• Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm Trang nhà Chút lưu lại, xin bạn vui lòng hãy xem mục Những câu hỏi thường gặp - FAQ để tự tìm hiểu thêm. Nếu bạn muốn tham gia gởi bài viết cho Trang nhà, xin vui lòng Ghi danh làm Thành viên (miễn phí). Trong trường hợp nếu bạn đã là Thành viên và quên mật khẩu, hãy nhấn vào phía trên lấy mật khẩu để thiết lập lại. Để bắt đầu xem, chọn diễn đàn mà bạn muốn ghé thăm ở bên dưới.

Thông báo Quan trọng

Collapse
No announcement yet.

NHẠC PHAN VĂN HƯNG

Collapse
X
 
  • Filter
  • Time
  • Show
Clear All
new posts

  • NHẠC PHAN VĂN HƯNG

    NHẠC PHAN VĂN HƯNG



    Người nghệ sĩ cúi xuống trên mười ngón tay nhả những thanh âm phừng phừng rực lửa.


    Phạm Anh Dũng (trích từ Quán Gió)

    Santa Maria, California, USA

    Phan Văn Hưng là một tên tuổi mới lạ trong làng âm nhạc Việt Nam, tuy anh đã hoạt động từ lâu. Anh Hưng, sinh năm 1950 tại Hà Nội, 1954 vào Nam, xa rời đất mẹ Việt Nam từ 1968.

    Anh du học và tốt nghiệp về Kỹ Sư Hầm Mỏ và Cơ Khí ở Pháp. Trước khi rời Pháp để định cư tại Úc, Phan Văn Hưng đã sinh hoạt với Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Paris. Trong suốt 10 năm sinh sống ở Pháp, ngoài những sáng tác và trình diễn âm nhạc, anh còn là sáng lập viên của "Văn Đoàn Lam Sơn" và của tờ báo "Nhân Bản", một trong những tờ báo Việt ngữ phổ biến rộng rãi ở Âu Châu.

    Nhạc Phan Văn Hưng là một nét chấm phá khác thường, chưa thấy bao giờ trong âm nhạc Việt Nam.

    Đã khoảng một phần tư thế kỷ hoạt động âm nhạc, với hơn 100 bản nhạc, Hưng đã có một con đường, có một hướng đi, khác hẳn những nhạc sĩ khác. Những tác phẩm đã phát hành gồm tập nhạc "Trái Tim Tôi Là Bến" với ba cái CD "Trái Tim Tôi Là Bến", "Có Phải Em Chờ Mùa Xuân" và "20 Năm".

    Nếu nói nhạc Phan Văn Hưng là nhạc của những tình yêu lứa đôi như nhạc của những nhạc sĩ viết tình ca ngày xưa Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng ... hoặc nhạc tình ngày nay của Đức Huy, Trịnh Nam Sơn, Mai Anh Việt, Nguyên Bích... thì là một điều sai lầm lớn lao.

    Nhạc của anh, có một phần nào đó, ảnh hưởng loại nhạc tranh đấu, nhưng không hoàn toàn "lớn giọng" như vậy, dù là tác dụng có thể sâu đậm hơn nhiều.

    Hãy tạm thử so sánh với "nhạc phản chiến" của Trịnh Công Sơn ngày xưa (ở đây không bàn đến những bản "tình ca" của Trịnh Công Sơn). Một điều khá rõ ràng, "nhạc phản chiến" Trịnh Công Sơn lời lẽ thường mơ hồ, ám chỉ, chứ không bàn thẳng vào sự việc và nhạc Phan Văn Hưng thường từ những bài thơ diễn tả những sự kiện có thật. Có lẽ cả hai loại nhạc đều có thể gây ảnh hưởng, xúc động mạnh đến người nghe, nhưng hai nhạc sĩ đã có hai con đường, có hai mục đích, hai lý tưởng trái ngược hẳn với nhau.

    Nhạc của Phan Văn Hưng, hình như đa số là những bức tranh xã hội, mờ ảo nhưng có thật. Những bức tranh màu đen, những hình ảnh cực tối của những con người Việt Nam điển hình, những người thật. Những người Việt trong nhạc của họ Phan là những nhân vật có thật, họ đã chết tuyệt vọng, hay họ đang và sẽ bám víu vào tương lai mờ mịt...

    Nhạc Phan Văn Hưng cũng có những người Việt đang sống sót một cách trầm, hùng, anh dũng... trong trận cuồng phong phủ kín bao tối tăm của nước Việt Nam, sau những ngày cuối của tháng Tư Đen 1975.

    Đây cũng còn là tâm sự của những người Việt ly hương, những người đã phải đau đớn bỏ lại một đất nước đen tối, bỏ lại gia đình, tài sản, bỏ lại bạn bè trong những trại học tập, những trại tù, những địa ngục của nhân loại:

    "... Ai trở về xứ Việt

    Nhắn giùm ta, người ấy ở trong tù

    Nghe đâu đây vang giọng hờn rên xiết

    Dài lắm không, đằng đẳng mấy mùa Thu

    Ai đi về xứ Việt

    Thăm dùm ta người ấy ở trong tù


    Cho ta gửi một mảnh trời xanh biếc

    Thay dùm ai màu trời ngục âm u

    Các bạn ta ơi, bao giờ được thả

    Đến bao giờ ăn được bát cơm tươi

    Được lắng nghe tiếng chim cười

    Đến bao giờ, đến bao giờ?..."


