Sinh ra từ cái làng nhỏ dưới chân núi Quỳ thuộc huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An, Thạch Quỳ là một trong những tên tuổi của thế hệ những cây bút thời chiến tranh chống Mỹ. Màu sắc đặc biệt của cái Tôi riêng nơi những quan niệm, những sáng tác của Thạch Quỳ, từng gây được chú ý cho bạn bè đồng nghiệp cũng như độc giả.
Tên thật của Thạch Quỳ là Vương Đình Huấn. Anh sinh trưởng trong một gia đình khá đặc biệt. Theo gia phả, gốc gác tổ tiên anh là một ông quan Thượng thư Bộ Hình triều Minh, bị đuổi đánh phải rời Bắc Kinh dong buồm đến Hội An sống cuộc sống lưu vong. Ông tổ của dòng họ là một đứa trẻ được một người lính quân của Nguyễn Ánh nhặt đưa về xứ Nghệ cho làm con nuôi.
Ông nội Thạch Quỳ là người thông tuệ đặc biệt. Chính ông là người đã đem đến cho anh nguồn tri thức thâm thuý từ văn học cổ điển. Riêng ngọn gió mát lành của văn học dân gian thì Thạch Quỳ được hưởng từ bà nội và mẹ. Mẹ anh là cả một kho tàng văn học truyền miệng. Bà là con gái một nhà nho hào hoa phong nhã, học vấn cao nhất vùng.
Thạch Quỳ có nguồn gốc tổ tiên là người Hoa. Cái gốc tự nhiên này cũng là một tai họa vô hình ập xuống số phận của Thạch Quỳ, nhất là khi bài thơ Nói với con ra đời vào thời điểm 1979-1980. Riêng cái lý lịch gốc Hoa ( dù mấy đời và dòng máu Việt nhiều hơn) đã là vật cản vô biên, dù Thạch Quỳ có tài hoa đến mấy cũng không thể vượt qua nổi. Cho nên Thạch Quỳ luôn gặp khó khăn ở mọi nơi, mọi lúc là điều dễ hiểu.
Trí tuệ mẫn tiệp nơi những người đàn ông và tâm hồn phong phú nơi những người đàn bà của dòng họ, hay ngọn gió núi Quỳ và hạt cát làng Đông Bích, đã hun đúc nên con người nhà thơ có cái Tôi như đá rắn – Thạch Quỳ.
Mới học lớp 7 Thạch Quỳ đã viết truyện ngắn, làm thơ. Anh mơ ước thi vào trường đại học Tổng hợp để trở thành nhà nghiên cứu nhưng rồi lớn lên lại vào học ở một trường đại học sư phạm. Yêu văn học nhưng anh chọn lựa làm một thầy giáo dạy toán. Chàng học trò Thạch Quỳ ngày ấy có ý nghĩ độc đáo: văn thì tự đọc cũng có thể hiểu được nên có thể tự học, riêng toán không có thầy thì chịu, nên cần phải được học.
Thạch Quỳ kể ngày còn là sinh viên khoá 2 của trường Đại học Sư phạm Vinh, anh thường phải thức trong bóng tối để viết ra những suy nghĩ, những bài thơ bằng chiếc bút chì nhỏ, sáng ra mới mò mẫm chép lại.
Ngày ấy, để rèn luyện nếp sống tập thể, nhà trường bắt buộc tất cả các sinh viên phải nhất loạt cùng dậy lúc 5h và cùng ngủ lúc 11h, nếu ai không thực hiện được điều đó thì coi như vi phạm kỷ luật và bị khiển trách. Là một chàng trai lãng mạn, thông minh, đầy tài năng, chỉ thích đắm mình vào những suy tưởng, những giấc mơ của riêng mình, “phớt Ăng-lê” trước mọi chuyện, Thạch Quỳ trở thành một sinh viên “cá biệt”: thiếu ý thức kỷ luật, trốn thể dục tập thể buổi sáng, lên lớp muộn… và sớm trở thành người “có vấn đề” trong tác phong, lối sống.
