang hết toàn thể mọi người, cô nhi, giám đốc và nhân viên của An Lạc qua Mỹ.”
    “Di tản tất cả mọi người?”
    Tôi nhớ lúc đó bà Ngãi đã ngỡ ngàng hỏi.
    “Và tôi trả lời: ‘Vâng, tất cả mọi người!’”
    “Ðặt xong vé máy bay, tôi biết mình chỉ vỏn vẹn có hai ngày để chuẩn bị cho cuộc di tản vĩ đại.”
    “Tuy nói thật mạnh miệng với bà Ngãi, thú thật, lúc bấy giờ, tôi chưa hề biết mình sẽ xoay sở ra sao để mang được cả 400 cô nhi của An Lạc qua đây.”
    “Chỉ biết là tôi không thể để cho các em sống trong thế giới vô thần của chủ nghĩa Cộng Sản!”
    ***



    Bà Tisdale còn giữ cuốn album hình ảnh những ngày chạy khỏi Việt Nam. Hai tấm này là hình những em cô nhi lớn hơn giúp đặt các em nhỏ hơn vào trong giỏ để chuẩn bị lên máy bay. (Hình: Hà Giang/Người Việt)
    Nói đến đây, người đàn bà ngồi trước mặt tôi, tóc bạc phơ, da mồi, khuôn mặt phúc hậu, đã 87 tuổi, nhưng đôi mắt hiền từ còn rất tinh anh, và giọng nói còn mạnh mẽ, ngừng lại để nhấp một ngụm nước.
    Trong căn nhà nhỏ ở Seattle, tiểu bang Washington, có nhiều cây bao quanh, không khí như đẫm ướt sương, và lá rơi khắp mặt đường, tôi ngồi thu mình trong chiếc ghế sofa, mà theo lời bà, “được chế ra từ một chiếc giường mây mang đến từ cô nhi viện An Lạc, 35 năm trước đây.”
    Và câu chuyện bà kể, cũng cũ xưa như chiếc giường mây tôi đang ngồi, xảy ra cách đây đúng 35 năm, với tôi là một hành trình đi tìm lịch sử, nhưng với bà là một chuyến xe trở về với kỷ niệm.
    Tên bà là Betty Tisdale.





    Hai cô gái tên Xuân (trái) và Liên, là 2 trong 5 cô gái đã được ông bà Tisdale nhận làm con nuôi từ cô nhi viện An Lạc. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

    Bắt đầu từ cuộc di cư 1954
    Câu chuyện được tiếp tục sau khi bà Tisdale đưa tôi đi thăm căn phòng, mà bà gọi là “The Việt Nam Room.”
    Căn phòng, chứa đầy bàn ghế tủ giường làm từ Việt Nam, và một cuốn scrap book vĩ đại to bằng một phần tư cái giường, trong đó dán đầy hình ảnh và bài báo của gần năm mươi năm sinh hoạt của bà.
    “Cuốn scrapbook của bà vĩ đại quá!” Tôi kêu lên.
    Lần giở vài trang, bà Tisdale nói như cho một mình mình nghe.
    “Cả cuộc đời tôi nằm trong ấy!





    Bà Betty Tisdale đang chỉ cho phóng viên Người Việt xem chồng tài liệu bà còn giữ của thời di tản các em mồ côi An Lạc. (Hình: Phạm Kim/Người Việt Tây Bắc)
    Ðó là cuộc đời của tôi…”
    “Tôi sẽ phải trở lại căn phòng này, xem từng tài liệu, nếu bà cho phép!” Tôi nói.
    “Sáng mai tôi sẽ đón em trở lại và chúng ta sẽ duyệt qua mọi tài liệu em muốn.” Bà Tisdale nhìn tôi hứa hẹn.
    “Ồ thích quá, bà cho phép thật không?” Tôi reo lên.
    Chúng tôi xuống ngồi ở phòng khách, rồi bà tiếp tục câu chuyện.
    “Tôi sinh năm 1923 và là chị cả trong một gia đình có năm chị em.”
    “Lớn lên trong thập niên 1930s, thời “depression” (giai đoạn Ðại Khủng Hoảng Kinh Tế) của Hoa Kỳ, tôi phải giúp cha săn sóc các em từ nhỏ, vì mẹ bà bị bệnh lao, lúc đó không chữa được, phải ở trong một viện dành cho những người cùng bệnh.”
    “Năm tôi chín tuổi thì cha bị bệnh chết, đứa em trai út cũng chết vì bệnh lao.”
    “Hai người cô ruột, và một người hàng xóm chia nhau mang bốn chị em chúng tôi về nuôi.”
    “Lớn lên không được đi học nhiều, tôi làm đủ mọi thứ việc để kiếm sống, và dần dà được nhận vào làm thư ký cho hãng US Steel, một công việc không dễ lúc đó.”
    “Lúc hai mươi mấy tuổi, tôi đã tự tạo được cho mình một cuộc sống khá ổn định, độc lập, không vướng bận, nhưng lúc nào cũng thấy mình bị thôi thúc bởi một cảm giác bất an là ‘chưa làm được gì.’”
    “Mẹ nuôi thấy tôi bất an, luôn bảo là hãy mãn nguyện với cuộc sống của mình.”
    “Nhưng hai chữ mãn nguyện làm tôi thật ‘bất mãn!’”
    “Vì nếu lúc nào cũng mãn nguyện thì còn làm gì được cơ chứ?” Bà Tisdale cao giọng.
    “Thế rồi một hôm, định mệnh đẩy vào tay tôi một cuốn sách khiến tôi ngơ ngẩn.”
    Nói đến đây bà với tay lên kệ sách, rút ra và trao cho tôi cuốn sách cũ kỹ, bìa rách tả tơi. Ðó là một cuốn sách cũ kỹ đã xuất bản cách đây gần 50 mươi năm, có tên là “Deliver Us from Evil” của Bác Sĩ Tom Dooley, một bác sĩ quân y thuộc Hải Quân Hoa Kỳ.
    Ngoài bìa là hình một người đàn ông Mỹ đứng cạnh một đứa bé Á Ðông.
    Nâng cuốn sách trên tay, tôi như bị thôi miên bởi những tấm hình trắng đen ghi lại cuộc di cư của hơn một triệu người trốn chạy Cộng Sản từ Bắc vào Nam. Những hình ảnh có lẽ trông còn thê thảm hơn cả cảnh vượt biên của ‘boat people’ vào năm 1975.
    Sách kể lại những gì Bác Sĩ Tom Dooley đã làm để xoa dịu vết thương của những người có mặt trên chuyến “Hàng Không Mẫu Hạm USS Montague” đưa người Bắc di cư vào Nam năm 1954.
    Lật một trang sách, bà Tisdale chỉ cho tôi xem tấm hình chụp một người đàn bà đang trên đường trốn chạy, nhưng vẫn rất thanh lịch, đang được những đứa trẻ rách rưới lem luốc vây quanh.
    “Ðó là bà Vũ Thị Ngãi, một người đàn bà góa chồng, có học thức, thuộc dòng dõi quý tộc.” Bà Tisdale nói.
    “Trên đường di cư, bà Ngãi nhặt hết những đứa trẻ nằm lê lết bên xác của cha mẹ rồi mang theo vào Nam.”
    “Những đứa trẻ này, là những em cô nhi đầu tiên của cô nhi viện An Lạc.”
    “Ðó là lần đầu tiên tôi nghe đến cái tên cô nhi viện này.”
    Tôi lướt nhanh những hàng chữ trước ở bìa trong.
    Sách kể sau cuộc di tản, Bác Sĩ Tom Dooley giúp bà Vũ Thị Ngãi dựng cô nhi viện An Lạc, những trẻ mồ côi và nạn nhân chiến tranh, ông cứ về Mỹ xin tiền, gây quỹ, rồi lại mang vào Việt Nam để giúp đỡ họ.
    “Nội dung cuốn sách cứ ám ảnh tôi. Tôi không thể xua được những hình ảnh bác sĩ Tom Dooley săn sóc đủ mọi loại bệnh nhân ra khỏi đầu.” Bà Tisdale kể tiếp.
    “Tôi quyết tìm gặp Bác Sĩ Tom Dooley cho bằng được.”
    “Và cuối cùng tôi thì cũng gặp được ông trong khu chữa bệnh ung thư của một bệnh viện ở Nữu Ước.
    “Tôi hỏi ông có tôi có thể làm gì để giúp đỡ việc ông đang làm.”
    “Ông không nói gì về bệnh tình của mình, mà chỉ bảo tôi khi có thì giờ nên về thăm cô nhi viện An Lạc, rồi sẽ biết phải làm gì.”
    “Sau lần gặp mặt duy nhất đó, Bác Sĩ Tom Dooley qua đời, lúc ông mới 34 tuổi.”
    “Bác Sĩ Tom Dooley còn nói với bà điều gì không?” Tôi hỏi.
    “Có! Ông nói một câu mà tôi không bao giờ quên.”
    “…”
    “Là đừng bao giờ quên rằng một người bình thường cũng làm được những việc phi thường.”
    “Một người bình thường cũng làm được những việc phi thường.” Tôi lập lại.
    “Vâng! Thế là tôi để dành tiền, mua vé máy bay về thăm An Lạc.”