    (Ai Trở Về Xứ Việt/thơ Minh Đức Hoài Trinh-Nhạc Phan Văn Hưng)

    Phan Văn Hưng đã viết lên những "thương khúc" rất cảm động về các đồng bào ở trong và ngoài nước. Anh viết về những con người có cùng một tiếng nói, cùng một mầu da vàng, cùng một lịch sử Lạc Hồng như anh.

    Niềm đau của những người Việt khốn khổ còn ở lại Việt Nam, hay những di dân gốc Việt mất nước, phải lang thang khắp tứ xứ, năm châu là niềm đau của Phan Văn Hưng. Và đấy cũng là nỗi đau của Nguyễn Chí Thiện, của Minh Đức Hoài Trinh, của Đinh Tuấn, của Bắc Phong, của Nguyễn Song Pha, của Giang Hữu Tuyên, của Nguyễn Phương Lam, của Nam Dao... là những thi sĩ có thơ được anh phổ nhạc. Và đấy cũng là tâm sự xót xa của tất cả các người Việt Nam khác hãy còn là "Người Việt Nam".

    Bao nhiêu là những mẩu chuyện có thật, của những người không may mắn ở lại Việt Nam, đa số là những bài thơ đã được Hưng viết thành nhạc, để đưa đến hàng triệu người Việt trong và ngoài nước.

    "Bài Ca Cho Em Bé Thảo", nhạc Phan Văn Hưng phổ vào thơ Nam Dao, là một thương khúc cảm động. Em bé Thảo bệnh nặng, được cha mẹ đem vào nhà thương. Bị bỏ quên, mãi sau một bác sĩ Xã Hội Chủ Nghĩa mới đến kê toa thuốc, nhưng cho biết "nhà thương không có thuốc". Cha mẹ vội mượn tiền hàng xóm ra chợ trời, mua được thuốc, đem vào nhà thương, nhưng bé Thảo... đã lìa đời! Nhà nghèo, phải cưa chiếc bàn cũ long chân đóng đinh làm quan tài. Cha đạp xe lọc cọc chở áo quan ra nghĩa trang. Mẹ chạy theo cầm giữ chiếc quan tài nhỏ bé. Còn có gì đau đớn hơn hình ảnh này?

    Nhưng, không phải chỉ có dân chúng miền Nam Việt Nam mới khổ. Những người dân ngoài Bắc còn có thể xấu số hơn. Những người theo kháng chiến ngày xưa cũng có những cay đắng, những hờn tủi không thể nói ra được. Họ Phan đã giúp họ và viết thành những lời nhạc chua xót.

    Đó là nội dung một số bài hát như "Bậu" (thơ Bắc Phong-nhạc Phan Văn Hưng). Bậu là tên một thôn nữ đẹp và thích làm dáng, ngay cả sau khi gia nhập kháng chiến. Ngờ đâu, cái chết tức tưởi của người yêu khiến Bậu không còn là Bậu ngày xưa nữa.

    Rồi đến bài "Có Phải Em Là Em Bé", thơ Nguyễn Chí Thiện-nhạc Phan Văn Hưng. Thi sĩ của "Hoa Địa Ngục", Nguyễn Chí Thiện, đã kể chuyện một em bé có cha bị ở tù đã hơn mười năm. Mẹ em bé, buộc lòng phải lấy một bí thư đảng nơi mẹ công tác. Còn em, còn em bé đáng thương chỉ mơ có được một đôi dép, chỉ mơ được đi học. Và đau đớn thay em, ngây thơ, lại mơ được trở thành thiếu nhi... quàng khăn đỏ!

    Những câu chuyện thương tâm như vậy. Những câu chuyện xã hội tưởng chừng như nối tiếp nhau trong những bài hát tràn đầy những khổ đau, triền miên, bất tận... tưởng như không bao giờ có thể hết được những khổ sở, những chua cay.

    Hãy cùng ngậm ngùi trong câu chuyện của hai em bé nhỏ, vẫn còn trong tuổi vô tư, đi tát dầu cặn nổi lềnh bềnh trên nước sông Sàigòn, gần xưởng Ba Son, lọc lấy dầu bán, để làm kế sinh nhai. Thằng bé anh, tuổi mười ba, đã bị gục ngã dưới làn đạn AK của Công An. Thằng bé em khóc ngất, ôm anh mình đã chết, máu nhuộm đầy người. Mọi người chắc phải có một cảm giác ớn lạnh ở xương sống khi nghe bài thơ nhạc sau đây:

    "... Tôi muốn hát cho thằng bé nước Việt

    Chết như một kẻ thù vô danh

    Phản động chăng hay là đế quốc?


    Chết nơi cầu cạnh xưởng Ba Son

    Thằng nhỏ chết với đôi mắt mở trừng

    Trên giòng sông sóng gợn rưng rưng"


    Biết đâu rằng chỉ chủ nghĩa giết em!