Năm 1962, tốt nghiệp đại học, anh về một huyện nghèo dạy học và bắt đầu số phận không bình lặng của một kẻ lập thân mà không biết “tối hạ thị văn chương”. Là một giáo viên dạy giỏi nổi tiếng, được phân công làm chủ nhiệm, nhưng anh không phải là đoàn viên. Cách lên lớp, cách soạn giáo án, nhất là lối sống “tập thể” mang đầy tính hình thức đã làm Thạch Quỳ cảm thấy nhàm chán và bị ức chế.
Là người sâu sắc, nhạy cảm với các vấn đề của đời sống, lại có khiếu quan sát tinh tế, luôn muốn được chia sẻ, Thạch Quỳ đã hơn một lần tự làm khó cho bản thân bằng chính các phát hiện của mình. Ngày dạy học ở miền núi, có một gia đình học sinh của Thạch Quỳ xin ra khỏi Hợp tác. Ngày ấy ra khỏi Hợp tác xã là một chuyện tày trời, lý lịch sẽ có một vết đen và tương lai của cậu học sinh đó coi như mù mịt. Là giáo viên chủ nhiệm, anh có trách nhiệm phải tìm hiểu sự thật. Anh đến nhà và hỏi ông chủ của gia đình, một người Thổ: “Cụ nghĩ gì mà lại xin ra khỏi hợp tác xã?”, người đàn ông trả lời: “Ta như con gà! ta cũng muốn ở trong chuồng lắm chớ! Nhưng trong chuồng có con cáo, có ai bắt cáo cho mô mồ” (tiếng địa phương “mô mồ” nghĩa là “đâu”). Thấy ngộ nghĩnh, Thạch Quỳ đem kể cho bạn bè nghe và thế là anh bị coi như đã tuyên truyền, ủng hộ cho một thứ tư tưởng tiêu cực.
Một lần khác, khi về một huyện nhỏ, Thạch Quỳ thấy người ta phá đi cả một làng trù phú để đưa dân lên núi, cây nhãn cổ thụ của làng đội một mâm hoa vàng rực rỡ, bị máy húc đẩy đi hàng trăm mét nhưng không đổ, cứ đứng trơ mà chết, anh đã đem kể với mọi người và gọi đó là một “cây nhãn Từ Hải”, tình thế lại giống với câu chuyện trên.
Chính cái Tôi đời thường xù xì, không được vừa vặn với khuôn thước cho lắm đã làm nhiều người biết đến Thạch Quỳ từ rất sớm. Như người phải mặc chiếc áo hẹp với khổ của mình, anh cựa quậy, chật vật bức bối trước cuộc sống.
Một cái Tôi như đá rắn
Nhà thơ Thạch Quỳ, người đứng bên trái.
“Tôi” là một hình tượng bao trùm và cũng là ấn tượng mạnh mẽ nhất trong sáng tác của Thạch Quỳ. Đây không chỉ là cái tôi trữ tình toát lên đằng sau những sáng tạo nghệ thuật. Đây là cái tôi được thể hiện như một đối tượng trực tiếp, xuyên suốt của thơ. Dường như một “đường thẳng hình học” đã được thiết lập, nối từ nhà thơ đến độc giả.
“Tôi”mạnh mẽ, tỉnh táo, tự tin trực diện với người đọc:
“Tôi một nửa nam-mô .Một nửa a-men
Một phía ngóng trời, một phần ngóng đất
Thân thể tôi như chiếc cột ăng-ten
Vừa phát sóng, vừa tự mình rỉ rét” (Tự khúc mùa xuân);
“Không bé nhỏ tầm thường, không vĩ đại
Có thể vứt đi trong xó tối u buồn
Có thể đứng trên đôi chân vững chãi
Tôi một mình, tôi lớp lớp triều dâng
…Tôi muối mặn với cuộc đời dân dã
Tôi áo cơm no đói với ngày thường” (Tôi).