    Cô nhi viện An Lạc
    “Chiếc xích lô đưa tôi đến cô nhi viện trong một buổi trưa nóng bức của năm 1961.”
    “Và dù đã chuẩn bị tinh thần, quang cảnh của cô nhi viện An Lạc làm tôi chết lặng.”
    “Bà Vũ Thị Ngãi lúc ấy đang săn sóc một đứa trẻ bị ghẻ lở, đứng dậy rửa tay, rồi ra đón tôi, và đưa tôi đi một vòng thăm cô nhi viện của bà.”
    “Trẻ em nằm thọt lỏn trong những cái võng được bện bằng vải rách, hoặc còng queo trên một dãy những chiếc nôi rỉ sét.”
    “Không có hệ thống nước trong nhà. Tất cả mọi người tắm rửa ở các vòi nước ngoài sân.”
    “Không có cả nhà bếp, ngoài những chiếc lò than nằm lỏng chỏng dưới đất.”
    “Ở các góc phòng, nhiều trẻ em, đứa lớn bồng đứa bé.”
    “Thế nhưng đâu đó vẫn có tiếng cười trong như pha lê, và những ánh mắt long lanh.”
    “Tôi đến gần một chiếc nôi và bế một đứa bé.”
    “Và khi đứa bé đưa hay tay quàng vào cổ tôi, rồi nhất định co chân đu người lên không cho tôi thả nó xuống nôi nữa, thì tôi biết cuộc đời mình giờ đã gắn liền với An Lạc.”

    Cuộc đời gắn liền với An Lạc
    Trở về Mỹ, bà Tisdale quyết định không thể tiếp tục làm thư ký cho hãng US Steel được nữa, mà phải đi tìm một công việc khác, để có điều kiện hỗ trợ bà Vũ Thị Ngãi, và những đứa trẻ đáng thương bà đã gặp ở An Lạc.
    Nhờ người quen giới thiệu, bà được giới thiệu vào làm thư ký cho Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits tại tiểu bang Nữu Ước.
    Và dùng thế lực của Thượng Nghị Sĩ Javits, bà xin được thuốc men, tã lót, nồi niêu, xoong chảo, sách vở và tất cả những thứ một viện mồ côi cần có.
    Hàng năm bà Tisdale dùng ngày nghỉ phép của mình để về thăm và sống với các em cô nhi An Lạc.
    Cũng dùng sự quen biết của mình, bà gặp các binh sĩ Hoa Kỳ đóng gần Sài Gòn nhờ họ đến giúp xây hệ thống nước, bếp, và giường chiếu.
    Cuối tuần, các binh sĩ Hoa Kỳ rủ nhau đến chơi đùa với các em, và làm những việc cần thiết để biến An Lạc thành một nơi tương đối khang trang cho các em.
    Cũng tại An Lạc, bà Tisdale gặp một bác sĩ quân y góa vợ, đến giúp cô nhi viện và hai người kết hôn.
    Trong tấm hình cưới của hai người, tôi thấy chồng bà, Bác Sĩ Quân Y Tisdale, có nét quen quen. Nhìn kỹ thì mới thấy ông có nét giống Bác Sĩ Tom Dooley thuở nào.
    Trong vòng mười bốn năm trời, bà Tisdale mỗi năm đi thăm An Lạc mấy lần, và chăm sóc từng cô nhi ở An Lạc và coi tất cả như con của mình.
    Cuộc sống êm đềm tưởng cứ thế trôi, nhưng không ngờ đùng một cái bà phải di tản cả cô nhi viện.