    Bé tát dầu, thằng bé tát dầu!



    (Thằng Bé Tát Dầu/ý Nguyễn Song Pha - nhạc Nam Dao và Phan Văn Hưng)

    Thật là đau thương: "Thằng nhỏ chết với đôi mắt mở trừng" làm cho giòng sông phải "rưng rưng" nước mắt!

    Nhạc Phan Văn Hưng nhiều chuyện buồn. Nhưng không những chỉ kể lể những chuyện buồn như vậy đâu. Anh còn cho thấy có những hy vọng.

    Trong một cuộc biểu tình tranh đấu cho Tự Do Nhân Quyền, tại một công trường ở Paris, Nam Dao và Phan Văn Hưng đã tình cờ bắt gặp những giọt lệ trên đôi má nhăn nheo của một người Mẹ Việt Nam. Giọt nước mắt của người mẹ già có mái tóc bạc phơ, tay cầm lá cờ vàng ba sọc đỏ, đã là cảm hứng cho bài hát "Giọt Nước Mắt Của Mẹ". Bài hát này đã cho những giọt nước mắt của Me là những giòng suối man mác tình người, niềm kiêu hãnh của 4000 năm Con Rồng Cháu Tiên, niềm hy vọng một ngày sẽ có ánh sáng ban mai. Giọt nước mắt của Mẹ sẽ là những dòng sông cuồn cuộn lên, là những thác nước đổ dồn dập ập xuống để phá tan gông cùm, xiềng xích.

    Ba cái CD của Phan Văn Hưng rất giản dị. Anh Hưng hát tất cả. Cũng có đủ những nhạc cụ như tây ban cầm, dương cầm, vĩ cầm, trống... tuy nhiên, đa số phần hoà âm khá đơn giản do chính anh thực hiện.

    Nhưng nghe "thấm" nhiều. Nghe thấm thía nhiều lắm!

    Giọng hát của Phan Văn Hưng không phải là để hát tình ca. Giọng hát của anh, không thể điêu luyện như Anh Ngọc, không ấm áp và không ngọt ngào đằm thấm như giọng ca Duy Trác và cũng chẳng có cái ngang tàng nhưng ru hồn người của tiếng ca Tuấn Ngọc. Hưng cũng không có giọng hát thính phòng opéra của Vũ Anh, của Đoàn Chính.

    Nhưng nghe Hưng hát, hát một cách mộc mạc và chân phương, người nghe sẽ thấy tiếng nói xoáy sâu vút lên từ đáy lòng, thấy những rung động của con tim người nghệ sĩ.

    Có những lúc, tiếng nói người nhạc sĩ là những lời ao ước được góp phần vào công cuộc tranh đấu, giải phóng dân tộc. Không phải là những lời hô hào, những lời ồn ào...nhưng trống rỗng. Đây là tiếng nói từ tim, từ xương máu. Đây như là những lời chúc tụng, những câu nguyện cầu, đã và đang dìu những cánh buồm rách nát trong cơn bão tố đến bờ bến của Tình Thương. Bởi vì, từ mỗi một dập vùi sẽ nẩy ra một niềm tin. Bởi vì, từ mỗi một gục ngã sẽ đem lại một chí quật cường. Để làm gì? Để cho bạo lực, để cho dối trá ngày hôm nay được thay thế bởi lòng bao dung và chân lý của Tình Người:

    "Buồm của anh rách nát

    Bởi bao đợt sóng nhồi

    Thì xin anh hãy vá


    Bằng những miếng da tôi

    Ngòi của anh đã gẫy

    Hãy mài trên xương tôi

    Chấm máu tôi mà viết

    Về lương tâm con người

    Dù đêm trăng không lên


    Nhưng mắt trẻ là sao

    Trái tim tôi là bến

    Xin anh cứ bơi vào..."


    (Trái Tim Tôi Là Bến/thơ Bắc Phong-nhạc Phan Văn Hưng)

    Một thi sĩ được Phan Văn Hưng phổ thơ thành nhạc nhiều nhất là Nam Dao. Không thể tránh được, vì Nam Dao cũng là người bạn đường, đã chia sẻ cùng Phan Văn Hưng hàng chục năm đời. Nhưng, hình như cũng chính vì vậy, anh đã "cảm" được thơ Nam Dao, "cảm" hơn thơ của tất cả mọi người khác. Những khúc hát anh viết vào thơ Nam Dao, thật phải nói là đến mức độ tài tình.