“Tôi”thẳng thắn, lạnh lùng: “Từng đối mặt với bạo tàn, chết chóc / máu tuôn trào, sẹo đóng tự trong hồn / Tôi mệt mỏi đến không còn sợ chết / nhưng vẫn lòng ham sống thật tôi hơn” (Tôi); “Chiêm bao thấy mộ mình không mọc cỏ / riêng điều này là nỗi sợ của tôi” (Bên lề cỏ Uýtman); “Cái mất đi hú gọi không về / cái còn lại trơ mòn sỏi đá / nửa phần đời mắt chong đèn xó tối / nửa phần đời khép mắt ngóng ngày lên” (Nửa phần đời);
“Tôi”một sự nếm trải đến tận cùng thân phận, sắc sảo và chát chúa trong những cảm nhận về đời sống: “Cái nghèo / Mày núp trong vầng trán mẹ răn reo / Mày ẩn dưới gót chân em nứt nẻ / Mày luồn lọt qua trăm ngàn mối chỉ / để nằm trong mảnh vá áo con ta / mày sinh ra khi chưa sinh ta” (Cái nghèo).
“Tôi”trong thất vọng kiếm tìm vẫn căng tràn nhiệt huyết: “Cuối cùng vẫn một mình em / Nhưng anh đã khô kiệt cùng đá sỏi / Nhưng anh đã kêu kiệt cùng tiếng gọi / Nhưng anh đã mơ cạn kiệt giấc mơ / Cuối cùng vẫn một mình em / Nhưng em ở nơi đâu ? em ở” (Cuối cùng vẫn một mình em).
“Tôi”khát khao muốn được dâng hiến, được thấu thị: “Và nếu cần tôi sẽ hoá thân tôi / Thành thuốc đắng, thành chanh chua, quả ngọt / Thành chi nữa… trời ơi tôi muốn biết / Phút lặng im bạn đã muốn mong gì…”
Một cái Tôi rắn, lạnh, đầy ứ khát vọng… một cái Tôi không nguôi yên, không cách gì xoa dịu: “Tôi gọi hồn về trong những câu thơ / Giam trong ngục tối con chữ / Hồn ơi, hồn hãy ở tù / Để xác tôi yên giấc ngủ”.
Thạch Quỳ kể những ngày đầu làm thơ, anh tự đề ra cho mình một bảng Cấm: Cấm viết chữ người khác đã viết; Cấm viết ý nghĩ người khác đã nghĩ; Cấm viết mông lung không dính líu đến sự thật; Cấm viết sự thật trần trụi không cảm xúc, thiếu thẩm mỹ.
Dưới ngòi bút của Thạch Quỳ các khái niệm cũng trở thành vật sống: “Đã thấy sắc hồng cười trong gạch vụn”; “Cái nghèo đội nón cời và bước đi từng bước / cười sưa răng trên miệng ấm sứt vòi”… và những câu thơ toát lên thứ âm nhạc nghe thật lạ: “Thương nhớ mười năm loang như khói / có thể thành mây, có thể mất hút đi trong núi / nhớ chi mà lặng bên bờ / con chèo bẻo về bay trong mưa và lúc đó đầu tôi ngoảnh lại / hoa dứa dại bên bờ đang lặng lẽ bay…” (Hoa Dứa); “Con người tự biết mình / trong trái tim cá thể / chạy trốn sự cô lẻ / bằng tình yêu hai người / hạnh phúc đơn giản vậy? / Hạnh phúc thì thế thôi !” (Không đề)…
Cá tính hay tài năng?… chỉ biết là với sự thể hiện này, Thạch Quỳ đã có được dấu ấn của cái Tôi riêng. Trong đời sống xã hội hiện đại, một xã hội nghiền nát cái Tôi cá thể trong tính dây chuyền, tính công nghệ, trong sự giao lưu, hoà nhập của nó, biểu hiện của cái Tôi riêng gần như là một thách thức. Trong sáng tạo nghệ thuật, màu sắc cái Tôi của người nghệ sĩ càng quan trọng. Nó gần như là vấn đề sống còn của một tên tuổi, một sự nghiệp. Với một “bản ngã nguyên chất” và một ý thức mạnh mẽ về cái Tôi riêng, như một sự tuyên chiến với xu thế luôn muốn đánh tráo, đồng hoá của đời sống, Thạch Quỳ đã tạo được dấu ấn về cá tính.