    Di tản
    “Sau khi đã mua vé đi Việt Nam rồi thì tôi bắt đầu lo.”
    “Làm sao mang được các em qua đây?”
    “Mang đến đây rồi chứa các em ở đâu?”
    “Làm sao để có thể tìm ngay cha mẹ nuôi cho ngần ấy em trong vòng một thời gian ngắn?”
    “Ðầu óc tôi quay cuồng những câu hỏi.”
    Không biết bắt đầu từ đâu, bà Tisdale gọi Hoa Thịnh Ðốn, rồi được biết là chính phủ đòi hỏi trẻ em phải có sẵn cha mẹ nuôi, hay đang làm thủ tục làm con nuôi thì mới được vào Mỹ.
    Bà gọi Sở Di Trú thì được họ đề nghị là nên liên lạc với một trong các tổ chức chuyên lo thủ tục con nuôi thì mới có thể mang các em vào Hoa Kỳ.
    “Tôi chỉ là một cá nhân tự quyên tiền, bấy lâu đi về Việt Nam để giúp các em, hầu như không quen lắm với thủ tục xin/cho con nuôi.” Bà kể.
    “Ngoại trừ những lần làm thủ tục nhận năm bé gái An Lạc làm con nuôi và mang về Mỹ.”
    “Tôi gọi cho trung tâm Tressler Lutheran ở Pennsylvania, và được họ hứa sẽ tìm cách giúp đỡ.”
    “Nhưng trước khi đi Việt Nam tôi còn phải tìm chỗ tạm trú cho các em.”
    “Tôi chợt nhớ đến trại Fort Benning ở Georgia. Nơi đây có những trại trống, tại sao không thể tạm để các em ở đó?”
    “Liên lạc với vị tướng của trại Fort Benning mãi không được, tôi tìm cách gọi cho mẹ của ông, tự giới thiệu và giải thích là tôi phải mang 400 trẻ em cô nhi qua, cho biết cần sự giúp đỡ của bà, vì sáng mai tôi phải đi Việt Nam sớm.”
    “May sao, bà biết đến tên tôi vì thỉnh thoảng tôi hay đi diễn thuyết ở các nhà thờ.”
    “‘Ðể chuyện đó tôi lo cho!’ Mẹ của ông tướng nói.”
    “Về đến Việt Nam, tôi đến ngay Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ.”
    “Lúc đó tòa đại sứ đã chuẩn bị để đóng cửa, tủ bàn xô lệch, hồ sơ đã được đóng thùng, chuẩn bị đưa đi.”
    “Vị đại sứ giới thiệu tôi với một người lo máy bay di chuyển của quân đội.”
    “Ông ta nói có thể lo việc vận chuyển, cần bao nhiêu máy bay của quân đội cũng có, nhưng tôi cần được sự chấp thuận của chính quyền Việt Nam.”
    “Tôi đi gặp thứ trưởng Bộ Xã Hội là Bác Sĩ Phan Quang Ðán, thì được ông cho biết chúng tôi cần phải có một danh sách và giấy khai sanh cho các em.”
    “Trẻ em bị bỏ rơi người ta mang đến vất ở cửa cô nhi viện, chúng tôi nhặt vào nuôi, làm sao có giấy khai sanh bây giờ?”
    “Nhưng bắt buộc phải vượt qua mọi trở ngại!”
    “Chúng tôi làm việc thâu đêm để chế ra giấy khai sinh cho các em, rồi tạo ra một danh sách, với 400 tên.”
    “Chúng tôi đặt tên cho các em trai bắt đầu với Vũ Tiến… Và các em gái bắt đầu với Vũ Thị…”
    “Tại sao lại chọn họ Vũ?” Tôi hỏi.
    “Vì lấy theo họ bà Vũ Thị Ngãi, sáng lập viên và giám đốc của cô nhi viện.”
    “Sáng ngày lên đường chúng tôi mang danh sách lên nộp ở Bộ Xã Hội, thì được Bác Sĩ Phan Quang Ðán cho biết không thể cho các em trên mười tuổi ra đi.”
    “Vì sao?”
    “Chúng tôi sẽ cố thủ, chúng tôi không thể bỏ cuộc. Chúng tôi không thể để cho Việt Cộng tiến chiếm. Chúng tôi cần tất cả các em trên mười tuổi ở lại để giúp đánh trận.”
    “Tôi rất tiếc là không thể để cho các em đi được. Ðó là quyết định của chính phủ tôi.”
    Thứ Trưởng Phan Quang Ðán cương quyết.
    Khi tôi mang lệnh của Thứ Trưởng Phan Quang Ðán về báo cho cô nhi viện thì cảnh trước mặt làm tôi thật đau lòng.
    “Các em sơ sinh đã được đặt nằm gọn ghẽ vào trong những chiếc giỏ phủ đầy chăn và tã, các em lớn quần áo chỉnh tề. Các em hai ba tuổi thì đang chạy lăng quăng chơi đùa quanh những cái giỏ.”





    Trang báo Columbus Enquirer-Ledger ở Georgia, phát hành ngày Thứ Bẩy, 12 tháng 4, năm 1975,
    đăng tin về chuyến bay sẽ đưa các trẻ em cô nhi An Lạc đến Georgia cùng ngày.
    Một cô nhi đã chết trên đường đi, lúc đó báo này chưa biết tin. (Hình: Hà Giang/Người Việt)

    “Bà Vũ Thị Ngãi, người phụ tá và các thiện nguyện viên cũng đã sẵn sàng lênđường.”
    “Tin nghe như sét đánh ngang tai, người lớn chỉ lặng lẽ nhìn nhau, còn các em lớn được bảo thay quần áo ra thì ngơ ngác.”
    “Xa xa có tiếng súng nổ. Người ta bảo cộng sản Bắc Việt đã tiến gần vào thành phố.”
    “Sau khi trấn tĩnh. Chúng tôi quyết định cùng kéo nhau hết ra phi trường, những em phải ở lại đưa tiễn những đứa được ra đi.”
    “Trước khi lên xe, tôi quay lại nhìn cô nhi viện lần cuối.”
    “Những chiếc nôi trống rỗng. Không có trẻ em, cô nhi viện trông như một cái xác không hồn.”
    “Bà Vũ Thị Ngãi đứng yên một góc, mắt đỏ hoe.”
    “Tại phi trường, chúng tôi bịn rịn chia tay.”
    “Tôi ôm bà Ngãi, và hứa sẽ quay trở về để đón bà, mà lòng tự hỏi không biết khi tôi trở về được thì có muộn quá không.”
    “Hai chúng tôi cùng cố không khóc, nhưng nước mắt ràn rụa.”
    ”Các em bé được quân nhân chuyển từ những cái giỏ vào các thùng giấy cho an toàn hơn.”
    “Mọi thứ đã sẵn sàng.”
    “Máy bay gầm gừ cất cánh, những cái vẫy tay của bà Ngãi và giọt nước mắt của các em nhạt nhòa dần. Nhưng những hình ảnh ấy sao cứ mãi khắc sâu trong tâm khảm.”
    “Tôi đã ra đi, bỏ lại gần hai trăm đứa con mình đã săn sóc cả mười bốn năm trời.”
    “Và lời nói của Thứ Trưởng Phan Quang Ðán mãi cứ vang trong tai tôi.”
    “Chúng tôi sẽ cố thủ.
    Chúng tôi không thể bỏ cuộc.”
    “Chúng tôi không thể để cho Việt Cộng tiến chiếm. Chúng tôi cần tất cả các em trên mười tuổi ở lại để giúp đánh trận.”
    Ngày 12 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay chở 219 cô nhi từ An Lạc đáp cánh an toàn tại Los Angeles. Một số cô nhi quá yếu đã được gửi lại ở UCLA để được săn sóc. Trách nhiệm của chính phủ Hoa Kỳ đến đây là hết. Ông bà Tisdale phải tự tài trợ phí tổn $21,000 cho chuyến bay đưa các em từ Los Angeles về Fort Banning để lo thủ tục tìm cha mẹ nuôi. Tất cả các em đã được trung tâm Tressler Lutheran Agency tìm cha mẹ nuôi trong vòng trên dưới một tháng.