    Một bài ca, có thể làm người nghe rung động đến tuyệt đỉnh, và dễ "thấm", dễ phải rưng rưng nước mắt là bài "Nếu Em Nghe Bài Hát Này". Bản nhạc chắc phải là hòa hợp tuyệt diệu nhất của đôi uyên ương tài hoa Nam Dao và Phan Văn Hưng. Thoáng nghe cung điệu như là một bản tình ca. Nhưng không phải vậy! Không phải như vậy đâu! Đây không là một bản tình ca lứa đôi mượt mà. Đây là bài thương ca rên xiết, hấp hối từ trong ngục tù đen tối, gửi ra ngoài về cho người vợ, cho đứa con... Đây là lời vĩnh biệt của một người đã đang chết thảm khốc trong ngục tù. Bài hát để gửi đến những người tuy ở ngoài tù, nhưng cũng đau khổ trần ai. Vì người còn lại sẽ không bao giờ gặp lại được người tình, sẽ không nhìn thấy được người chồng yêu dấu. Vì người còn sống sót sẽ không thể gặp, dù chỉ một lần, để được biết mặt ai là người cha kính yêu của mình:

    "Nếu em nghe qua bài hát này

    Thì anh đã khuất theo rặng đường mây

    Nếu em nghe những lời giã từ

    Thì xin đôi mắt ngưng đọng mùa Thu

    Tình anh ao ước trao muôn ngàn gió


    Gởi bao trăn trối trong cơn mù xa

    Giờ anh thoi thóp giữa gian ngục tối

    Nào được thoát ly tâm hồn bay xa...

    Nếu con nghe qua bài hát này

    Thì con sẽ biết cha mình là ai

    Nếu có đi qua vùng nước lầy


    Mộ cha nằm đó trái tim nằm đây"


    (Nếu Em Nghe Bài Hát Này / Thơ Nam Dao - nhạc Phan Văn Hưng)

    Năm 1997, Phan Văn Hưng và Nam Dao, qua tập nhạc "Trái Tim Tôi Là Bến" được Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật Quốc Khánh Việt Nam do Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam trao tặng.

    Similar Threads
  • #2

    BI PHÃN CA


    Khuôn mặt anh chứa chan cảm xúc, rập rờn âm điệu. Thính giác khán giả căng, dãn, đàn hồi, nhảy múa theo hấp lực của từng làn điệu, lời ca. Những ca từ hiện thực, tả chân cuộc sống con người đang ở đáy địa ngục. Những truyện ca có thật tạo năng lực cấu nhoi nhói tim đỏ người nghe. Nếu mỗi người là một cá nhân khác biệt có nhiều điểm khó hoà hợp, thì phút giây hiện tại này, mức đồng cảm giữa người và người ở khán giả đang lên cao nhất. Mọi vật rơi vào thể tĩnh của bất động ngoại trừ anh. Những đôi mắt không kịp nháy, tụ hội về vóc hình người đàn ông có dáng dấp thư sinh. Thế rồi bất chợt họ hiểu ra bài hát đã đến hồi dứt. Tiếng chuyển động rào rào của những bàn tay vỗ nhất loạt oà lên bao vây lấy hội trường, phủ lấp hình hài nhỏ bé của người đàn ông đang ngồi ôm đàn ấy.

    Anh cúi chào khán giả với một phong thái nho nhã, điềm đạm. Anh, Phan Văn Hưng, đến từ Úc, đem tiếng hát, dòng nhạc trải dài khắp vòng quay trái đất. Nơi nào mời anh, anh đến, nơi nào đón anh, anh lại. Anh giản dị, chân tình, nhẹ nhàng, thư thái, nhưng khi cây đàn được đặt vào vòng tay bồng bế, nó biến anh thành một con người khác.

    Nhắc đến Phan Văn Hưng người ta không nhắc đến một giọng hát điêu luyện, trầm ấm hay đằm thắm mà người ta tưởng tượng ra được một giọng hát thấm đẫm chân thật, xoáy sâu chọc thủng bức tường trái tim con người. Chúng ta cảm được cái hay của nó nhưng không phân tích được tại sao. Bởi anh hát từ tim nên tim ta và tim người giao cảm. Giọng anh không thể lẫn với bất cứ giọng hát nào khác vì anh có một phong cách rất riêng trong lối nhả chữ. Kỹ thuật luyến láy chữ của anh phải nói là “được tinh luyện và rất khác biệt’. Một phong cách rất “Phan Văn Hưng”. Vả lại khi anh hay bất cứ ai hát loại nhạc của anh sáng tác, người ấy không cần một giọng hát thiên phú thật hay mà chỉ cần hát thật có hồn, hát bằng tất cả trái tim của người ấy.

    Phan văn Hưng không những mang giọng hát của mình đến với khán thính giả khắp nơi ở hải ngoại mà anh còn đem dòng nhạc rất đặc biệt của mình gieo rải bất cứ nơi nào người nghe muốn nghe. Nhạc của anh phần lớn là phổ thơ nhưng anh nổi tiếng đầu tiên ở những ca khúc chính anh viết như “Bạn bè của tôi”, sau này là “Bài ca tuổi trẻ”, “Dìu nhau”, “Nhớ những dòng sông”..... Thơ anh phổ nhiều nhất của Nam Dao, “người bạn đời” của anh từ những ngày hoạt động trong các phong trào sinh viên ở Paris. Người bạn đời sát cánh bên anh còn chung lưng cùng anh trong việc sáng tác. Có khi anh phổ thơ Nam Dao, có khi anh viết dựa trên lời thơ ND, rồi từ đó viết cả ca từ và nhạc. Có lúc anh viết cả hai nhưng ND sửa lời và góp ý. Cũng có một vài bài ND viết cả nhạc lẫn lời, anh sửa nhạc.