Thơ có cái gì đó mà người ta muốn tìm hiểu. Nhưng cái đó là gì thì không ai biết nổi. Cái đã biết chưa phải là thơ. Nó là thế mà không phải là thế… (Còn tiếp )
Tên thật của Thạch Quỳ là Vương Đình Huấn. Anh sinh trưởng trong một gia đình khá đặc biệt. Theo gia phả, gốc gác tổ tiên anh là một ông quan Thượng thư Bộ Hình triều Minh, bị đuổi đánh phải rời Bắc Kinh dong buồm đến Hội An sống cuộc sống lưu vong. Ông tổ của dòng họ là một đứa trẻ được một người lính quân của Nguyễn Ánh nhặt đưa về xứ Nghệ cho làm con nuôi.
Ông nội Thạch Quỳ là người thông tuệ đặc biệt. Chính ông là người đã đem đến cho anh nguồn tri thức thâm thuý từ văn học cổ điển. Riêng ngọn gió mát lành của văn học dân gian thì Thạch Quỳ được hưởng từ bà nội và mẹ. Mẹ anh là cả một kho tàng văn học truyền miệng. Bà là con gái một nhà nho hào hoa phong nhã, học vấn cao nhất vùng.
Thạch Quỳ có nguồn gốc tổ tiên là người Hoa. Cái gốc tự nhiên này cũng là một tai họa vô hình ập xuống số phận của Thạch Quỳ, nhất là khi bài thơ Nói với con ra đời vào thời điểm 1979-1980. Riêng cái lý lịch gốc Hoa ( dù mấy đời và dòng máu Việt nhiều hơn) đã là vật cản vô biên, dù Thạch Quỳ có tài hoa đến mấy cũng không thể vượt qua nổi. Cho nên Thạch Quỳ luôn gặp khó khăn ở mọi nơi, mọi lúc là điều dễ hiểu.
Trí tuệ mẫn tiệp nơi những người đàn ông và tâm hồn phong phú nơi những người đàn bà của dòng họ, hay ngọn gió núi Quỳ và hạt cát làng Đông Bích, đã hun đúc nên con người nhà thơ có cái Tôi như đá rắn – Thạch Quỳ.
Mới học lớp 7 Thạch Quỳ đã viết truyện ngắn, làm thơ. Anh mơ ước thi vào trường đại học Tổng hợp để trở thành nhà nghiên cứu nhưng rồi lớn lên lại vào học ở một trường đại học sư phạm. Yêu văn học nhưng anh chọn lựa làm một thầy giáo dạy toán. Chàng học trò Thạch Quỳ ngày ấy có ý nghĩ độc đáo: văn thì tự đọc cũng có thể hiểu được nên có thể tự học, riêng toán không có thầy thì chịu, nên cần phải được học.
Thạch Quỳ kể ngày còn là sinh viên khoá 2 của trường Đại học Sư phạm Vinh, anh thường phải thức trong bóng tối để viết ra những suy nghĩ, những bài thơ bằng chiếc bút chì nhỏ, sáng ra mới mò mẫm chép lại.
Ngày ấy, để rèn luyện nếp sống tập thể, nhà trường bắt buộc tất cả các sinh viên phải nhất loạt cùng dậy lúc 5h và cùng ngủ lúc 11h, nếu ai không thực hiện được điều đó thì coi như vi phạm kỷ luật và bị khiển trách. Là một chàng trai lãng mạn, thông minh, đầy tài năng, chỉ thích đắm mình vào những suy tưởng, những giấc mơ của riêng mình, “phớt Ăng-lê” trước mọi chuyện, Thạch Quỳ trở thành một sinh viên “cá biệt”: thiếu ý thức kỷ luật, trốn thể dục tập thể buổi sáng, lên lớp muộn… và sớm trở thành người “có vấn đề” trong tác phong, lối sống.
Năm 1962, tốt nghiệp đại học, anh về một huyện nghèo dạy học và bắt đầu số phận không bình lặng của một kẻ lập thân mà không biết “tối hạ thị văn chương”. Là một giáo viên dạy giỏi nổi tiếng, được phân công làm chủ nhiệm, nhưng anh không phải là đoàn viên. Cách lên lớp, cách soạn giáo án, nhất là lối sống “tập thể” mang đầy tính hình thức đã làm Thạch Quỳ cảm thấy nhàm chán và bị ức chế.