    (Trong số báo đặc biệt nhân 35 năm biến cố 30 tháng 4, Người Việt sẽ kể tiếp câu chuyện của bà Betty Tisdale, và cả câu chuyện của 216 cô nhi An Lạc năm nào; Ðiều gì đã xảy ra? Ai còn, ai mất? Hơn 200 em thuộc đại gia đình “Vũ Tiến…,” “Vũ Thị…” hội nhập ra sao?)
    Similar Threads
  • #2

    .






    .
    ----------------------------

    Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

    Comment

    • #3

      A-T huynh cho phép CO nhe...cảm ơn A-T huynh...

      ***************


      Tiếp câu chuyện di tản 219 cô nhi Việt, 12 Tháng Tư 1975


      'Madame Ngãi,' người mẹ của ngàn đứa con




      Bảy lần di tản, nuôi một ngàn cô nhi, làm người di tản cuối đời

      Trong số báo cách đây ít ngày, độc giả được đọc câu chuyện về người phụ nữ Mỹ, tên là Betty Tisdale, từng mang 219 cô nhi Việt Nam ra khỏi Sài Gòn những ngày cuối Tháng Tư, 1975. Trong câu chuyện mà bà Tisdale, nay đã 87 tuổi, kể cho phóng viên Hà Giang của nhật báo Người Việt, bà có nhắc đến một phụ nữ Việt Nam, mà bà gọi là một vị Thánh. Người phụ nữ Việt Nam này tên là Vũ Thị Ngãi, từng cưu mang đến cả ngàn cô nhi miền Bắc, hồi thập niên 1940s, 1950s. “Madame Ngãi,” theo cách gọi của bà Tisdale, từng là tiểu thư của một trong những gia đình giàu có bậc nhất Thanh Hóa một thời. Gần 220 “đứa con” cô nhi của Cô Nhi Viện An Lạc thoát ra khỏi Sài Gòn năm 1975. Cuộc đời bà Vũ Thị Ngãi sau đó ra sao? Bà Betty Tisdale gặp vị Thánh Nguyễn Thị Ngãi của mình như thế nào? Xin theo dõi tiếp câu chuyện sau đây.



      Bà Vũ Thị Ngãi săn sóc một em cô nhi bị ghẻ lở tại cô nhi viện An Lạc, Sài Gòn, vào khoảng năm 1961. (Hình: Hà Giang chụp lại tài liệu của bà Betty Tisdale)

      Lật từng trang, rồi từng trang, cuốn “sổ đời” của bà Betty Tisdale, chúng tôi trở về với khung cảnh của cô nhi viện An Lạc, của Sài Gòn yêu dấu, và của những thay đổi của cô nhi viện này từ năm 1961, đến cuộc di tản Tháng Tư năm 1975.

      Thời gian làm những tấm ảnh úa vàng, hoen ố nhiều chỗ. Nhưng bà Betty vẫn vanh vách đọc tên những khuôn mặt của từng người trong hình. Chắc hẳn bà đã nhiều lần xem đi xem lại những dấu tích kỷ niệm.




      Các em cô nhi vây quanh người mẹ chung là bà Vũ Thị Ngãi, và Bác Sĩ Tom Dooley, vị ân nhân của cô nhi viện An Lạc trước khi bác sĩ Tom Dooley qua đời. (Hình: Hà Giang chụp lại tài liệu của bà Betty Tisdale)


      Một tấm hình trắng đen chợt rơi ra.

      Cầm hình lên ngắm nghía một lúc, bà Tisdale đưa hình cho tôi rồi nói bằng một giọng chợt nặng trĩu.

      “Ðây là madame Ngãi, đang săn sóc một em bị ghẻ lở.”

      “Bà Ngãi bây giờ còn sống không? Sau khi đám cô nhi được di tản, thì chuyện gì xảy ra cho bà?” Tôi hỏi.

      Thay vì trả lời tôi, bà Tisdale mơ màng: “Người ta gọi madame Ngãi là người mẹ của ngàn đứa con!”

      “Tôi coi madame Ngãi như một người mẹ. Bà và Bác Sĩ Tom Dooley là hai người Thánh sống.”

      “Nếu không có Bác Sĩ Tom Dooley thì tôi đã không đến thăm cô nhi viện An Lạc.”

      “Nhưng nếu không có Madame Ngãi thì cũng không có cô nhi viện An Lạc, và cũng tôi cũng không ngồi đây nói chuyện với cô ngày hôm nay.”

      “Tôi thật may mắn được sống cùng thời với hai vị Thánh” Bà nói.



      Bà Vũ Thị Ngãi (giữa) và Betty Tisdale (phải) trước giờ các em cô nhi được đưa lên máy bay qua Hoa Kỳ vào ngày 12 tháng 4 năm 1975. (Hình: Hà Giang chụp lại tài liệu của bà Betty Tisdale)


      Rồi bà bảo tôi ngồi yên chờ bà đi pha ấm trà.

      Biết bà đang muốn che giấu xúc động, tôi ngồi yên chờ đợi.

      Trở lại với hai tách trà nghi ngút khói, và cuốn sách “Deliver Us from Devil” của Bác Sĩ Tom Dooley bà bảo.

      “Tôi biết cô rất muốn tìm hiểu về Madame Ngãi, nhưng không hiểu tại sao cứ kể về bà thì tôi lại xúc động quá không nói được.”

      “Những gì Bác Sĩ Tom Dooley kể về bà trong cuốn sách này tôi thấy rất chính xác!”

      “Cô đọc đi nhé!”