    Ngoài ra anh phổ thơ của nhiều thi sĩ khác trong cũng như ngoài nước. Mối giao cảm giữa thi sĩ và nhạc sĩ trong một bài thơ phổ nhạc như một hôn ước nhịp nhàng, du dương và hoà điệu. Nhưng không phải cuộc hôn phối nào cũng đẹp đẽ và hạnh phúc. Có những bài thơ hay bị giết chết thê thảm khi được phổ nhạc nhưng cũng có những bài thơ khi được phổ nhạc bỗng trở thành vang danh và bất tử. Theo ý riêng của tôi những bài thơ được anh Hưng phổ nhạc là những đứa con may mắn được đặc biệt ưu ái chạm vào van tim của những người nghe biết mở lòng.

    Phan Văn Hưng biết chọn cho mình một phong cách riêng trong âm sắc cũng như lối soạn nhạc và chơi đàn của mình. Âm Sắc là thứ màu sắc của âm thanh. Màu Sắc đóng vai trò tối quan trọng trong một tác phẩm nghệ thuật của người hoạ sĩ thì đối với nhạc sĩ, Âm Sắc cũng đóng vai trò tương tự. Nó là chữ ký, ngôn ngữ, âm thanh, tính khác biệt, nét độc đáo, tất cả đúc kết thành phong cách của một nhạc sĩ.

    Anh kể cho tôi nghe một thói quen đặc thù khác người. Người chơi guitar classic thường bằng bốn ngón trong khi anh chơi chỉ bằng hai ngón, ngón trỏ và ngón cái.

    Thế hệ ngày mới lớn của anh là những thập niên 60, 70, được nuôi dưỡng bằng dòng nhạc của The Beatles, Simon & Garfunkel, Peter,Paul & Mary và Cat Stevens nên một điều không thể phủ nhận là nhạc anh có mang âm hưởng nhạc Mỹ và dân ca Mỹ(Folk Music).

    Sau này khi ra ngoại quốc anh lại chỉ chơi nhạc Việt Nam, tuy nhiên, vì sống trong một môi trường đa dạng và phong phú ở hải ngoại nên anh biết cách pha chế rồi tổng hợp nên một dòng nhạc riêng cho mình bằng một tinh thần bạo dạn khai phá của người làm nhạc. Tỷ như trong bài “Những đứa bé” có nhiều gam chõi, lạ, và mang âm hưởng jazz và blues.

    Những đứa bé không chiếu chăn/ Nằm lây lất giữa hè phố
    Nằm chui rúc nơi những xó tối tăm, rác rưởi.
    Những đứa bé trong quán bia/ Em đón khách nơi phồn hoa
    .................................................. .........
    Những đứa bé không cánh tay/ Những đôi mắt không còn thấy
    Đời em giam trong ngõ tối/ Hắt hiu, lụt lội
    Những đứa bé đi bán rong/ Đạp xe mướn hay lượm rác
    .................................................. ...........
    Một ngày về trên quê hương
    Tôi muốn nấc lên đau thương
    Tôi muốn khóc cho tủi hờn
    Tôi muốn ôm em vào lòng

    (Những đứa bẻ/Phan văn Hưng-Nam Dao)

    Nói đến PVH người ta nhớ ngay đến bài hát “Bạn bè của tôi”. “Bạn bè của Tôi” không những là nhân chứng của một thế hệ, hai thế hệ mà có lẽ của các thế hệ tiếp nối. Nó không đơn thuần là một bài hát mà là cuốn nhật ký ghi lại sự thật xảy ra ở Việt Nam, không chỉ của một cá nhân mà cả một dân tộc. Nó gắn chặt tên tuổi anh vào nó hay nói ngược lại nó đã khai sáng một PVH, một dòng nhạc mới ở hải ngoại.

    Bạn bè của tôi,
    Từng chiếc lá trong trận bão dân tộc
    Tuổi trẻ đôi mươi bị lãng phí như cỏ rác thôi
    .................................................. .....................
    Bạn bè của tôi
    đi lây lất trong cuộc sống vô vọng
    ................................................
    Ai thấu cho oan khiên này
    Người có lắng nghe....
    Tiếng ai than dài
    (Bạn bè của tôi/Phan Văn Hưng)

    Trong một bài phỏng vấn anh Hưng tâm sự:

    Tôi sẽ hát những bài hát đầu tay của Nam Dao và tôi, những bài hát mộc mạc không tham vọng, nhưng cũng là những bài hát đã đánh dấu cuộc đời chúng tôi cũng như của các bạn của tôi. Thời đó chúng tôi đã khóc cho quê hương, cho đồng bào mình, thì ngày hôm nay tiếng khóc đó vẫn chưa dứt. Ngày hôm nay chúng tôi vẫn viết ca khúc, có thể kỹ thuật làm nhạc đã già dặn hơn, đề tài cũng có thể đã thay đổi theo những biến đổi của đất nước, nhưng trong tiếng uất nghẹn chưa nguôi đó, tôi vẫn cảm thấy lòng mình rực lửa vì con đường dân tộc mình đi nhất định sẽ có ngày rực sáng.”