Là người sâu sắc, nhạy cảm với các vấn đề của đời sống, lại có khiếu quan sát tinh tế, luôn muốn được chia sẻ, Thạch Quỳ đã hơn một lần tự làm khó cho bản thân bằng chính các phát hiện của mình. Ngày dạy học ở miền núi, có một gia đình học sinh của Thạch Quỳ xin ra khỏi Hợp tác. Ngày ấy ra khỏi Hợp tác xã là một chuyện tày trời, lý lịch sẽ có một vết đen và tương lai của cậu học sinh đó coi như mù mịt. Là giáo viên chủ nhiệm, anh có trách nhiệm phải tìm hiểu sự thật. Anh đến nhà và hỏi ông chủ của gia đình, một người Thổ: “Cụ nghĩ gì mà lại xin ra khỏi hợp tác xã?”, người đàn ông trả lời: “Ta như con gà! ta cũng muốn ở trong chuồng lắm chớ! Nhưng trong chuồng có con cáo, có ai bắt cáo cho mô mồ” (tiếng địa phương “mô mồ” nghĩa là “đâu”). Thấy ngộ nghĩnh, Thạch Quỳ đem kể cho bạn bè nghe và thế là anh bị coi như đã tuyên truyền, ủng hộ cho một thứ tư tưởng tiêu cực.
Một lần khác, khi về một huyện nhỏ, Thạch Quỳ thấy người ta phá đi cả một làng trù phú để đưa dân lên núi, cây nhãn cổ thụ của làng đội một mâm hoa vàng rực rỡ, bị máy húc đẩy đi hàng trăm mét nhưng không đổ, cứ đứng trơ mà chết, anh đã đem kể với mọi người và gọi đó là một “cây nhãn Từ Hải”, tình thế lại giống với câu chuyện trên.
Chính cái Tôi đời thường xù xì, không được vừa vặn với khuôn thước cho lắm đã làm nhiều người biết đến Thạch Quỳ từ rất sớm. Như người phải mặc chiếc áo hẹp với khổ của mình, anh cựa quậy, chật vật bức bối trước cuộc sống.
Một cái Tôi như đá rắn
Nhà thơ Thạch Quỳ, người đứng bên trái.
“Tôi” là một hình tượng bao trùm và cũng là ấn tượng mạnh mẽ nhất trong sáng tác của Thạch Quỳ. Đây không chỉ là cái tôi trữ tình toát lên đằng sau những sáng tạo nghệ thuật. Đây là cái tôi được thể hiện như một đối tượng trực tiếp, xuyên suốt của thơ. Dường như một “đường thẳng hình học” đã được thiết lập, nối từ nhà thơ đến độc giả.
“Tôi”mạnh mẽ, tỉnh táo, tự tin trực diện với người đọc:
“Tôi một nửa nam-mô .Một nửa a-men
Một phía ngóng trời, một phần ngóng đất
Thân thể tôi như chiếc cột ăng-ten
Vừa phát sóng, vừa tự mình rỉ rét” (Tự khúc mùa xuân);
“Không bé nhỏ tầm thường, không vĩ đại
Có thể vứt đi trong xó tối u buồn
Có thể đứng trên đôi chân vững chãi
Tôi một mình, tôi lớp lớp triều dâng
…Tôi muối mặn với cuộc đời dân dã
Tôi áo cơm no đói với ngày thường” (Tôi).