      Tôi cầm lấy cuốn sách, đọc chương Bác Sĩ Tom Dooley kể về Madame Ngãi và cô nhi viện An Lạc: “Những ngày công tác ở Hải Phòng để giúp những người Bắc di cư vào Nam, với chúng tôi là những ngày u buồn. Buồn không phải vì làm việc vất vả, nhưng vì những đau thương của bệnh nhân quanh chúng tôi quá nhiều, săn sóc không xuể.”

      “Người bạn thường xuyên của chúng tôi là nỗi buồn, thế nhưng nếu chúng tôi muốn trốn nỗi buồn mà bỏ đi một buổi chiều nào đó, thì mặc cảm tội lỗi lại khiến chúng tôi hết vui nổi.”

      “Cũng may còn có đám trẻ con của bà Ngãi, và cô nhi viện mà bà đã đặt cho cái tên không chính thức là An Lạc.”

      “Họ đã mang đến cho chúng tôi những niềm vui hiếm có. Ðám cô nhi này là con của bà Ngãi, và giờ đây, họ cũng trở thành con chúng tôi.”


      “Trong khốn khó, chúng tôi đón nhận nhau như những người thân trong gia đình. Và tôi cùng với các y sĩ phụ tá, trở thành viện y tế của các em cô nhi.”

      “Madame Ngãi là một người đàn bà có nhiệt huyết của một cô gái 16, trông trạc tuổi ba mươi, nhưng bà đã hơn năm mươi tuổi.”

      “Sinh trưởng trong một gia đình giàu có ở miền Bắc, nhưng Madame Ngãi thật dễ thương.”

      “Bà có làn da mịn màng, tóc đen nhánh, nụ cười rất tươi, đôi mắt sáng, và hơi xếch ‘rất Á Ðông’, đã làm nhiều người say đắm ngay từ phút đầu gặp gỡ.”

      “Madame Ngãi là một người rộng lượng. Một người trông coi cả một cô nhi viện thì hẳn phải là một người có đầu óc và trái tim rộng lượng.”

      “Bà muốn ôm hết tất cả những trẻ thơ xấu số vào lòng, để thương yêu, để chăm sóc. Bà Ngãi có biệt tài chiếm được cảm tình của mọi người đối diện, nhất là những người Mỹ vừa có lòng hảo tâm vừa có điều kiện giúp những em cô nhi của bà.”

      “Những em cô nhi được bà quan tâm đặc biệt thường là những em bị tật nguyền, xấu số nhất, thí dụ như cậu bé tên Nguyên.”

      “Không ai biết cậu họ gì. Bà Ngãi cho biết bà nhặt cậu ở Thái Bình lúc mới lên 4. Giờ thì cậu đã 6 tuổi và có một nụ cười thật dễ mến. Nguyên bị lao xương sống lưng khiến cậu bị hơi gù. Nhưng Nguyên không bao giờ để việc đó làm mình buồn. Khi đi đứng, cậu thường xuyên bị té xuống, có khi thay vì đi thì lại lăn người trên đất, nhưng lúc nào cậu cũng phá lên cười.”

      “Một em bé nữa cũng được Madame Ngãi rất thương, tôi không nhớ rõ tên. Em mới hai tuổi mà đã hoàn toàn bị mù, vì em bị đau mắt hột nặng cả hai mắt từ lúc mới sơ sinh. Tôi nhớ Madame Ngãi hay ôm em mà nói: “Giá mà lúc mới bị đau, em đã được chữa ngay thì đâu đến nỗi...”

      “Có những em khác bị giang mai bẩm sinh, bị quặt lưỡi, què quặt, hay người đầy ghẻ lở khiến các bác sĩ dù cũng phải thấy hơi ghê sợ khi phải chăm sóc, nhưng bà Ngãi hình như lại lo cho các em một cách đặc biệt.”

      “Gần bà, trẻ em hầu như không sống với mặc cảm, các em vẫn vui tươi, và tiếng cười hồn nhiên của các em trong những cảnh khốn cùng nhất làm cho chúng tôi quên hết mệt nhọc và thấy đời sống thật đẹp và có ý nghĩa.”

      “Vì yêu các em, và vì yêu mến bà Ngãi, mà các người lính hải quân cứ có tí thì giờ rảnh là vào khu được gọi là cô nhi viện.”

      “Và để cám ơn chúng tôi, bà không có gì hơn là đã chúng tôi những bữa ăn tối thật ‘thịnh soạn,’ nhưng với chúng tôi đôi khi là một mạo hiểm. Hãy thử tưởng tượng món súp nấu với đầu cá, gà luộc để nguyên cái đầu, mắm tôm, thì có thể hiểu nổi sự ‘hãi hùng’ của chúng tôi.”

      “Madame Ngãi cứ lặng lẽ làm việc, chẳng bao giờ kể gì về mình.”

      “Một lần tò mò, chúng tôi hỏi bà là cô nhi viện từ đâu mà có, những trẻ em từ đâu ra?

      Và bà làm sao có tiễn để nuôi dưỡng chúng?”

      “Lúc đó, Madame Ngãi mới kể chuyện cho chúng tôi bằng một giọng mơ màng, như người kể chuyện cổ tích.”

      “Tôi sinh trưởng ở Thanh Hóa.”

      “Gia đình tôi có lúc giàu có nhất Thanh Hóa. Chúng tôi có một ngôi nhà lớn thật đẹp và chung quanh là ruộng cò bay thẳng cánh. Mặc dù sau chiến tranh, căn nhà của chúng tôi bị sập đổ nhiều, nhưng vẫn còn ở được. Tôi cứ ra đường gom góp các em bé vẫn còn sống, mang về nhà, và tôi cùng các gia nhân cho các em tá túc.”

      “Vào năm 1946, tai Thanh Hóa có rất nhiều trận chiến. Gia đình tan nát, Làng mạc đầy người chết, Trẻ con bị bỏ rơi trên các nẻo đường, hay thơ thẩn bên cạnh xác chết của cha mẹ. Chiến tranh không có thì giờ để dừng lại chăm sóc cho trẻ em.”

      “Khi chiến tranh tiến sâu vào Thanh Hóa, tôi biết rằng mình phải di tản, Lòng thật buồn, tôi bán nhà, gom góp tiền bạc và vòng vàng mang đi, đến tỉnh Nam Ðịnh. Tại Nam Ðịnh, tôi mua một căn nhà khác, và tiếp tục nuôi đám cô nhi, giờ đã lên đến 600 đứa. Khi Nam Ðịnh rơi vào tay Việt Minh năm 1949, tôi lại phải di tản nữa, lần này mang theo 1,000 cô nhi.”

      “Chúng tôi đã phải di tản như thế tất cả là 5 lần, và cuối cùng tôi đến ở Hải Phòng.”