    Anh khóc cho quê hương trong ca khúc “Hai mươi năm

    “Hai mươi năm, nhiều kẻ gian trong làng xóm
    Người hiền khô mang gông cùm
    Kẻ mộng du lên bạo chúa
    Người ngồi khóc trên sân chùa
    .................................................. ...................
    Hai mươi năm, những nụ hoa cho người hái
    Những thể xác cho ai đầy
    Một thầy cô trong nhà chứa
    Gặp trò xưa bỗng khóc òa”

    (Hai mươi năm/ Phan Văn Hưng-Nam Dao)

    Anh cũng đã khóc cho quê hương khi khúc đầu, khúc trán, khúc tai, hình chữ S bị xẻo ngang ngày đó, bây giờ lần lượt tới Trường Sa, Hoàng Sa:

    “PVH: Làm sao mà không nói cho được về chuyện mất Ải Nam Quan sau hàng chục thế kỷ tổ tiên ta đã giữ vững bờ cõi ở phương Bắc? Đau mất đất chỉ là một, nhưng đau và tủi nhục đối với tổ tiên là mười. Đã hát về đất nước VN ngày hôm nay thì đương nhiên ta phải hát về Nam Quan chứ.”

    Ải Nam Quan ơi ta đã mất tên em/ Như một phần hồn tự nghìn năm.
    Lòng ta đau như ai đem dao/ Xé nát da non cứa trên thịt gan.
    .................................................. ................
    Ai đem hình hài/ Giang sơn đọa đày/ Cho thân lìa cành/ Cho cây lìa đất
    Cho ta lìa cội/ Như sông bỏ nguồn/ Ta nghe tủi nhục/ Dâng vào lòng”
    (Vọng Nam Quan/ Phan Văn Hưng-Nam Dao)

    Ba mươi ba năm lưu vong, dòng nhạc Phan Văn Hưng để lại cho kho tàng âm nhạc hải ngoại một dòng nhạc tranh vẽ những thao thức, khắc khoải tâm tư: “Trái tim tôi là bến” phổ thơ Bắc Phong, “Giết một ước mơ” phổ thơ Chế Lan Viên, “Nơi phía bình nguyên” Ý văn Dương Thu Hương, “Kiểm tra” phổ thơ Hà Sĩ Phu, “Khát” ý thơ Thanh Thảo, “Ai trở về xứ Việt” thơ Minh Đức Hoài Trinh. Dòng nhạc truyện kể những mảnh đời bi thảm của “Bài ca cho bé Thảo” phổ thơ Nam Dao, “Em bé và viên sỏi” phổ thơ Trần Trung Đạo, “Em bé lên 6 tuổi” phổ thơ Hoàng Cầm, “Bậu”, “Con bé nhà quê” phổ thơ Thái Sơn, “Tiễn em rời K18”.... và còn nhiều nữa. Anh bắt đầu sáng tác từ năm 1970 cho tới nay, 38 năm anh có tất cả là 121 ca khúc. Bấy nhiêu tâm huyết làm nên dòng nhạc Phan Văn Hưng.

    Có người gọi dòng nhạc này là nhạc Tranh Đấu. Nghe kỹ lại những CD anh đã phát hành, từ “Sinh ra là người Việt Nam”, “Khát”, “Có phải em chờ mùa Xuân”, “Hai mươi năm”, cho đến “Nơi phía bình nguyên”....người ta không thấy một dấu hiệu nào anh gào thét tranh đấu, đòi cái này, cái nọ. Anh không kêu gọi, ủng hộ, hay tuyên dương cho một chủ nghĩa nào. Người bảo nhạc anh là Hưng Ca. Tôi không thấy anh có ý phục quốc, xây dựng một chính thể khác, đòi làm mới hay ẩn dấu trong dòng nhạc một tư tưởng vùng dậy nào cả. Nhưng có lẽ tác động tranh đấu và phục hưng của nó nảy sinh từ trong tâm thức thính giả sau khi nghe các bài nhạc vạch rõ những áp bức, bất công, lầm than, nên người ta đặt tên cho dòng nhạc này như thế chăng? Kẻ góp ý nhạc anh là Dân Ca. Tuy những dòng nhạc anh viết hầu hết cho người dân lầm than nhưng không thể ghép nó vào dòng nhạc dân gian.

    Theo giáo sư Trần Quang Hải, Dân Ca nghĩa là:

    “Định nghĩa danh từ dân ca, theo tôi, là những bài ca không biết ai là tác giả, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, dính liền với đời sống hàng ngày của người dân quê, từ bài hát ru con, sang các bài hát trẻ em lúc vui chơi, đến các loại hát lúc làm việc, hát đối đáp lúc lễ hội thường niên.

    Dân ca lại mang một màu sắc địa phương đặc biệt, tùy theo phong tục, ngôn ngữ, giọng nói, và âm nhạc tính từng vùng mà khác đi đôi chút. Nhưng nhìn chung, vẫn là bài hát thoát thai từ lòng dân quê với tính chất mộc mạc, giản dị của nó.
    (Trích Dân Ca Việt Nam-Giáo sư Trần Quang Hải)

    Nét bi ca và phẫn uất rực lên trong dòng nhạc. Riêng tôi, tôi nghĩ chúng ta nên gọi dòng nhạc này là “Bi phẫn ca” thì đúng hơn. Chữ “Bi” ở đây có thể hiểu là buồn vì cái buồn của người khác và khổ vì cái khổ của người khác.