“Tôi”thẳng thắn, lạnh lùng: “Từng đối mặt với bạo tàn, chết chóc / máu tuôn trào, sẹo đóng tự trong hồn / Tôi mệt mỏi đến không còn sợ chết / nhưng vẫn lòng ham sống thật tôi hơn” (Tôi); “Chiêm bao thấy mộ mình không mọc cỏ / riêng điều này là nỗi sợ của tôi” (Bên lề cỏ Uýtman); “Cái mất đi hú gọi không về / cái còn lại trơ mòn sỏi đá / nửa phần đời mắt chong đèn xó tối / nửa phần đời khép mắt ngóng ngày lên” (Nửa phần đời);
“Tôi”một sự nếm trải đến tận cùng thân phận, sắc sảo và chát chúa trong những cảm nhận về đời sống: “Cái nghèo / Mày núp trong vầng trán mẹ răn reo / Mày ẩn dưới gót chân em nứt nẻ / Mày luồn lọt qua trăm ngàn mối chỉ / để nằm trong mảnh vá áo con ta / mày sinh ra khi chưa sinh ta” (Cái nghèo).
“Tôi”trong thất vọng kiếm tìm vẫn căng tràn nhiệt huyết: “Cuối cùng vẫn một mình em / Nhưng anh đã khô kiệt cùng đá sỏi / Nhưng anh đã kêu kiệt cùng tiếng gọi / Nhưng anh đã mơ cạn kiệt giấc mơ / Cuối cùng vẫn một mình em / Nhưng em ở nơi đâu ? em ở” (Cuối cùng vẫn một mình em).
“Tôi”khát khao muốn được dâng hiến, được thấu thị: “Và nếu cần tôi sẽ hoá thân tôi / Thành thuốc đắng, thành chanh chua, quả ngọt / Thành chi nữa… trời ơi tôi muốn biết / Phút lặng im bạn đã muốn mong gì…”
Một cái Tôi rắn, lạnh, đầy ứ khát vọng… một cái Tôi không nguôi yên, không cách gì xoa dịu: “Tôi gọi hồn về trong những câu thơ / Giam trong ngục tối con chữ / Hồn ơi, hồn hãy ở tù / Để xác tôi yên giấc ngủ”.
Thạch Quỳ kể những ngày đầu làm thơ, anh tự đề ra cho mình một bảng Cấm: Cấm viết chữ người khác đã viết; Cấm viết ý nghĩ người khác đã nghĩ; Cấm viết mông lung không dính líu đến sự thật; Cấm viết sự thật trần trụi không cảm xúc, thiếu thẩm mỹ.
Dưới ngòi bút của Thạch Quỳ các khái niệm cũng trở thành vật sống: “Đã thấy sắc hồng cười trong gạch vụn”; “Cái nghèo đội nón cời và bước đi từng bước / cười sưa răng trên miệng ấm sứt vòi”… và những câu thơ toát lên thứ âm nhạc nghe thật lạ: “Thương nhớ mười năm loang như khói / có thể thành mây, có thể mất hút đi trong núi / nhớ chi mà lặng bên bờ / con chèo bẻo về bay trong mưa và lúc đó đầu tôi ngoảnh lại / hoa dứa dại bên bờ đang lặng lẽ bay…” (Hoa Dứa); “Con người tự biết mình / trong trái tim cá thể / chạy trốn sự cô lẻ / bằng tình yêu hai người / hạnh phúc đơn giản vậy? / Hạnh phúc thì thế thôi !” (Không đề)…
Cá tính hay tài năng?… chỉ biết là với sự thể hiện này, Thạch Quỳ đã có được dấu ấn của cái Tôi riêng. Trong đời sống xã hội hiện đại, một xã hội nghiền nát cái Tôi cá thể trong tính dây chuyền, tính công nghệ, trong sự giao lưu, hoà nhập của nó, biểu hiện của cái Tôi riêng gần như là một thách thức. Trong sáng tạo nghệ thuật, màu sắc cái Tôi của người nghệ sĩ càng quan trọng. Nó gần như là vấn đề sống còn của một tên tuổi, một sự nghiệp. Với một “bản ngã nguyên chất” và một ý thức mạnh mẽ về cái Tôi riêng, như một sự tuyên chiến với xu thế luôn muốn đánh tráo, đồng hoá của đời sống, Thạch Quỳ đã tạo được dấu ấn về cá tính.
Thơ có cái gì đó mà người ta muốn tìm hiểu. Nhưng cái đó là gì thì không ai biết nổi. Cái đã biết chưa phải là thơ. Nó là thế mà không phải là thế… (Còn tiếp )
Comment