      “Trong lần di tản cuối cùng, vào Nam, bà chỉ còn mang theo được 80 em cô nhi, và tại Sài Gòn, cơ quan ‘Công Tác Nước Ngoài Hoa Kỳ’ (United States Oversea Mission) đã cất sẵn cho bà một cô nhi viện, mà bà đặt tên là cô nhi viện An Lạc.”

      Ðọc xong chương sách, tôi nhìn bà Tisdale, chép miệng.

      “Không ngờ, hai mươi năm sau Madame Ngãi lại phải di tản cô nhi viện An Lạc một lần nữa.”

      Bà Tisdale, dường như đã lấy lại được bình tĩnh, bắt đầu kể chuyện:

      “Sau khi đã đưa các em cô nhi về đến Geogia an toàn, tôi bắt đầu lo cho Madame Ngãi.”

      “Tôi gọi cho Ðại Sứ Martin và nhờ ông đến cô nhi viện An Lạc đưa Madame Ngãi cùng người phụ tá, cũng là cháu của bà tên Thúc, và 3 người nữa đến tòa đại sứ.”

      “Tôi khẩn khoản nhờ ông bằng mọi cách phải đưa bà ra khỏi Việt Nam vì nếu không tính mạng bà sẽ bị nguy hiểm khi Cộng Sản chiếm được Sài Gòn.”

      “Mấy ngày sau tôi nhận được tin báo là Madame Ngãi đã được đưa đến Guam an toàn.”

      Kể đến đây, bà Tisdale tìm trong cuốn scrap book, trao cho tôi một bài báo có tên “Orphanage Head May Be Adopted” của tờ Times Daily, đăng ngày 28 Tháng Tư, 1975, bảo tôi đọc đi, rồi ra khỏi phòng.

      Bài báo viết: “Bà Vũ Thị Ngãi, 70 tuổi, một phụ nữ đã bỏ ra 30 năm trời nuôi dưỡng các em cô nhi tại cô nhi viện An Lạc, Sài Gòn, giờ đây có lẽ cũng có người nhận mang về nuôi.”

      “Ðược Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ giúp ra khỏi Sàigòn từ tuần trước, hiện nay đã đến Guam.”

      Cựu Ðại Tá Bác Sĩ quân y Patrick Tisdale cho biết vợ ông, Betty Tisdale đã bay đến Guam vào ngày hôm qua, Chủ Nhật, 28 Tháng Tư, để đón bà về Columbus, Georgia.”

      “Tôi nghĩ có lẽ kỳ này chúng tôi sẽ chính thức nhận Madame Ngãi làm mẹ nuôi. Từ trước đến giờ vợ chồng tôi vẫn xem bà như một người mẹ. Bà rất gần gũi với vợ tôi.” Bác Sĩ quân y Tisdale nói.

      “Dù không muốn bỏ hơn 100 người con nuôi lại An Lạc, Madame Ngãi bắt buộc phải rời Sài Gòn trước khi Cộng Sản vào, vì chắc chắn họ sẽ trừng phạt bà, chúng tôi không nghi ngờ gì về điều này.”

      “Ông Tisdale, 45 tuổi, một đại tá bác sĩ quân y về hưu, đã phục vụ tại Việt Nam một năm, cho biết Cộng Sản đã công bố trên chương trình phát thanh của họ, là Madame Ngãi nằm trên một danh sách những người sẽ bị xử tử.”

      “Có rất nhiều lý do khiến họ muốn giết bà, nhưng việc mà bà nhất định phải di tản hơn 200 cô nhi qua Mỹ là một lý do quan trọng.”

      Bà Tisdale bổ túc bài báo bằng những lời giải thích: “Chồng của Madame Ngãi là một nhà tư bản công nghiệp giàu có, cùng với một người con trai đã bị mất tích, biến mất trong cuộc hỗn loạn xẩy ra đầu năm 1954, khi quân Việt Minh giao tranh với quân Pháp.”

      “Khi di cư vào năm 1954, Madame Ngãi đã mang 80 cô nhi từ Bắc vào Nam. Ở đó, bà dựng ra cô nhi viện An Lạc, với sự giúp đỡ của Bác Sĩ Quân Y Tom Dooley, người đã phục vụ ở Việt Nam vài năm trước khi ông qua đời năm 1961, ở tuổi 34.”

      “Madame Ngãi không phải là một người làm chính trị, bà rất cẩn thận để tránh khỏi bị gán cho từ đó. Thế nhưng bà vẫn có những lý do cá nhân để không thích cộng sản.”

      “Bà cho biết lý do bà để cho các cô nhi rời khỏi Việt Nam vài tuần qua cũng giống như lý do tại sao bà mang các em rời khỏi miền Bắc vào năm 1954: Bà không muốn các cô nhi của mình phải sống dưới chế độ Cộng Sản.”

      “Nhưng bà Ngãi bây giờ còn sống hay đã chết?”

      Tôi chợt hỏi.

      “Tìm Madame Ngãi tại Guam, tôi đưa bà về Columbus, Georgia để ở với chúng tôi.”

      “Chúng tôi xây một căn nhà riêng cho bà ở sau vườn.”

      “Ngày bà đến Georgia, gần như hầu hết các em cô nhi đều ra đón. Mọi người ai cũng vui quá.”

      “Nhưng bà chỉ ở được với chúng tôi ba năm, rồi qua đời năm 73 tuổi, sau khi bị stroke.”

      “Tại sao những người tốt lại chết sớm?” Bà Tisdale hỏi.

      “Bác Sĩ Tom Dooley cũng là người tốt mà còn mệnh yểu hơn.” Tôi nói.

      Rồi bà hỏi, như tự trả lời.

      “Ừ, tôi nghĩ có lẽ điều quan trọng không phải là sống được bao lâu, mà là đã làm gì được cho ai, và khi chết đi có ai thương tiếc, phải không?”



      Hà Giang/Người Việt
      Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 15-04-2010, 10:48 PM.
      ----------------------------

      Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

      Comment

      • #4

        !!!