    Bàng bạc trong những ca khúc của anh điều nguời ta phát hiện nhiều nhất, rõ nhất là tính nhân bản của con người. Nghệ sĩ thì nhạy cảm. Họ nhìn thấy trước cái thiên hạ thấy, cảm trước cái thiên hạ cảm. Nên anh cảm và thấy cái khổ đau, thống thiết, bất công, tàn nhẫn, ngược đãi, nghèo đói, bạo lực, lầm than, áp bức, tù tội... nhan nhản trên đất nước Việt Nam từ thời điểm 1975 cho đến nay. Sự nhạy cảm cấu mềm sự tích cực, lúc ấy người ta chỉ thấy toàn tiêu cực. Khi nước mắt người nghệ sĩ nhỏ xuống cung bậc sẽ lên ngôi. Dòng nhạc hát cho người dân, hát cho đồng bào tôi ra đời. Hầu hết các ca khúc của anh viết cho quần chúng, đối tượng của anh phần lớn là trẻ thơ, người nghèo, anh bạn tù, những thân phận bị vùi dập, những cay đắng, thống khổ triền miên mà những kẻ yếu không thể nói hay không có cơ hội nói lên được. Anh không bao giờ nghĩ rằng chính mình mang sứ mạng của một người đánh chuông, nhưng dòng nhạc thay anh gióng tiếng chuông tỉnh thức tới mọi nơi, mọi nhà, viết dùm, nói dùm nỗi uất ức của những người không nói được. Những nét chấm phá bi thảm cuộc sống ấy pha màu cho những bức tranh màu xám, đầy gai, bấu rách màng tim người nghe. Dòng nhạc vô tình chuyên chở được nhu cầu được nói của kẻ yếu trong cái hữu tình của người soạn nên ca khúc.

    Tất cả sự việc vô tình và hữu tình ấy tình cờ kết duyên tao ngộ làm nên dòng nhạc “Bi Phẫn Ca” của Phan văn Hưng.


    Trịnh Thanh Thủy

    Comment

    • #3

      Sau đây mời các bạn thưởng thức những nhạc phẩm của anh..

      EM BÉ & VIÊN SỎI - Phan Văn Hưng


      Comment

      • #4

        BẠN BÈ CỦA TÔI- Phan Văn Hưng


        Comment

        • #5

          LƯƠNG TÂM CON NGƯỜI - Phan Văn Hưng


          Comment

          • #6

            CHÚNG ĐI BUÔN-Phan Văn Hưng


            Comment

            • #7

              Bài Ca Tuổi Trẻ - Phan Văn Hưng







              Đã chỉnh sửa bởi anh-tran; 15-03-2011, 03:19 PM.

              Comment

              • #8

                Cảm nghĩ về Buổi ca nhạc Phan Văn Hưng ở Melbourne



                Thật chẳng uổng công chúng tôi chút nào đã lặn lội đường xa, lái xe thâu đêm để đi nghe nhạc sĩ Phan Văn Hưng hát ở Melbourne ngày thứ Bảy 11 tháng 12 vừa rồi.

                Trong hội trường ấm cúng ở trường Đại Học Melbourne, sau nghi thức chào cờ, ông Nguyễn Thế Phong - Chủ Tịch CĐNVTD LB Úc Châu và cũng là đại diện cho ban tổ chức gây quỹ cho Đền Thờ Quốc Tổ giới thiệu nhạc sĩ Phan Văn Hưng và mục đích của Buổi ca nhạc đặc biệt nầy. Nhạc sĩ Phan Văn Hưng bước ra sân khấu, anh cúi người chào khán giả và cầm đàn lên hát. Từng lời ca, từng tiếng nhạc trong bản nhạc anh hát như lời giới thiệu cho buổi ca nhạc hôm đó. Hát xong bản nhạc đầu anh mới nói những lời tâm tình với khán giả. Rất thân mật, đơn giản mà sâu sắc. Một giọng hát trầm ấm, với phong cách điềm đạm, nhã nhặn và giản dị của anh càng làm cho tôi mến mộ anh hơn.

                Những bài hát kế tiếp đều được anh ân cần giới thiệu nguồn gốc của mỗi bài. Bài nào hầu như cũng từ những hoàn cảnh, những câu chuyện thương tâm làm anh cảm kích mà dệt thành những lời ca như: Thằng bé tát dầu, Em bé và viên sỏi, Bài ca cho bé Thảo, v.v.. Ngoài những bài hay rất cảm động đó, còn những bài ca bất khuất, oai hùng như Việt Nam Vinh Quang, Trả lại tôi, Đừng sợ nửa, .. Anh không viết những bài tình ca lãng mạn mà chỉ có những ca khúc phơi bầy những bất công, những khao khát tự do, những mơ ước rất đơn giản của người Việt chúng ta mà anh đã góp nhặt lại để diễn tả qua lời nhạc. Khán giả đã thích thú thưởng thức từng lời ca của anh với những tràng pháo tay vang dội cả hội trường.

                Đến lúc nầy tôi nhận thấy anh không phải là người ít nói như tôi đã nghe và như tôi tưởng. Có lẽ anh ít nói những gì về anh nhưng anh chỉ nói thay và chỉ nói nhiều cho những người dân bất hạnh sống một cuộc sống lầm than trong một đất nước không có Tự Do và bất công. Anh viết lên và cất cao tiếng nói của anh qua những bản nhạc và giọng hát mong có một ngày người dân có được ấm no hạnh phúc.

                Anh ngồi đàn hát bốn năm bản rồi anh đổi qua đứng đàn để hát, được vài bản rồi lại đổi qua ngồi hát. Anh thay đổi vị trí vài lần vậy anh đành thú thật với khán giả không phải anh điệu bộ gì mà là vì già rồi nên đứng lâu bị mỏi nên xin phép khán giả để đổi qua ngồi. Trông thật tội nghiệp cho một người có tấm lòng son sắt với đồng bào và quê hương.

                Trước khi nghỉ giải lao, ông Nguyễn Thế Phong cho hay là những dĩa nhạc của anh không có bán ở các tiệm nhạc mà chỉ có bán trong buổi trình diễn này và đặc biệt số tiền bán được là để đóng góp cho Đền Thờ Quốc Tổ ở Melbourne. Liền sau đó những dĩa bán gần hết trong giờ nghỉ giải lao.

                Trở lại chương trình phần hai, có phần đóng góp của hai em Nhân Mỹ và Nhân Ái, và anh Anh Tuấn. Ai Trở Về Xứ Việt được cất lên, thật là xúc động và tôi nghĩ là không riêng gì tôi mà cả hội trường đều cùng say đắm theo lời nhạc và giọng hát của anh. Dường như giọng của anh khàn và yếu đi hơn, tuy nhiên tôi cảm thấy nỗi xúc động của tôi lại càng cao hơn với tiếng đàn và tiếng hát của chính tác giả trước mắt tôi.

                Cho đến giờ phải trả hall mà anh vẫn muốn hát, hát mãi. Bản cuối nầy rồi đến bản cuối khác. Theo lời yêu cầu của khán giả đã mời chị Nam Dao để được diện kiến và chia sẻ niềm vui, chị là một người bạn cùng chí hướng, người bạn đời, người tình chẳng may mắn được anh tỏ một lời tình qua những bản nhạc của anh vì như anh nói lúc bấy giờ anh đã dành hết lời nhạc của anh cho vận mệnh đất nước. Anh tiếp tục chia sẻ, tâm tình của anh về hiện tình của đất nước và ước nguyện một ngày Vinh Quang cho Việt Nam, một ngày không còn Cộng sản và đây cũng bản nhạc cuối cùng là và mọi người cùng đứng lên hát.

                Trong buổi ca nhạc, thỉnh thoảng tôi lén nhìn hai đứa con của tôi để xem nó có vẻ gì chán không. Tôi biết rằng chúng không thưởng thức như tôi, nhưng âm thanh của tiếng đàn guitar và tiếng hát trầm ấm và hùng hồn của anh, với những tràng vỗ tay sau mỗi bản nhạc ít nhiều cũng thu hút và làm chúng vui theo. Trên đường về tôi hỏi con tôi xem nó có thích không thì chúng đều trả lời Yes và thêm lời giải thích thêm của chúng tôi, con tôi biết được ít nhiều về cái khổ, cái đau của dân Việt, nhất là những ngày sau 30 tháng 4 năm ấy.

                Úc Châu, Tháng 12 năm 2010

                (LyHương )


                T_Q
















                Comment

                • #9


                  Bài Thơ Ngỗ Nghịch
                  Sáng tác: Phan Văn Hưng
                  Thơ: Bùi Minh Quốc

                  Comment

                  • #10

                    Sau này khi ra ngoại quốc anh lại chỉ chơi nhạc Việt Nam, tuy nhiên, vì sống trong một môi trường đa dạng và phong phú ở hải ngoại nên anh biết cách pha chế rồi tổng hợp nên một dòng nhạc riêng cho mình bằng một tinh thần bạo dạn khai phá của người làm nhạc. Tỷ như trong bài “Những đứa bé” có nhiều gam chõi, lạ, và mang âm hưởng jazz và blues.

                    Những đứa bé không chiếu chăn/ Nằm lây lất giữa hè phố
                    Nằm chui rúc nơi những xó tối tăm, rác rưởi.
                    Những đứa bé trong quán bia/ Em đón khách nơi phồn hoa
                    .................................................. .........
                    Những đứa bé không cánh tay/ Những đôi mắt không còn thấy
                    Đời em giam trong ngõ tối/ Hắt hiu, lụt lội
                    Những đứa bé đi bán rong/ Đạp xe mướn hay lượm rác
                    .................................................. ...........
                    Một ngày về trên quê hương
                    Tôi muốn nấc lên đau thương
                    Tôi muốn khóc cho tủi hờn
                    Tôi muốn ôm em vào lòng

                    (Những đứa bẻ/Phan văn Hưng-Nam Dao)


                    Comment

                    Working...
                    X
                    Scroll To Top Scroll To Center Scroll To Bottom