        Comment

        • #5

          [QUOTE=anh-tran;35163]12 tháng 4, 1975 và cuộc di tản vô tiền khoáng hậu
          Hà Giang/Người Việt (từ Seattle)

          . Ðó là một cuốn sách cũ kỹ đã xuất bản cách đây gần 50 mươi năm, có tên là “Deliver Us from Evil” của Bác Sĩ Tom Dooley, một bác sĩ quân y thuộc Hải Quân Hoa Kỳ.
          Ngoài bìa là hình một người đàn ông Mỹ đứng cạnh một đứa bé Á Ðông.
          Nâng cuốn sách trên tay, tôi như bị thôi miên bởi những tấm hình trắng đen ghi lại cuộc di cư của hơn một triệu người trốn chạy Cộng Sản từ Bắc vào Nam. Những hình ảnh có lẽ trông còn thê thảm hơn cả cảnh vượt biên của ‘boat people’ vào năm 1975.
          Sách kể lại những gì Bác Sĩ Tom Dooley đã làm để xoa dịu vết thương của những người có mặt trên chuyến “Hàng Không Mẫu Hạm USS Montague” đưa người Bắc di cư vào Nam năm 1954.
          QUOTE]




          A-T huynh à , hồi đó CO đã đọc qua quyển này - bản dịch Tiếng Việt - cảm động lắm. Chẳng hiểu sao cứ nhớ mãi chi tiết : có một cậu bé trên tàu hỏi Dr Dooley " những cây kem đánh răng kia khác nhau chỗ nào ". Ông trả lời " những cây kem đánh răng ấy có mùi vị khác nhau..."

          để coi còn quyển ấy ko? đọc lại chắc khóc...


          .
          ----------------------------

          Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

          Comment

          • #6

            Biến cố 1975, nhớ Di Cư 1954



            Biến cố 1975, nhớ Di Cư 1954: Ðọc 'Deliver Us from Evil' của Bác Sĩ Thomas A. Dooley

            Hành trình đến tự do của những người di cư không dễ dàng, vì tuy trên nguyên tắc, thì mọi người được tự do chọn nơi mình sống, và những ai muốn di cư vào Nam sẽ được hỗ trợ để ra đi cho đến hết đến Tháng Năm, 1955, trên thực tế, ở khắp các nẻo đường, Việt Minh luôn lén lút tìm cách ngăn cản, ruồng bắt họ, khiến họ phải liều chết để tìm đường lẩn trốn.

            Operation Passage To Freedom * Vai trò Hải Quân Hoa Kỳ * Chiến hạm USS Montague

            Hà Giang/Người Việt





            Tôi được biết đến cuốn “Deliver Us From Evil,” của tác giả Thomas A. Dooley, một bác sĩ quân y thuộc Hải Quân Hoa Kỳ, lần đầu tiên trong đời, ở phòng khách của người phụ nữ được giới truyền thông Hoa Kỳ mệnh danh “Angel of Saigon,” và người Việt tị nạn giờ đây bắt đầu đặt cho cái tên “Mẹ Của Cô Nhi Việt Nam,” trong chuyến đi thăm bà tại Seattle để thực hiện phóng sự đặc biệt cho dịp 35 năm kỷ niệm 30 Tháng Tư cách đây hai tuần.

            Trao cho tôi cuốn sách bìa rách tả tơi, xuất bản năm 1956, cách đây đã hơn 50 năm, bà Betty Tisdale bảo “Deliver Us From Evil” với bà là một “định mệnh,” và tác giả của nó, Bác Sĩ Quân Y Tom Dooley, là “một phép lạ, người đã làm thay đổi hẳn cuộc đời” của mình.




            Trân trọng nhận sách từ tay bà (với lời giới thiệu như thế thì không thể không trân trọng), tôi ngắm tấm bìa đã ố vàng in hình một người đàn ông đẹp trai trong y phục Hải Quân Hoa Kỳ, bên cạnh một đứa bé Á Ðông. Ðằng sau và tương phản với vẻ mặt tươi cười của hai người, là những ánh mắt hốt hoảng như nuốt chửng khuôn mặt âu lo của những người Việt .
            Bà Betty bảo một chương trong cuốn sách nói về các trẻ em cô nhi của madame Vũ Thị Ngãi đã khiến bà rất xúc động, và thôi thúc bà đi thăm cô nhi viện An Lạc, một biến cố dẫn đến việc bà di tản hơn 200 cô nhi ra khỏi Việt Nam sau này.


            Trực giác cho tôi biết cuốn sách này chứa đựng nhiều hơn thế nữa.

            Lật vài trang, tôi như bị thôi miên bởi những tấm hình trắng đen ghi lại cuộc di cư của hơn một triệu người trốn chạy cộng sản từ Bắc vào Nam. Những hình ảnh trông còn thê thảm hơn cảnh vượt biên của “boat people” vào biến cố Tháng Tư, 1975.

            Tôi lật thêm vài tấm hình nữa. Toàn là những khuôn mặt chứa đầy hãi hùng, đau thương. Nhưng tại sao những hình ảnh xa lạ này lại thân thuộc đến thế?

            Một luồng điện chạy xẹt qua người. Phải chăng có hình ảnh cha mẹ tôi trong đám người hốt hoảng ấy kéo nhau di cư vào Nam năm ấy?

            Ðột nhiên những câu chuyện mẹ tôi kể về cuộc di cư từ Bắc vào Nam của thế hệ bà, mà tôi đã nghe nhiều lần từ tấm bé ào ạt trở về.

            Và những hình ảnh trước mắt chợt làm sống động những câu chuyện trước đây tôi chỉ được nghe mà không thể hình dung.

            Lịch sử đang được phơi bày trước mắt. Những hình ảnh có thật, được ghi lại, kể lại bằng một nhân chứng sống, và một người ngoại quốc.


            ***

            Sau hơn ba ngày chờ đợi, cuốn sách cũ tôi đặt mua trên Amazon.com cuối cùng cũng về đến thùng thư. Sách “paperback” nên mỏng quá, không “đẹp” như cuốn sách của bà Tisdale.

            Nhưng không hề gì.
            Tôi bỏ ra 4 tiếng đồng hồ, ngấu nghiến đọc.

            “Deliver Us From Evil” là hồi ký của Bác Sĩ Tom Dooley kể lại một công tác mang ông đến Việt Nam vào cuối mùa Hè năm 1954. Vào mùa Xuân trước đó, quân Pháp đã bị Việt Minh đánh bại trong trận Ðiện Biên Phủ.
            Hiệp Ðịnh Geneve ký kết vào Tháng Bảy, 1954 cho phép dân chúng miền hai miền được quyền chọn giữa thể chế tự do (miền Nam) và cộng sản (miền Bắc) và di cư qua vùng mình muốn. Khoảng thời gian thông thương này sẽ kéo dài đến Tháng Năm, 1955.

            Hiệp định này tạo ra một luồng sóng người Bắc ào ạt di cư vào Nam trong những chuyến đi được chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ qua công tác gọi là Chiến Dịch Hành Trình Ðến Tự Do (Operation Passage To Freedom).

            Bằng một giọng kể chuyện ngôi thứ nhất, tác giả Tom Dooley đã ghi lại sinh hoạt của ông trên hàng không mẫu hạm USS Montague, và công việc trong những trại tị nạn ở ngoại ô Hải Phòng, trong việc giúp người Bắc di cư vào Nam để trốn chạy chế độ cộng sản, vào khoảng năm 1954 đến đầu năm 1955.

            Deliver Us From Evil” là một hồi ký hấp dẫn, sinh động, chứa nhiều chi tiết gây ấn tượng sâu sắc về những phức tạp của việc xây dựng và duy trì một trại tị nạn, nơi những người di cư tạm trú trong thời gian đợi khám sức khỏe, chữa trị và chủng ngừa, trước khi được đưa vào Nam.

            Qua lời kể của Tom Dooley, người đọc có thể hình dung được toàn cảnh cảng Hải Phòng, với những bến tàu, hai khách sạn xập xệ và vài cửa hàng tạp hóa đến những chi tiết cụ thể và thực tế trong trại như việc sử dụng nhà cầu, cũng như khó khăn tạo ra bởi sự khác biệt những về cả ngôn ngữ lẫn văn hóa.

            Tác giả cũng giải thích những khó khăn của hải quân Hoa Kỳ trong việc đưa hàng trăm ngàn người dân, trong đó có nhiều người già, trẻ em, tàn tật, ghẻ lở ốm đau, những người đàn bà thai nghén, từ đồng bằng sông Hồng đến đồng bằng sông Cửu Long.

            Hành trình đến tự do của những người di cư không dễ dàng, vì tuy trên nguyên tắc, thì mọi người được tự do chọn nơi mình sống, và những ai muốn di cư vào Nam sẽ được hỗ trợ để ra đi cho đến hết đến Tháng Năm, 1955, nhưng trên thực tế, ở khắp các nẻo đường, Việt Minh luôn lén lút tìm cách ngăn cản, ruồng bắt họ, khiến họ phải liều chết để tìm đường lẩn trốn.

            Một đoạn văn tả lại cuộc đi trốn của người làng Cửa Lò:

            Trên những con thuyền chỉ chở tối đa là 25 người, đêm nay chúng tôi chất cả trăm người trên mỗi thuyền. Im lặng như màn đêm, thuyền chúng tôi lặng lẽ rời bờ hướng về phía biển Ðông.
            Chuyến đi của chúng tôi kéo dài năm ngày năm đêm. Chúng tôi không thể đốt lửa vì củi quá ướt. Chúng tôi bắt buộc phải ăn cơm sống, trà thì bị ngập nước biển không còn uống được, chúng tôi hầu như không uống nước. Trẻ con và đàn bà chết lả vì đói và khát.”

            Trong tình cảnh thật khốn khó, tình cảm tác giả cũng như những đồng đội của ông trong Hải Quân Hoa Kỳ dành cho người di cư xấu số được thể hiện rất rõ ràng, nhất là trong những đoạn tả cảnh họ săn sóc các trẻ em cô nhi, mà cha mẹ đã bị chết trên đường tị nạn.

            Nhưng lẫn với những câu chuyện chứa đầy tình người, là những hình ảnh hãi hùng khiến người đọc phải rùng mình. Ðó là những chuyện mà tác giả cho là phải ghi lại như một tài liệu lịch sử để cho thế giới thấy rõ những hành vi man rợ của một chế độ bất nhân, đã xô đẩy hàng triệu người phải bỏ tất cả nhà cửa, ruộng vườn, làng mạc, mồ mả ông bà tổ tiên, những gì quý giá nhất để gồng gánh, bồng bế nhau đi.

            Trong chương có tên là “Cải tạo của Cộng Sản,” Bác Sĩ Tom Dooley kể một hôm người ta đưa đến trại tị nạn bảy em trai bị thương ở hai tai máu chảy lênh láng, và một người đàn ông miệng bê bết máu đã ngất xỉu để cấp cứu.
            Dùng thuốc trụ sinh, và mọi phương tiện khó khăn lúc đó, bác sĩ đã cứu sống được họ, nhưng họ vẫn bị tàn tật suốt đời.

            Nguyên nhân thương tích của họ được Bác Sĩ Tom Dooley kể lại như sau:

            Một người được chứng kiến câu chuyện sau đó kể cho chúng tôi biết là hôm đó Việt Minh kéo vào làng, họ đến ngôi trường mà một thầy giáo bị tố cáo là đã lén lút tổ chức những lớp học giáo lý vào buổi tối.
            “Bảy học sinh và thầy giáo bị lôi ra khỏi lớp. Tất cả bị bắt ngồi xuống đất và hai tay bị trói ra đằng sau.
            “Hai người công an đi đến từng đứa trẻ. Một người dùng hai tay nắm chặt lấy đầu đứa bé. Người kia lấy một chiếc đũa bằng tre chọc mạnh sâu vào cả hai tai em, máu chảy ròng ròng, và cả làng có thể nghe thấy tiếng kêu la kinh hoàng của những người bị trừng trị.”
            Sau khi đã phải chứng kiến cảnh từng học trò của mình bị chọc hỏng tai, thầy giáo bị trừng phạt bằng một hình phạt nặng nề hơn. Một công an nắm chặt đầu ông, còn người kia banh miệng ông ra, dùng kéo cắt đi chiếc lưỡi dám rao giảng những giáo điều đi ngược với chính sách của đảng. Những em học trò này từ nay không thể nghe được lời rao giảng nào nữa, và thầy giáo bị câm thì không còn bao giờ nói được những điều bị cấm.”

            Hãi hùng, thê thảm, hỗn loạn, bẩn thỉu, bệnh tật, chết chóc, sự quỷ quyệt và tàn nhẫn, là những gì được ghi lại trong chuyến di cư từ Bắc vào Nam năm 1954, và công tác của ông gần đến ngày cuối thì lại càng khó khăn hơn vì vòng đai kiểm soát của Việt Minh ngày càng siết chặt.

            Nhưng giữa những hình ảnh ảm đạm thê lương nhất, người đọc vẫn thấy thấp thoáng ánh sáng của hy vọng vào tình người, và sức mạnh mãnh liệt của niềm tin tôn giáo.

            Ngay sau khi xuất bản, “Deliver Us From Evil” đã nhanh chóng trở thành cuốn sách bán chạy nhất, và được xem là một tài liệu lịch sử có giá trị ghi lại vai trò của hải quân Hoa Kỳ trong cuộc di tản hơn một triệu người Bắc di cư vào Nam để tìm tự do.








            .
            Đã chỉnh sửa bởi CONHAKO; 15-05-2010, 09:50 PM.
            ----------------------------

            Cái đẹp của sa mạc là một cái giếng nó ẩn dấu nơi đó.

            Comment

            Working...
            X
            Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom